Câu thơ tài hoa được nhiều người tìm đọc nhất hôm nay 15/02/2026

Lên non giáp mặt cùng mây
Mở vòng tay gặp vòng tay của mình
Phải mây phiêu lãng vô tình
Hay mình quên mất nỗi mình phù vân ?

Mây - Nguyễn Bình Nam

Top 20 bài thơ có tổng lượt xem nhiều nhất hôm nay 15/02/2026

Top status bựa hài hước nhất cho giới trẻ câu like trên Facebook

Top status bựa hài hước nhất cho giới trẻ câu like sống ảo trên Facebook

Top status bựa hài hước luôn thu hút được sự quan tâm mạnh mẽ từ giới trẻ nhất là những thánh câu like facebook. Những stt này không chỉ mang những ý nghĩa sâu sắc mà còn xen lẫn vào đó chút hài hước gây tiếng cười sảng khoái cho người đọc. Bởi vậy nên những thánh sống ảo luôn săn lùng tìm kiếm những status độc đáo nhất để đi liền với những bức hình xinh lung linh của mình. Nếu các bạn đang ” cụt ý tưởng ” thì hãy thử tham khảo những gợi ý ngay sau đây của chúng tôi nhé!

Nội Dung

Bên cạnh những status dài gây nhàm chán thì những status ngắn gọn sẽ là một sự lựa chọn tuyệt vời dành cho những bạn trẻ ” sống ảo ”. Nào! Hãy cùng phongnguyet.info khám phá những status được tìm kiếm nhiều nhất thời gian gần đây nhé!

1. Hạnh phúc không nằm ở tiền mà là ở số lượng của nó.

2. Không sợ người khác nói xấu mình,chỉ sợ lúc nó nói mình không nghe thấy.

3. Cuộc đời là vở kịch dài. Ta là vai chính cả hài lẫn bi…

4. Tiền là giấy – Thấy là lấy

5. Đừng bao giờ đua đòi bồ bịch khi mà không ai yêu bạn cả!

6. Nghèo mà xài sang để sau này có giàu bớt bỡ ngỡ.

7. Ánh sáng đi trước âm thanh, vì thế, con người ta trông có vẻ thông minh cho đến khi ta nghe họ phát biểu!

Top status bựa hài hước nhất cho giới trẻ câu like sống ảo trên Facebook

8. Không có gì tiết kiệm thời gian và tiền bạc hơn là yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên.

9. Lương tâm là cái gì đó cảm thấy tổn thương trong khi các phần khác của cơ thể cảm thấy dễ chịu.

10. Xa xa nhìn giống Thúy Kiều, gần gần mới biết người yêu Chí Phèo.

11. Đằng sau sự thành công của một người đàn ông luôn có hình bóng của một người đàn bà và đằng sau sự thất bại của một người đan ông là một người đàn bà thật sự.

12. Nếu tình yêu là ánh sáng thì hôn nhân là hoá đơn tiền điện!

13. Liều thuốc tốt nhất dành cho bạn là cười. Nhưng khi bạn cười mà không có lí do thì lúc đó bạn lại phải cần đến thuốc.

14. Nếu ngày ấy không đi về phía anh, không gặp anh…giờ này em đã giàu.

15. Tiền đi có nhớ ví không? Ví thì há mõm ngồi trông tiền về. Tiền đi chẳng giữ lời thề. Đi rồi đi mãi có về nữa không?

16. Ở bên anh, em bình yên đến lạ. Xa anh, em thấy lạ nhưng cũng khá bình yên.

17. Con đường ngắn nhất để đi từ một trái tim đến một trái tim là con đường truyền máu.

18. Một người vợ tốt luôn tha thứ cho chồng khi cô ta sai.

19. Tình yêu là bất tử, chỉ có người yêu là thay đổi.

20. Em không phải là “OMO chuyên gia giặt tẩy” để có thể đánh bật đc những chuyện buồn và chuyện bực mình… Em cũng không muốn là Comfort hay Downy thơm lâu, suốt ngày đeo bám lấy những chuyện không đâu.

Top status bựa hài hước nhất cho giới trẻ câu like sống ảo trên Facebook

Chúng ta không khó để bắt gặp những status hài bựa câu like trên facebook. Không những độc đáo mà những status này lại tạo cảm giác hài hước khiến người đọc trở nên vui vẻ. Bởi thế nên chẳng ai nỡ từ chối dành một like cho bạn cả. Hãy chọn cho mình một status thích hợp nhất nhé!

1. Chúng ta yêu súc vật, vì….thịt chúng rất ngon.

2. Người yêu không tự sinh ra và cũng không tự mất đi, mà nó chỉ chuyển từ tay thằng này sang tay thằng khác!!!

3.Dụng binh không gì quý bằng thần tốc, Dụng đàn bà không gì quý bằng tâng bốc.

4. Đằng sau người đàn ông thành công luôn luôn có một người phụ nữ……….nói rằng anh ta sẽ chẳng bao giờ làm được điều gì nên hồn cả.!!

5. Ăn chọn nơi, chơi chọn hàng, lang thang chọn địa điểm.

6. Những cái hôn vụng trộm bao giờ cũng ngọt ngào nhất và bao giờ cũng tiềm ẩn những cái tát nảy đom đóm mắt nhất.

7. Để yêu một người đã khó, để đá nó càng khó hơn.

8. Đá bồ là một nghệ thuật và người đá bồ cũng là một nghệ sĩ.

9. Tình bạn sau tình yêu là phát đạn ân huệ cuả kẻ tử tù.

10. Đèn nhà ai nấy rạng, vợ thằng bạn thì cố mà chăm.

11. Da thịt đàn bà được nuôi dưỡng bằng âu yếm, lòng dạ đàn bà được nuôi dưỡng bằng kinh phí.

12. Vì tương lai con em chúng ta. Đánh chết cha con em chúng nó!!

13. Không nói chuyện trong khi hôn.

14. Học hành như cá kho tiêu, kho nhiều thì mặn học nhiều thì ngu.

15. Cá không ăn muối cá ươn. Con không ăn muối….thiếu iot rồi con ơi.

16. Tiền không thành vấn đề, vấn đề là không có tiền.

17. Trăm năm kiều vẫn là kiều. Nên lần đầu khó là điều tất nhiên.

Top status bựa hài hước nhất cho giới trẻ câu like sống ảo trên Facebook

18. Bạn đừng đi tìm người hoàn thiện, vì không có ai hoàn thiện cả. Chỉ khi bạn yêu họ, họ mới hoàn thiện.

19. Hoa mọc trên tuyết vẫn tươi, người trong đau khổ vẫn cười là anh.

20. Dù ai nói ngả nói nghiêng, chàng lười vẫn cứ triền miên chép bài.

21. Yêu nhau trái ấu cũng tròn, ghét nhau đôi dép dẫu mòn cũng chia.

22. Yêu em mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua
Nhưng giờ bận đánh bi-da
Thôi em về bộ vì nhà đâu xa.

23. Học làm chi, thi làm gì Tú Xương còn rớt,huống chi là mình

24. Có công mài sắt có ngày…… chai tay

25. Phương châm học tập của tuổi trẻ hiện đại bây giờ là : nắng ngủ, mưa nghỉ, râm mát đi chơi

Những status độc và bựa luôn được giới trẻ sục sôi tìm kiếm bởi đây sẽ là một cần câu like hiệu quả nhất dành cho các bạn. Nếu bạn đang muốn tặng lượt theo dõi facebook thì đây sẽ là một sự lựa chọn tuyệt vời đấy!

1. Hạnh phúc lấy đéo đâu ra màu hồng. Có qua có lại làm đéo gì có ai cho không.

2. Yêu là phải nói cũng như đói là phải ăn

3. Khi chia tay em tưởng có thể quên đi phần nào quá khứ về anh … ai ngờ. Em quên sạch, vl thặc

4. Mình đã từng đôi bàn tay trắng làm lên tất cả. Đến bây giờ mình đã có một khoản nợ khổng lồ

5. Đẹp chỉ để yêu, yêu kiều chỉ để ngắm. Nhưng chân ngắn mà đằm thắm … thì say đắm cả đời.

6. Rượu là một chất có màu, có mùi, có vị. Khi tác dụng với thịt chó lá mơ. Sẽ gây ra hiện tượng kết tủa bạo lực và bay hơi nhân cách.

Top status bựa hài hước nhất cho giới trẻ câu like sống ảo trên Facebook

7. Ở đời không phải cứ thân nhau là bạn. Vì còn có nhiêu đứa khốn nạn gắn nhãn bạn thân

8. Bạn ghét tôi ư ???? Xin lỗi chứ tôi cũng có ưa bạn đéo đâu

9. Độc thân không phải là ế, mà độc thân là chờ người tử tế để yêu

10. Thuê bao quí khách vừa gọi suốt đời không liên lạc được. Xin quí khách vui lòng: Xóa số, Gạch tên, Lãng quên tất cả

11. Người yêu cũ như tờ tiền rơi vào đống cứt không nhặt thì tiếc mà nhặt thì buồn nôn :))))))

12. Trong điền kinh thì tốt nhất là vừa chạy vừa … rải đinh

13. Còn sống, còn răng thì còn cười :))
Cười cho đời nó vui Khóc làm gì để đời giống đám tang?

14. Đã xấu mà còn xa. Đã si đa mà còn đòi đi hiến máu.

15. Hút thuốc không phải là ngầu, hút thuốc là để đi cầu đỡ hôi

16. Giữa bao nhiêu người văn minh và hiểu biết…
Vẫn có những bầy óc ngắn và não ít xoắn đến thảm thương :))

17. Giang hồ hiểm ác anh không sợ, chỉ sợ đường về THẤY bóng em.

18. Tao là vậy đó ^^
Sống không dựa dẫm vào ai cả : )
Bằng chính đôi chân của mình =)))
Ai như mày ;
Sống bằng cách ăn bám trai : ))
Tao KHINH :-jj

19. Thà khốn nạn công khai … Còn hơn giả nai thánh thiện

20. Một chữ là Best Friend.
Chữ thứ 2 là Nhỏ Nhen và Giả Tạo.
Cần Tao là Tao có.
Và biến như Gió khi tao Cần.

21. Sống Cho đáng ; ))
Đừng vì mù quán mà mất đi tình bạn
Tiếp Xúc thì hiểu Không chơi thì đừng PHÁT BIỂU :-j

22. Chó Hoang mà cứ nghĩ mình là Bà Hoàng của xã hội !
Mèo Ghẻ mà cứ tưởng mình là kẻ Bề Trên của thiên hạ.

23. Tao khôg HOT Rất BÌNH THƯỜNG Mày ạ
Không TẦM THƯỜNG Chả TỰ CAO Khôg SIÊU SAO Chẳng HỔ BÁO
Nhưng rất là CÁO và bố láo đúg kiểu =))

24. Cóc, Nhái, Ếch Ương mà hoang tưởng mình là Mị Nương chân dài =))

25. Chim chích mà đòi xích míc với Chim Ưng … Tinh tinh mà đòi xinh hơn Khỉ Đột =))

Top status bựa hài hước nhất cho giới trẻ câu like sống ảo trên Facebook

Những stt bựa thả thính đặc sắc và ấn tượng luôn là nơi mà các bạn trẻ tìm đến để tìm kiếm nửa yêu thương hay đơn giản là để xua tan đi những bộn bề cuộc sống. Hãy cùng nhau theo dõi ngay bây giờ nhé các bạn!

+ Ế là vì quá tử tế. Ế là vì không đủ kinh tế để khống chế tình yêu.

+ Ế là xu thế mà ai cũng muốn thế.

+ Trai xưa liều chết sa trường. Trai nay liều chết trên giường mỹ nhân.

+ Gái xưa chạm nhẹ bảo dê. Gái nay chạm nhẹ… “Chưa phê anh à!”.

+ Cuộc tình dù đúng dù sai… Chuyện phá thai vẫn là của bác sĩ.

+ Đằng sau một người đàn ông thất bạn – là một người đàn bà xúi dại.
Đằng sau một người đàn bà xúi dại – là một thằng thứ 3 vô cùng lợi hại.

+ Có một số đứa con gái tự cho mình là Nắng
Rồi cho mình cái quyền được Chói Chang.

+ Nhiều lúc muốn yêu… Nhưng kiêu không thèm nói.

+ Tiệc tùng với đồng nghiệp về nhà muộn, vợ không cho vào phòng bắt ngủ sofa.
Tôi điên tiết quát: “Nhà tôi, tôi thích ngủ đâu thì ngủ. Không ngủ sofa đấy, ngủ đất đã làm sao?”.

+ Không phải bạn ế, mà là một nửa của bạn chưa đến mà thôi.

+ Đến khi nào trái đất ngừng quay, mây ngừng bay, cô dâu 8 tuổi ngừng phát sóng,
Thì khi đó, anh ngừng yêu em.

+ Có một việc mà chỉ có khi kết hôn bạn mới làm được, đó là LY DỊ.

+ Trong tình yêu Ghen là tai nạn, trong tình bạn tự ái là sai lầm, nếu thần chết là kẻ thù của cuộc sống thì phản bội là thuốc độc của tình yêu

+ Hồi nhỏ cứ nghĩ ngủ với nhau là có con, lớn lên rồi mới biết thức với nhau mới thực sự làm ra con người

+ Chết vì gái là cái chết êm ái, chết vì gái là cái chết thoải mái, chết vì gái là cái chết không tê tái, thằng nào không chết vì gái là một thằng … ÁI.

+ Chết vì người phụ nữ bạn yêu thì dễ hơn sống chung với họ.

+ Tình yêu sẽ mãi mãi trường tồn, chỉ có người yêu là thay đổi.

+ Yêu nhau thì thề sống chết cùng nhau. Ghét nhau thì thề sống chết với nhau.

+ Truyền máu là con đướng ngắn nhất đi đến trái tim đối phương.

+ Nếu có yêu ngay cái nhìn đầu tiên thì bạn sẽ đỡ tốn tiền và thời gian.

+ Nếu bạn gái bạn không biết Kim Tan. Hãy cưới ngay người đó.

+ Trái tim em sẽ mở cửa 2 lần. Đón anh vào và tống cổ anh đi.

+ Yêu nhau trong sáng, phang nhau trong tối.

+ Sống chết có nhau, ốm đau thì ai nấy tự lo.

+ Không có người yêu thật bình yên,
Chẳng cần mua sắm đỡ tốn tiền.
Ra đường khỏi lo phải tốn tiền,
Ở nhà nằm ngủ sướng như tiên.

+ Người yêu là phù du, thầy u mới là vĩnh hằng.

+ Sai phải sửa như chửa phải đẻ.

+ Em à! Lấy anh nhé, tất cả mọi thứ sau này anh đều có thể nhường hết cho em. Từ nấu cơm, rửa chén, giặt đồ, chăm con này, anh nhường hết!

+ Tình yêu là phải giấu thật sâu, sơ sảy rơi mất tìm đâu thấy tình.

+ Luật yêu của các thanh niên thời nay:
Nhìn ảnh face, thấy đẹp —-> kết bạn —-> inbox tán tỉnh —-> Tán tỉnh thành công —-> tỏ tình —-> được đồng ý thì chính thức yêu đương.

+ Yêu một anh chàng béo ú, em sẽ không phải căng thẳng, lo lắng hôm nay mình ăn món này, uống thứ kia liệu rằng có tăng cân hay không? Không phải lo nghĩ tới những ngấn mỡ thừa ở eo, đùi, chân vì bên cạnh em đã có một “Chiếc thùng phi di động vô cùng đáng yêu” luôn đồng hành cùng em rồi.

+ Không yêu cũng chẳng chết được.

+ Ngôn tình dạy chúng ta không cần phải học hành, không cần quá xinh đẹp, chỉ cần bại não theo 1 cách riêng, soái ca sẽ đến bên bạn.

+ Cố lừa 1 anh chàng lên giường làm tình 1 đêm vs anh ta và rồi anh ta sẽ yêu say đắm bạn.

+ “Chỉ mình em” có nghĩa là ngoài em ra thỉnh thoảng sẽ còn vài em khác nữa.

+ “Em là mạng sống của anh” còn có nghĩa là “Em chả là cái đéo gì cả”.

+ Anh không thể yêu ai được nữa còn có nghĩa là Em yên tâm, chia tay em anh sẽ còn yêu được thêm vài con nữa.

+ Tôi đi lên từ hai bàn tay trắng, rồi gây dựng một khoản nợ khổng lồ.

+ Không có người phụ nữ xấu, chỉ có người phụ nữ…không đẹp.

+ Bom nguyên tử được phát mình… vì công dụng hủy diệt tất cả các phát minh.

+ Không sợ trời – không sợ đất

+ Còn lại thì cái éo gì cũng sợ.

+ Xã hội cần có thêm những thằng lừa đảo…Để loại bỏ bớt những thằng ngu đi!!!

+ Xinh là một lợi thế, ế là một kĩ năng.

+ Mình không có lợi thế nhưng lại có dư thừa kĩ năng.

+ Tận cùng của sự ngu dốt là đối xử quá tốt với nhiều người.

Khi đàn ông im lặng là họ đang suy nghĩ

Trên đây là những Status bựa hài hước gây sốt trong giới trẻ thời gian gần đây. hãy nhanh tay lựa chọn cho mình những status độc đáo nhất để câu like trên facebook các bạn nhé! Đồng hành cùng phongnguyet.info để cập nhật những bài viết hấp dẫn nhất! Cảm ơn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Chế Ông Đốc Học

Chế Ông Đốc Học

Chế Ông Đốc Học (Tú Xương)

Ông về đốc học đã bao lâu,
Cờ bạc rong chơi rặt một màu!
Học trò chúng nó tội gì thế
Để đến cho ông vớ được đầu ?

Đốc học Nam Định lúc bấy giờ.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Chế Ông Đốc Học” của tác giả Trần Tế Xương. Thuộc danh mục Thơ Tú Xương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

CHÀO XUÂN TÂN SỬU

Bông vạn thọ vườn nhà ai đua nở
Hương ngọt ngào theo gió cuốn muôn phương
Còn mấy bữa Đông cuối cứ vấn vương
Nàng Xuân đến, ươm nồng nàn sắc thắm

Mai Đông xa … hết những ngày rét đậm
Cả đất trời rộn rã đón Xuân sang
Đào khoe sắc giữa chợ Tết xênh xang
Mùi khói bếp nhà ai đang nấu bánh

Chiều cuối năm ngẩn ngơ ngồi nhặt nhạnh
Những buồn vui, những hờn – tủi – cay – nồng
Chờ nắng vàng trải mọi thứ ra hong
Rồi gói ghém cất theo năm đã cũ

Mai Xuân sang có đôi điều nhắn nhủ
Tới người thương , tới bạn hữu xa gần
Tân Sửu về luôn hạnh phúc thành công
Ai ai cũng gặp muôn phần may mắn

Cả một năm khỏe – vui và tinh tấn
Vạn sự thành
như ý mình đợi mong!

Đồng Ánh Liễu

Bụng Lân Tài

Bụng Lân Tài

Bụng Lân Tài (Huy Cận)

Thế giới mông mênh sống chẳng cùng
Cái tài âu cũng chỗ vui chung
Hỡi ai làm đẹp, làm hay đó
Chum lại cùng nhen lửa nấu nung

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Bụng Lân Tài” của tác giả Cù Huy Cận. Thuộc danh mục Thơ Huy Cận trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Nhớ Vĩnh Kim

Nhớ Vĩnh Kim

Nhớ Vĩnh Kim (Xuân Diệu)

Hỡi lòng ta nhớ Vĩnh Kim
Vừng trăng Chợ Giữa cái đêm buông thuyền
Rầm rì dừa nước hai bên
Bờ sông vắng lặng, ấm hiền lòng sông
Chúng ta trẻ lắm, hồn chung
Say thơ, mê nhạc đắm cùng thiên nhiên
Ấy đêm nhạc trổi trong thuyền
Giọng ca nghệ sĩ, tiếng huyền tài năng
Dưới trăng mời chén tào thưng
Mà ba mươi lẻ năm chừng đã qua
Bạn ơi tổ quốc chúng ta
Cùng chung nhau đó mãi xa cách gì
Bắt tay thật chặt Văn Khê
Hẹn nhau Chợ Giữa ta về ngày mai
Rằng nghe nổi tiếng cầm đài
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ

23/4/1976

Bài về quê hương, đất nước các bạn vừa xem là bài “Nhớ Vĩnh Kim” của tác giả Ngô Xuân Diệu. Thuộc danh mục Thơ Xuân Diệu trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Top 10 Bài thơ hay chia tay tháng ba

Top 10 Bài thơ hay chia tay tháng ba

Mỗi một kết thúc đã hàm chứa sẵn trong đó một sự bắt đầu, như biểu thị của một vòng tròn nhân duyên bất tận của đất trời, cũng như của lòng người; như hạt giống chết đi không phải bị tan mất vào cõi hư vô, mà là để hoài thai chuẩn bị cho ra đời một chùm hạt mới, theo quy trình mặc định nối giống muôn đời… Cuối Xuân – Đầu Hạ. Cái nhịp vang vang của thiên nhiên muôn thuở nhẹ nhè đập vào cảm xúc của thi nhân, để bật ra biết mấy vần thơ THÁNG BA mướt mải – trong tâm hồn thi sĩ. Tháng ba đã hết để lại một chút vấn vương nuối tiếc. phongnguyet.info xin giới thiệu những bài thơ hay viết chia tay tháng ba.

Bài thơ: CHIA TAY THÁNG BA – Tony Bui

CHIA TAY THÁNG BA
Thơ : Tony Bui

Tháng ba để lại trong nhau,
Cho thắm nỗi nhớ cho câu thơ buồn !

Đỏ màu hoa gạo sầu tuôn
Gieo vần ghép chữ thơ buồn vấn vương

Xa em thao thức canh trường
Tình yêu khắc chạm nhớ thương em nhiều

Em là giọt nắng hoang chiều
Câu thơ buồn vợi, bao điều mộng mơ.

Tình em là một bài thơ
Đong đầy kỷ niệm bên bờ sông tương

Tháng ba nỗi nhớ canh trường
Cho ta cứ mãi vấn vương về người

Hoa gạo kỷ niệm một thời
Sắc tàn phai nhạt chơi vơi ngày dài?

Một đời chất chưa u hoài
Sầu đong dồn lại bao ngày tìm nhau

Để ta giữ lại sắc màu
Tình em hoa gạo bền lâu trọn đời…

Warszawa
31/03/2017
( Tình Khúc Tháng Ba )

Bài thơ: TẠM BIỆT THÁNG BA – Hoàng Minh Tuấn

TẠM BIỆT THÁNG BA
Thơ: Hoàng Minh Tuấn

Xuân đang chín, xuân còn đang níu giữ,
Nên tháng ba chẳng nỡ vội bỏ đi,
Hoa tháng ba đang độ tuổi xuân thì,
Còn yêu lắm vội gì sang tháng mới!

Nhưng thời gian chẳng khi nào đứng đợi,
Gió chuyển mùa cố gọi những cơn mưa,
Cây thay lá, trút bỏ những cánh hoa,
Gọi hạ về … tháng ba ơi … đừng tiếc!

Dẫu tháng ba hoa còn nhiều da diết,
Dẫu trong lòng nhớ nét đẹp tháng ba,
Nhưng phía trước nắng hạ sắp tràn qua,
Tháng ba ơi, hãy tạm xa rời nhé!

Chỉ một năm, nào có nhiều đâu nhỉ,
Tháng ba tinh khôi rực rỡ lại về,
Lại đắm mình trong cảnh sắc đê mê,
Nhưng bây giờ … tháng ba ơi … tạm biệt!

Hà nội, 27/3/2019

Bài thơ: Một mình – Trần Thanh Nhàn 

Một mình

Trần Thanh Nhàn

Ta ngồi thả nắng lên cao
Thả khao khát lên bầu trời xanh ngắt
Thả ưu tư vào khúc ca dìu dặt
Thả ánh mắt nhìn vào một sắc hoa…

Ta ngồi đếm nốt tháng ba
Gọi hoa loa kèn trở về trên phố
Ngập không gian trắng tinh khôi nỗi nhớ
Hanh hao vàng nắng mới gọi tháng tư
Ps: Tạm biệt tháng 3!
HCM 27.3.19
Tg: Thanh Nhàn

Bài thơ: CHIA TAY THÁNG 3 – Hong Vu

CHIA TAY THÁNG 3
Thơ Hong Vu

Chào em nhé tháng ba ơi
Cơn mưa nào ướt lòng tôi thế này
Tháng ba thổi chiếc lá gầy
Đậu lên song cửa khi ngày vừa sang
Về đâu ngọn gió lang thang
Hát gì lũ sẻ ríu ran bên thềm
Giọt sương đọng ngọn cỏ mềm
Lanh canh chuông gió, êm đềm ngày trôi
Chào em nhé tháng ba ơi
Em đi để vạt nắng rơi cuối ngày
Nâng tàn nắng ấm trên tay
Tôi yêu, yêu lắm những giây phút này
Nụ kèn nở ngát hương say
Ai qua tà áo trắng mây dịu dàng
Rung trong tim những cung đàn
Tháng tư đang thả lá vàng ngoài hiên.

Bài thơ: VẦN GIEO TÌNH TỰ THÁNG BA – Hoàng Chẩm

VẦN GIEO TÌNH TỰ THÁNG BA
Hoàng Chẩm

Người đàn bà hát khúc tình ca
Tháng ba
Mùa yêu đơm trái ngọt.
Bên thềm hoa
quên vòng đời hao khuyết
Như ru vầng trăng mở cánh cửa phôi pha

Người đàn bà nhớ ai?
Tháng ba
cuốn xô nhau dậy sóng
Lời thì thầm từng đêm
dấu ái ngọt mềm
Mong chia nhau vần thương vần nhớ
Khúc yêu như đầu đời …
tri âm ru êm

Người đàn bà
viết cho tháng ba
Lòng thức dậy như nửa đời…
yên ngủ
Chợt cơ hồ mênh mông
lời ru khuya sớm

Tạc vào tim một bóng dáng miền xa.

Bài thơ: Giấu tháng ba – Phạm Quang Thu 

Giấu tháng ba

Phạm Quang Thu

Em giấu hoa bưởi của tôi đi đâu!
Tháng ba ngỡ ngàng đắm sâu mùa nhớ
Một tháng ba tim tigon rạn vỡ
Và tháng ba không nỡ nói chia tay

Hỡi tháng ba mùa đã hao gầy
Bứt rứt bàn tay, cay cay sống mũi
Một nỗi buồn cong vênh như sám hối
Giấu Cầu vồng đang đợi một mùa mưa

Em giấu tháng Ba vào bữa giao mùa
Nắng vừa lên lưa thưa hoa nắng
Chút khờ dại của mối tình câm lặng
Sau hẹn hò ‘muối mặn gừng cay”

Bài thơ: THÁNG BA - Phạm Tân Dân

THÁNG BA

Phạm Tân Dân

Ngày ba tháng bảy mưa xa
Mẹ tôi thường nói tháng ba khổ đòi
Lúa bồ đã hết sạch rồi
Khoai lang đương nhãi ngô thời chưa bông

Nhọc nhằn ra bãi ngoài sông
Tập tàng rau má mót trông những bờ
Đêm nằm thao thức đắn đo
Đói lòng rau cháo thương lo mẹ nghèo

Tháng ba em cất reo neo
Nỗi thương nhớ mẹ bọt bèo chiều thôn
Hương thơm viên bưởi thành tròn
Một vòng luẩn quẩn lối mòn tháng ba.

Bài thơ: ANH MUỐN LÀM – Phạm Hồng Giang 

ANH MUỐN LÀM
Phạm Hồng Giang

Anh muốn làm hạt nắng muộn tháng ba
Cứ mong manh cứ nhạt nhoà vậy nhé
Để hôn lên bờ môi hồng khe khẽ
Hanh hao chiều nhè nhẹ tóc mây vương.

Anh muốn làm một hạt nắng ẩm ương
Phút bên em cũng dường như khờ dại
Trái tim cằn trót vì ai khắc khoải
Nửa đời còn mê mải với tình si.

Anh muốn làm cơn gió nhẹ thầm thì
Ghé vành tai nói những gì thủ thỉ
Để cho em thôi không còn suy nghĩ
Thôi không còn bì tị với hờn ghen.

Anh muốn làm cơn gió để bon chen
Giữa cuộc sống bao lấn chèn lừa lọc
Để em quên tháng năm dài mệt nhọc
Mình bên nhau săn sóc giấc mơ hồng.

Anh muốn làm con sóng giữa biển đông
Ngày tháng mãi…
Hôn môi hồng…
Bờ cát!
30/03/2019 Hồng Giang.

Bài thơ: Em cất tháng ba vào nỗi nhớ – Nguyễn Lan Hương 

Em cất tháng ba vào nỗi nhớ
Thơ Nguyễn Lan Hương

Em giấu kĩ tháng ba vào bông hoa bưởi
E ấp hương thơm khiến đi ở không đành
Em cất tháng ba vào khoảng trời xanh
Đến cái rét cũng biết
thương nàng Bân quay về thử áo

Có nỗi buồn không tên rơi vào tháng ba khờ khạo
Em chẳng thể bắt đền những ngày tháng đã qua
Đành trở về nhặt nhạnh hương sắc tháng ba
Nơi gốc mộc miên đỏ ối.

Ừ anh nhỉ
tháng ba đâu có lỗi
Để nỗi buồn cong vênh
Em đã tự mình ngã vào chốn chông chênh
Rồi lại giận hờn vô cớ.

Thôi anh ạ,
em cất tháng ba vào nỗi nhớ
Hẹn mùa sau!

Bài thơ: THÁNG BA TRONG EM – Hạ Như Trần

THÁNG BA TRONG EM

Hạ Như Trần

Ta bây giờ đã thật sự mất nhau
Lời êm ái ban đầu không còn nữa
Ta cứ bước mà không cần lần lựa
Xoá những gì của cái thuở ban xưa

Tình đôi ta như gió thoảng mây đưa
Em đau lắm, chút duyên thừa anh tặng
Rồi chỉ biết gục đầu trong câm lặng
Tình không còn, nghĩa nặng cũng buông lơi

“Lén nhìn anh” em không thốt thành lời
Tháng ba về em chơi vơi đến lạ
Vương khóe mắt dòng châu rơi lả chả
Bởi với em người vội đã phôi phai

Ngó đau thương ai nấy cũng đều sai
Người phân vân trái tim yêu ngần ngại
“Chắc không thể thêm một lần yêu lại”
Em ngóng về
nơi xa ngái
có anh.

Nắng Hạ về sớm nên quyện lẫn với hương sắc còn sót lại ít nhiều của hồn Xuân phả nồng đượm lên trang giấy của lòng, với những điểm xuyết hạt tím li ti của huyền mơ và lãng mạn, khiến nguồn thơ chùng xuống, trầm bổng trong tiếng đồng vọng xa xăm, mê ảo của miền nhớ lượn về.

Top 10 Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” của Hạ Tri Chương

Top 10 Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” của Hạ Tri Chương

Hạ Tri Chương (659-744) đỗ tiến sĩ năm 695, sinh sống, học tập và làm quan trên 50 năm ở kinh đô Trường An, rất được Đường Huyền Tông vị nể. Sau đó, ông xin từ quan về làm đạo sĩ. Ông là bạn vong niên của thi hào Lí Bạch, thích uống rượu, tính tình hào phóng. Đến nay, ông còn để lại 20 bài thơ. Bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” được viết nhân lần tác giả tình cờ về thăm quê vào năm 744, khi ông đã 86 tuổi. Bài thơ thể hiện một cách chân thực mà sâu sắc, hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình yêu quê hương thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân trở về quê cũ. Mời các bạn tham khảo một số bài văn phân tích tác phẩm đã được phongnguyet.info tổng hợp trong bài viết sau đây.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 1

Bài thơ Hồi hương ngẫu thư là một bài thơ hay gợi cho ta nhiều xúc động. Tác giả sử dụng tiểu đối thành công, tạo nên những vần thơ hàm súc, gợi cho người đọc bao liên tưởng về nỗi lòng của khách li hương. Bài thơ là tiếng lòng của Hạ Tri Chương, yêu quê hương tha thiết, thuỷ chung, thấm đẫm trên từng vần thơ.

Hạ Tri Chương một thi sĩ lớn đời Đường. Ông sinh (659 – 744) quê ở Cối Khê – Chiết Giang – Trung Quốc. Ông đậu tiến sĩ năm 36 tuổi, là đại quan của triều Đường được nhà Vua và quần thần rất trọng vọng. Thơ ông chan chứa lòng yêu quê hương đất nước. Một trong những bài thơ đặc sắc về chủ đề này được người đời truyền tụng là Hồi hương ngẫu thư:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi

Hương âm vô cải, mấn mao tồi

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?

Cũng như Lý Bạch, Hạ Tri Chương xa quê từ lúc còn thơ bé. Quê hương với bao kỉ niệm thân thương, gần gũi với tuổi thơ ấu của mỗi người. Có lẽ chẳng mấy ai muốn xa quê, nơi đã gắn bó thành máu, thành hồn. Mở đầu bài thơ bằng thủ pháp tiểu đối đã nêu lên một cảnh ngộ: tác giả phải từ biệt gia đình từ lúc ấu thơ, từ nhỏ không được sống ở quê. Nơi đất khách quê người gợi bao buồn khổ. Rồi đến khi tóc đã pha sương mới có dịp được trở về:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi

(Khi đi trẻ, lúc về già)

Xa quê từ ngày còn thơ bé, khi trở lại đã già rồi. Thời gian cách biệt không phải là 3 năm, 15 năm mà hơn nửa thế kỉ, gần một đời người sao lại không thương nhớ? Cảnh ngộ ấy là bi kịch của vị quan đời Đường trên con đường công danh. Cuộc đời đầy sóng gió, con người ta với một lần sinh ra và một lần vĩnh viễn ra đi vào cõi vĩnh hằng. Do vậy cuộc sống của họ luôn cố gắng phấn đấu cho được một chút công danh. Với Hạ Tri Chương công danh đã thành đạt nhưng phải li gia, xa quê nhà yêu dấu của mình. Có thế nói rằng đây chính là khối sầu, là một nỗi đau của bất cứ ai lâm vào cảnh ngộ này.

Ra đi từ lúc ấu thơ và khi trở lại

Hương âm vô cải, mấn mao tồi

(Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao)

Ở đây tác giả dùng phép tiểu đối để khẳng định tình cảm của tác giả với quê nhà. Quê hương trở thành máu thịt, tâm hồn đối với mỗi con người. Nó trở thành một phần cuộc đời của mỗi con người. Do vậy suốt một đời xa quê, mái tóc đã điểm sương, nhuốm màu của thời gian, gió sương cát bụi phong trần, nhưng hương âm (giọng quê) vẫn không thay đổi. Giọng quê chính là hơi thở, tiếng nói của quê hương. Trong giọng nói ấy mang hơi thở của đất mẹ, của quê cha đất tổ mà dẫu ở phương trời nào cũng không thay đổi. Chi tiết này cho thấy tình cảm của tác giả luôn gắn bó với quê hương, nơi dòng sữa ngọt ngào, tiếng ru, tình thương của mẹ hiền…Chỉ có những kẻ mất gốc thì mới thay đổi giọng quê, mới coi thường tiếng mẹ đẻ.

Trong cái biến đổi sương pha mái đầu và cái không đổi “giọng quê vẫn thế” thể hiện tấm lòng chung thuỷ, sắt son với nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Tình cảm ấy thật đẹp, thật đáng tự hào với Hạ Tri Chương. Hơn nửa thế kỉ làm quan phục vụ triều đình tại Kinh đô Tràng An, đứng trên đỉnh cao danh vọng, sống trong nhung lụa vàng son thế mà tình cố hương trong ông vẫn không thay đổi. Đó là điều đáng kính phục. Trở về nơi mà gần cả cuộc đời đã xa nó, đương nhiên sẽ gặp những nghịch lý.

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?

Khi đi xa nay trở lại nhà đã trở thành khách lạ, khi đi cũng như lũ trẻ bây giờ, lúc này trở lại đã là bác, là ông. Thời gian xa quê đằng đẵng theo năm tháng. Bạn bè tuổi thơ ngày xưa ai còn ai mất? Có lẽ họ cũng đã “sương pha mái đầu” cả rồi. Ngoảnh lại thời gian ôi đã ngót gần hết một đời người. Thời gian trôi đến không ngờ.

Trẻ con nhìn lạ không chào

Hỏi rằng: khách ở chốn nào lại chơi?

Một câu hỏi hồn nhiên ngây thơ của nhi đồng để lại trong lòng tác giả nỗi buồn man mác bâng khuâng. Tuổi già sức yếu mới trở lại cố hương. Tình yêu quê hương của Hạ Tri Trương đẹp đẽ biết bao. Ta còn nhớ Tố Hữu đã từng viết:

Ngày đi, tóc hãy còn xanh

Mai về, dù bạc tóc anh, cũng về!

(Nước non ngàn dặm)

Bài thơ Hồi hương ngẫu thư là một bài thơ hay gợi cho ta nhiều xúc động. Tác giả sử dụng tiểu đối thành công, tạo nên những vần thơ hàm súc, gợi cho người đọc bao liên tưởng về nỗi lòng của khách li hương. Bài thơ là tiếng lòng của Hạ Tri Chương, yêu quê hương tha thiết, thuỷ chung, thấm đẫm trên từng vần thơ.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 2

Cùng nói về chủ đề nhớ quê hương, Lí Bạch trong bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh với giọng văn nhẹ nhàng mà thấm thía cho người đọc thấy tình cảm của người con thấy trăng mà nhớ về quê hương. Còn trong bài Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương lại đem đến cho người đọc những cảm xúc, tình cảm mới mẻ, đặc sắc riêng.

Tác phẩm được ông viết sau hơn năm mươi năm xa cách quê hương, cho đến những ngày cuối đời, ông từ quan trở về quê nhà. Hồi hương ngẫu thư bao gồm hai bài thơ, bài được trích trong sách là bài thơ thứ nhất. Tác phẩm không chỉ thể hiện tình yêu quê hương tha thiết mà còn thể hiện nỗi xót xa, ngậm ngùi khi trở về quê nhà.

Hai câu thơ đầu nêu lên hoàn cảnh về quê: “Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi/ Hương âm vô cải mấm mao tồi”. Câu thơ là kể mà thực chất là để bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng: khi đi tuổi trẻ, cống hiến hết sức mình cho đất nước, khi trở về đã là ông lão râu tóc bạc trắng. Nghệ thuật đối lập: thiếu tiểu – lão đại, li gia – hồi càng khiến nỗi xót xa trở nên đậm nét hơn. Nửa đời người ông đã xa quê hương, nay trở về thời gian được sống, được gắn bó với nơi chôn rau cắt rốn còn lại vô cùng ngắn ngủi. Bởi vậy câu thơ vang lên như một lời thở than đầy ngậm ngùi.

Câu thơ thứ hai thể hiện rõ nhất tình yêu quê hương của ông. Câu thơ này ông tiếp tục sử dụng nghệ thuật đối: hương âm – mấm mao, vô cải – tồi. Bao trùm lên toàn bộ câu thơ là sự tương phản, đối lập giữa cái đổi thay và cái không đổi thay. Thời gian có thể làm thay đổi ngoại hình, diện mạo, sức khỏe, tuổi tác của một con người nhưng không thể làm mất đi hồn cốt quê hương trong con người ấy. Hạ Tri Chương cũng như vậy, dù nửa đời người phải xa cách quê hương, mái tóc đã pha sương nhưng có một thứ duy nhất không thay đổi, chính là giọng quê. Tác giả đã lấy cái thay đổi để làm nổi bật lên cái không thay đổi, từ đó khẳng định tình cảm gắn bó máu thịt, bền chặt cuả mình với quê hương. Hai câu thơ cuối tạo ra tình huống bi hài:

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai

Xa quê đã lâu ngày, trẻ con nhìn thấy không chào cũng là điều dễ hiểu. Nhưng dù thế, rơi vào tình huống đó lòng ông cũng không khỏi ngậm ngùi, chua xót. Câu thơ phảng phất nỗi buồn sau nụ cười đùa vui, hóm hỉnh.

Ta có thể thấy sự chuyển đổi giọng điệu giữa hai câu đầu và hai câu sau khá rõ nét. Nếu như hai câu đầu chủ yếu mang giọng khách quan, cái ngậm ngùi chỉ được thể hiện ngầm ẩn. Dấu ấn thời gian in đậm nét trong các câu thơ, mọi thứ đều thay đổi duy chỉ có giọng quê là vẫn giữa nguyên. Trong hai câu sau hoàn cảnh trở nên ngang trái, trớ trêu: nhà thơ trở thành khách trên chính quê hương của mình. Sự tươi tỉnh, hồn nhiên, cùng câu hỏi của bọn trẻ đã làm rõ hơn sự thay đổi của con người, của quê hương. Như vậy, ẩn sau giọng điệu bi hài, hóm hỉnh là cảm giác buồn bã, ngậm ngùi của một người con luôn tha thiết yêu quê hương.

Bài thơ có kết cấu độc đáo, giữa hai phần tự nhiên, hợp lý, gây được bất ngờ cho người đọc. Tác giả vận dụng nghệ thuật đối tài tình cho thấy sự đổi thay của nhiều yếu tố song chỉ có tình yêu quê hương của tác giả là không đổi. Ngôn ngữ dồn nén, giàu sức biểu cảm.

Với lớp ngôn từ vừa đùa vui, hóm hỉnh vừa ngậm ngùi, buồn bã đã cho thấy tình yêu quê hương tha thiết, sâu nặng của tác giả. Qua tác phẩm này ta cũng thấy được tình yêu quê hương là một tình cảm thiêng liên và đáng trân trọng.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 3

Tha hương, xa xứ là nỗi bi kịch lớn trong đời của mỗi người, nhất là đối với các nhà thơ có tâm hồn nhạy cảm, họ càng thấm thía và đau xót hơn về nỗi đau ấy. Hạ Tri Trương là người từng trải qua nỗi sầu xa sứ, ông phải rời quê từ thuở trẻ để lên kinh đô lập nghiệp. Ở nơi đất khách quê người nỗi nhớ cố hương luôn thường trực canh cách trong lòng ông, chính vì thế được trở về quê hương lòng người trào dâng bao cảm xúc khôn tả. Bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê”, Hạ Tri Trương đã thể hiện sâu sắc khoảnh khắc vừa chân thực vừa xúc động nghẹn ngào của một người con xa quê lâu ngày trở về.

Bao năm xa quê sống ở nơi đất khách với cuộc sống mới có vinh hoa phú quý, có công danh sự nghiệp những quê hương vẫn là bến đỗ bình yên mà nhà thơ luôn hướng về: “Thiếu tiểu lí gia lão đại hồi”. Câu thơ thoáng qua ngỡ chỉ là lời kể đơn thuần chân thực những phải cảm nhận kĩ mới thấy được nó chất chứa bao nghịch cảnh buồn thương, đau xót. Những cặp từ đối lập thiếu – lão, tiểu – đại mở ra vòng xoay của thời gian, đó cũng là thước đo độ dài quãng thời gian xa quê của tác giả.

Khoảng cách từ thuở trẻ đến khi đã già thực sự rất dài, nó đằng đẵng, mênh mông triền miên gần một kiếp người. Câu thơ đã cho thấy sự đau xót, tiếc nuối về khoảng thời gian đã qua với những điều còn chưa trọn vẹn. Tuổi trẻ rời quê ra đi, mải miết chạy theo con đường công danh, khi công thành danh toại cũng là lúc tuổi trẻ đã tàn phai, trong phút giây lắng lại của cuộc đời, quê hương vẫn là nơi duy nhất nhà thơ tìm về, điều này cho thấy trái tim ông chưa bao giờ thôi hướng về cội nguồn, gốc rễ của mình.

Chính những tình cảm sâu nặng đối với quê hương đã khiến ông luôn trân quý và giữ gìn những gì thuộc về bản sắc quê nhà, trong đó tiêu biểu nhất là giọng quê. “Hương âm vô cải mấn mao tồi”. Thời gian lạnh lùng trôi làm tàn phai tuổi trẻ của con người, sóng gió cuộc đời xô bồ làm bạc đi mái tóc của con người nhưng tất cả những điều đó không bao giờ làm phái mờ dấu ấn của quê hương đó là giọng quê. Sắc điệu giọng nói của con người chính là sự biểu hiện cụ thể của chất quê, hồn quê. Câu thơ với thủ pháp đối đã cho thấy cái đổi thay và điều bất biến của con người tác qua đó nhấn mạnh sự bền bỉ, nguyên vẹn của tình cảm quê hương trong tâm hồn tác giả.

Hạ Tri Trương ở nơi kinh đô, được nhà vua trọng dụng, cuộc sống nơi phồn hoa hoàn toàn cho phép ông có thế quay lưng với quê hương, thay đổi tất cả để trở thành con người đô thị quyền quý, sang trọng. Thế nhưng ông vẫn giữ được giọng quê, giữ được những cốt cách, gốc gác của quê nhà, điều này thực sự rất đáng trân trọng. Bao năm xa quê nhưng tình quê không đổi, câu thơ đã cho thấy tấm lòng thủy chung, son sắt một lòng hướng về quê hương của nhà thơ.

Yêu quê hương tha thiết, gắn bó thủy chung với cội nguồn của mình, cho nên Hạ Tri Trương luôn mong muốn một ngày được trở về, gặp lại người thân bạn bè, gặp lại những kí ức của một thời đã qua trong niềm hân hoan, chào đón. Vậy mà chính khoảnh khắc trở về quê cũ, ông đã phải trải qua bi kịch trở thành người khách lạ trên chính quê hương của mình.

“Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai”

Vẫn là cảnh cũ, là những hồi ức một thời nhưng người xưa nay đã không còn. Hình ảnh đầu tiên mà nhà thơ bắt gặp đó chính là lũ trẻ con, ngày ông ra đi khỏi chốn quê cũ có khi bố mẹ chúng còn chưa ra đời, nay ông trở về lũ trẻ hồn nhiên xem ông là người xa lạ. Dù biết đó là lẽ thường nhưng nhà thơ vẫn không khỏi chạnh lòng. Không một ai nhận ra ông, không một người đón tiếp ông, ông trở nên bơ vơ lạc lõng ngay trên mảnh đất quê hương mình. Trẻ con vô tư, hiếu khách chào hỏi “khách ở nơi nào đến chơi” càng kiến ông trở nên nhói lòng. Tiếng “khách” được thốt lên một cách thực sự hồn nhiên nhưng khiến Hạ Tri Trương vừa bất ngờ vừa buồn tủi, xót xa. Ông phải đón nhận nghịch lí trở thành khách lạ trên chính quê hương mình. Nỗi bi kịch của Hạ Tri Trương thật đáng cảm động và thương xót

Với những hình ảnh đối lập, từ ngữ trong sáng, giản dị, hàm súc bài thơ đã thể hiện một cách chân thực mà sâu sắc tình yêu quê hương tha thiết, thủy chung của người con xa sứ. Bài thơ khép lại nhưng nó lại mở ra những ý nghĩa lớn lao trong lòng người. Quê hương là mảnh đất thiêng liêng của mỗi con người, vì thế ta hãy biết trân trọng và hướng về nó.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 4

Hạ Tri Chương (659 – 744), tự Quý Chân, quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc huyện Tiên Sơn, tình Chiết Giang, Trung Quốc). Ông đậu tiến sĩ năm 695, làm quan trên 50 năm ở thủ đô Trường An. Tài và đức của ông khiến cho vua Đường Huyền Tông vị nể. Đến năm 85 tuổi, Hạ Tri Chương mới về quê sống và chưa đầy một năm sau thì qua đời. Bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê được sáng tác khi ông vừa đặt chân lên mảnh đất cố hương.

Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?
(Phạm Sĩ Vĩ dịch)

Bài thơ phản ánh chân thực tâm trạng xúc động, buồn vui lẫn lộn của một người xa nhà đã lâu trong khoảnh khắc vừa mới trở về quê cũ, qua đó thể hiện tình cảm quê hương tha thiết, sâu nặng của nhà thơ.

Tên chữ Hán của bài thơ là Hồi hương ngẫu thư. Ngẫu thư nghĩa là ngẫu nhiên mà viết ra. Ngẫu nhiên vì tác giả không có chủ định làm thơ. Còn tại sao không chủ định viết mà lại viết thì đọc xong bài thơ ta mới rõ. Tác giả rằng, khi về đến làng, ông không gặp bạn bè hay những người thân trong gia đình ra đón mà gặp đám trẻ con đang chơi đùa. Đó chính là duyên cớ – mà duyên cớ thì bao giờ cũng có tính chất ngẫu nhiên, khiến tác giả cũng ngẫu nhiên nổi lên thi hứng mà viết nên bài thơ này.

Nhưng nếu chỉ vì duyên cớ ngẫu nhiên thì bài thơ không thể hay, không thể rung đọng lòng người mà đằng sau nó là tình cảm quê hương của nhà thơ dồn né bao năm giờ đây cần được thổ lộ. Tình cảm ấy như một sợi dây đàn đã căng hết mức, chỉ cần khẽ chạm vào là rung động, ngân vang, thổn thức. Phép đối ở hai câu đầu thể hiện tài thơ sắc sảo của tác giả:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.

(Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.)

Trong câu mở đầu, tác giả kể vắn tắt về cuộc đời sống xa quê đi làm quan của mình và bước đầu hé lộ tình cảm đối với cố hương. Câu thứ hia là câu tác giả miêu tả chính mình: Hương âm vô cải, mấn mao tồi. Nhà thơ lấy một chi tiết đã thay đổi là mái tóc (mấn mao tồi) để làm nổi bật yếu tố không thay đổi là giọng nói quê hương (hương âm vô cải) để nhấn mạnh ý: Dù hình thức bên ngoài có bị thời gian và cuộc sống lâu dài ở kinh thành làm cho thay đổi nhiều nhưng bản chất bên trong vẫn nguyên vẹn là con người của quê hương. Hai câu cuối:

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vẫn: khách tòng hà xứ lai?

(Trẻ con nhìn lạ không chào,

Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?) Sau năm mươi năm xa quê đằng đẵng, nay trở về làng cũ, nhà thơ chỉ thấy lũ trẻ con đang tung tăng nô đùa, chạy nhảy. Điều đó chứng tỏ lớp người cùng tuổi với ông chắc chẳng còn mấy. Thời bấy giờ, ái sống được đến bảy mươi là đã được liệt vào hạng “cổ lai hi” (xưa nay hiếm – từ dùng của Đỗ Phủ). Giá như vài người vẫn còn sốn thì liệu có ai nhận ra nhà thơ không?! Điều trớ trêu là sau bao nhiêu năm xa cách, nay trở về nơi chôn nhau cắt rốn mà nhà thơ lại “bị” xem như khách lạ! Tình huống ấy đã tạo nên cảm xúc bi hài thấp thoáng sau lời kể cố giữ vẻ khách quan, trầm tĩnh của nhà thơ.

Nói về lẽ sống chết, Khuất Nguyên có hai câu thơ nổi tiếng: Hồ tử tất thủ khâu, Quyện điểu quy cựu lâm. (Cáo chết tất quay đầu về phía núi gò, Chim mỏi tất bay về rùng cũ). Muông thú còn thế, huống chi con người! Khuất Nguyên dùng ẩn dụ để khẳng định một quy luật tâm lí muôn đời. Giản dị và dễ hiều hơn, người xưa nói: Lá rụng về cội. Lúc trưởng thành, vì hoàn cảnh khó khăn mà người ta phải xa quê kiêm sống khắp nơi. Khi già yếu, ai cũng mong được sống những ngày còn lại ở quê nhà vì không ở đâu tình người lại ấm áp như ở nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Dẫu làm tới một chức quan rất lớn ở triều đình thì Hạ Tri Chương cũng không nằm ngoài quy luật tâm lí ấy.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 5

Hạ Tri Chương là một trong những thi sĩ lớn của Trung Quốc ở thời Đường. Những vần thơ của ông chứa chan lòng yêu quê hương đất nước. Một trong những bài thơ hay nhất, đặc sắc nhất về chủ đề này là bài thơ “Hồi hương ngẫu thư”:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi

Hương âm vô cải, mấn mao tồi

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?

Hạ Tri Chương xa quê từ lúc ông còn bé. Mở đầu bài thơ, với thủ pháp nghệ thuật tiểu đối, tác giả đã nêu ra một hoàn cảnh của mình: phải từ biệt gia đình từ thuở thơ ấu, từ nhỏ đã phải xa quê, sống nơi đất khách với bao nhiêu buồn khổ. Mãi đến khi tóc đã pha sương mới có dịp trở về quê hương: “ Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi”

Xa quê từ khi còn bé xíu, khi trở lại thì đã già mất rồi. Thời gian ấy chẳng hề ngắn ngủi, đó không phải là 3 năm, 10 năm mà đó là cả hơn nửa thế kỉ, gần bằng một đời người. Sao mà không nhớ , không thương cho được? Cảnh ngộ ấy chính là bi kịch của vị quan đời Đường trên con đường theo đuổi công danh sự nghiệp. Với nhà thơ, cái giá phải trả để có được công danh đó là phải li gia, xa quê nhà yêu dấu. Đó là một khối sầu, một nỗi đau dai dẳng, khôn nguôi. Dù xa quê nhiều năm nhưng có những thứ vẫn không thay đổi trong nhà thơ: “Hương âm vô cải, mấn mao tồi”

.

Tác giả tiếp tục sử dụng phép đối để khẳng định tình cảm thủy chung son sắt với quê hương. Đối với con người, quê hương là máu thịt, là tâm hồn. Và với Hạ Tri Chương cũng thế. Hơn nửa thế kỉ xa quê, mái tóc đã điểm sương, nhuốm màu của thời gian nhưng “hương âm” chẳng hề thay đổi. Giọng quê chính là hơi thở, là tiếng nói và là cái hồn của quê hương. Chi tiết này cho thấy tình cảm gắn bó, thủy chung son sắt của tác giả với quê hương – nơi chôn rau cắt rốn, nơi có tình yêu thương của gia đình. Hơn nửa thế kỉ làm quan, sống trong vinh hoa phú quý, đứng trên đỉnh cao danh vọng, ấy thế mà tình cố hương trong Hạ Tri Chương vẫn không đổi. Đó là một điều đáng trân quý, đáng tự hào.Trở về nơi mà gần cả cuộc đời đã xa, tác giả đã gặp phải nghịch lí:

“Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?”

Câu thơ với sự bùi ngùi, chua xót. Khi đi xa giờ trở về đã là khách lạ, chẳng còn ai quen biết, chẳng còn họ hàng, thân thích. Một câu hỏi hồn nhiên ngây ngô của trẻ con để lại trong lòng tác giả nỗi buồn man mác. Sinh ra tại chính mảnh đất quê hương, đứng trên mảnh đất quê hương mình, ấy thế lại bị coi là “khách”. Thật là chua xót biết bao!

“Hồi hương ngẫu thư” mang đến cho người đọc nhiều xúc động. Nghệ thuật tiểu đối được sử dụng thành công tạo nên những vần thơ hàm súc. Bài thơ là tiếng lòng của Hạ Tri Chương, yêu quê hương tha thiết, thủy chung và gắn bó sâu sắc.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 6

Sinh ra và lớn lên trong gia đình truyền thống có học, Hạ Tri Chương được đánh giá là người có tâm và có tầm. Sớm xa quê hương từ khi còn rất nhỏ, cuộc đời bôn ba, làm nhiều chức quan to trong triều đình, đến cuối đời lại gặp khó khăn, về quê an hưởng tuổi già. Trong chính tình huống trở về nơi chôn rau cắt rốn sau năm mươi năm xa cách đã khiến tác giả viết bài thơ “Hồi hương ngẫu thư” – “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê”, thể hiện nỗi nhớ quê hương sâu nặng và cả sự buồn bã, tâm trạng đau thương của một người con xa xứ.

Xa quê khi mới chỉ là một cậu bé, cả cuộc đời cống hiến và phụng sự triều đình, đến khi về già, từ bỏ mũ cao áo dài về quê an dưỡng, tác giả hết sức bàng hoàng khi không còn ai nhận ra mình nữa. Với dòng cảm xúc vừa bồi hồi sau ngần ấy năm xa cách nay đã được hồi hương, vừa đau đớn, xót xa vì lại trở thành người lạ ngay trên mảnh đất mình sinh thành, nhà thơ viết “Hồi hương ngẫu thư”, gửi gắm vào đó những tâm sự, cảm xúc của một lão niên tuổi cao sức yếu. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, bốn câu thơ thể hiện tình yêu quê hương nồng nàn, cùng sự ngậm ngùi, tiếc thương cho thân phận của mình khi trở về quê hương. Hai câu thơ đầu, tác giả kể lại câu chuyện hồi hương sau năm mươi năm xa cách:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi

Hương âm vô cải mấm mao tồi

Tác giả sử dụng hàng loạt tính từ đối lập: “thiếu tiểu – lão đại”, “li gia – hồi”, cả một đời người, khi đi chỉ là cậu thiếu niên thơ bé, khi trở về, mái tóc đã bạc phơ, thân đã là một “lão đại” dạn dày sương gió. Người đọc còn nhận thấy cả chút tự trách, tự vấn lương tâm rằng tại sao bản thân không về thăm nhà lấy một lần trong ngần ấy năm. Câu thơ tuy không có lời nào thể hiện hàm ý buồn thương, nhưng cách viết nhấn mạnh sự đối lập khoảng thời gian cho người đọc thấy được nỗi tự trách, bận rộn một đời cho đến tận khi không còn nơi để đi mới ngậm ngùi trở về. Đến câu thơ thứ hai, dòng xúc cảm nồng nàn với quê hương được bộc lộ một cách cảm động, chân thực:

Hương âm vô cải, mấn mao tồi. Một lần nữa, nghệ thuật đối lập được sử dụng liên tiếp “hương âm – mấn mao”, “vô cải – tồi”. “Hương âm” được dịch là “giọng quê”, giọng nói đặc trưng của quê hương qua năm tháng dãi dầu, bôn ba vẫn không hề phai nhạt. Thời gian có thể bào mòn con người, ngoại hình có thể cằn cỗi, tư tưởng có thể chuyển dời, nhưng cái chất thôn quê thuần túy không bao giờ có thể đổi thay. “Mấn mao tồi”, cái thay đổi ở đây chính là bản thân nhà thơ, thay đổi về hình dáng, về tuổi tác. Tuy vẫn là người con của quê hương, nhưng mái đầu xanh nay đã bạc, tuổi tác nay đã già, sức khỏe cũng đã suy yếu. Hai hình ảnh đối lập trong cùng câu thơ cốt để khẳng định rằng, dù cho có phải xa cách về thời gian hay địa lý, bản chất quê hương trong máu thịt vẫn không bao giờ thay đổi, khẳng định sự gắn kết, bền bỉ và tình yêu quê lớn lao, da diết.

Hai câu thơ vỏn vẹn mười bốn tiếng nhưng đã bao quát lại cả một đời người với bao thăng trầm sóng gió, nhưng dù vật đổi sao dời, tuổi đời có xế chiều, chức vị có thay đổi thì quê hương vẫn là nơi ta sinh ra và trở về, vẫn dang rộng vòng tay chào đón. Cả đời người xa quê hương xứ sở, tuổi già trở về an hưởng thái bình, vui thú điền viên là mong ước.Trong dòng cảm xúc bùi ngùi thương nhớ làng quê, tác giả lại gặp phải tình huống dở khóc dở cười khiến bản thân trằn trọc, suy tư. Xa quê lâu ngày, khi trở về, không còn ai nhận ra Hạ Tri Chương ngày nào. Đặt mình vào hoàn cảnh éo le, tác giả vừa bộc lộ cảm xúc, vừa đưa ra bài học triết lý sâu sắc:

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

(Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai)

Lựa chọn nhân vật là “nhi đồng”, “trẻ con”, để cho đám trẻ cùng quê không nhận ra mình, không biết mình là ai nhằm nhấn mạnh sự xa cách về mặt thời gian. Rời quê từ khi còn nhỏ tuổi, nay trở về gặp đám trẻ cũng trạc tuổi mình hồi ấy, nhưng chúng chẳng nhận ra, chẳng biết mình là ai khiến thi sĩ không khỏi chạnh lòng. Cùng đồng hương đấy, cùng độ tuổi đấy, nhưng mọi thứ đều bị chia cắt bởi thời gian. Bản thân trở thành kẻ xa lạ từ đâu tới ngay trên chính mảnh đất quê hương. Để cho trẻ con lên tiếng, tác giả muốn tự trách mình đã vì cá nhân, vì thỏa chí tang bồng mà quên đi mất nguồn cội.

Con nít hồn nhiên lại làm đau lòng người lớn, ẩn sau câu hỏi của lũ trẻ là bài học quý báu về tình cảm quê hương, nhớ về nguồn cội, gốc gác. Tác giả đã nêu ra một triết lý sống sâu sắc rằng, dù có đi đâu, làm gì, dù có quyền cao chức trọng đến mấy, quan trọng nhất vẫn là giữ trọn được nguồn gốc của mình, không bị lai tạp, mất gốc, không quên nơi chôn rau cắt rốn.

Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt phổ biến thời Đường, ngôn từ ngắn gọn, hàm ý với nghệ thuật đối lập tương phản, bài thơ gói gọn những hỉ nộ ái ố của tác giả khi về quê an hưởng tuổi già.

Trong niềm vui được đoàn tụ là nỗi buồn man mác vì cô đơn, buồn tủi, cuối cùng là tự vấn, tự trách bản thân đã lãng quên nơi sinh thành. Với ngôn từ nhẹ nhàng mà sâu sắc, Hạ Tri Chương đã bộc lộ tình cảm sâu nặng từ tận tâm can đối với quê hương xứ sở cùng dòng cảm xúc buồn vui xen lẫn, để lại cho bạn đọc nỗi băn khoăn, khắc khoải với chính bản thân mình.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 7

Hạ Tri Chương là một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc vào đời Đường. Ông là bạn vong niên với Lý Bạch. Hầu hết các sáng tác của ông đều thể hiện tình cảm yêu thương sâu nặng với quê hương. Một trong những bài thơ mang cảm hứng chủ đạo về nỗi niềm nhớ quê hương của tác giả là Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê (Hồi hương ngẫu thư):

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
Hương âm vô cải, mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?

Ngay nhan đề bài thơ đã thể hiện niềm xúc động dâng trào khi tác giả trở về với mảnh đất đã sinh ra mình mà gần hết cuộc đời nay mới trở lại. Tình cảm nhớ quê luôn thường trực trong lòng tác giả, nhưng phải đến khi đứng trên mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn, tình cảm ấy không thể nén được và trào dâng

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
(Khi đi trẻ, lúc về già)

Quê hương chính là cội nguồn của mỗi cá nhân, gia đình, thậm chí cả dòng họ. Được sinh ra nhưng tuổi ấu thơ đã phải rời gia đình, quê hương sống nơi đất khách quê người. Vậy là tác giả ngay từ nhỏ đã phải làm quen với phong tục tập quán và kể cả lũ bạn hoàn toàn mới lạ. Sự hoà đồng có lẽ cũng nhanh, nhưng nó vẫn không phải là quê nhà, là sinh khí âm dương hội tụ của mẹ cha để sinh ra mình. Điều đó có ảnh hưởng rất nhiều đến nhận thức của nhà thơ. Nỗi niềm nhớ quê đã trở thành thường trực đau đáu trong lòng.

Quê hương trong bài thơ là cố hương. Tác giả xa cách không phải là 3 năm, 15 năm mà là hơn nửa thế kỷ, gần một đời người. Đành rằng cuộc sống chốn Tràng An náo nhiệt, ồn ào, sung túc. Công danh có thành đạt đến mức nào, cái chất quê, cái máu, cái hồn trong ông vẫn không hề thay đổi. Có nỗi đau nào hơn nỗi đau “li gia”. Tuy vậy, ta thấy rằng với tác giả, vui sướng vô cùng là cuối đời còn được hồi hương.

Cuộc đời đầy sóng gió và cát bụi, mái tóc còn xanh mướt ngày nào khi xa quê thì nay, chính trên mảnh đất này mái tóc ấy đã bạc phơ. Dẫu cho tóc bạc, da mồi, địa vị công danh thay đổi. Nhưng cái cốt cách, cái linh hồn của đất mẹ quê cha vẫn nguvên đó.

Hương âm vô cải, mấn mao tồi
(Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao)

Lời nói, giọng quê vẫn không thay đổi, ấy chẳng phải là sự gắn bó với quê hương đó sao. Thật vậy truyền thống văn hoá của gia đình, dân tộc quê hương không dễ gì thay đổi được. Nó được ăn sâu trong máu, trong tâm hồn tác giả. Lý Bạch trên bước đường chống kiếm lãng du xa quê từ nhỏ nhưng ánh trăng nơi quán trọ đã gợi trong ông những kỷ niệm thân thương nhất về quê hương, ánh trăng làm sống dậy một thời gắn bó từ thuở nằm nôi. Hạ Tri Chương cũng vậy, ông sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương hết mực của cha mẹ, của quê hương, chỉ có những kẻ bạc tình mới nỡ nhắm mắt quên đi nguồn cội.

Càng cảm động nhường nào khi trên đỉnh danh vọng cao sang mà hình ảnh quê hương không hề phai nhạt. Ta hiểu rằng về với quê có lẽ là ước nguyện lớn nhất của đời ông. Ước nguyện ấy đã biến thành hiện thực, bao năm ly biệt nay trở về với quê hương, trong lòng sao tránh khỏi cảm xúc dâng trào. Có lẽ ngay từ đầu ngõ tác giả đã thốt lên con đã về đây hỡi người mẹ hiền quê hương, ông như muốn ôm trọn cả quê hương vào lòng với những dòng nước mắt sung sướng. Nhưng về tới quê hương một nghịch lý đã xảy ra:

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai?
(Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: khách ở chốn nào lại chơi?)

Thời gian xa quê dài dằng dặc, bạn bè cùng trang lứa ngày xưa ai còn ai mất. Quê hương đã có thay đổi gì chưa. Đời sống cùa bà con như thế nào? Bao nhiêu câu hỏi cứ dội về hiện hữu. Sau tiếng cười nói ồn ào của lũ trẻ, lòng tác giả không khỏi man mác. Trong con mắt lũ trẻ thì mình là khách lạ, đó là một thực tế bởi khi ông từ giã quê hương thì làm gì đã có chúng. Sau nụ cười tinh nghịch của trẻ thơ là những giọt nước mắt chua cay và sung sướng. Ta là khách lạ! xa quê gần một đời người nay mới trở lại, ta dù lạ với lũ trẻ thơ như quá đỗi thân thuộc với mảnh đất quê hương. Sung sướng hơn bao giờ hết nhà thơ đang đứng trên mảnh đất quê hương, ông đã thực hiện được.tâm nguyện của mình “sống chết với quê hương”. Tình cảm ấy đẹp quá, thiêng liêng quá!.

Cảm ơn nhà thơ Hạ Tri Chương, chính ông đã đánh thức trong lòng độc giả những tình cảm gắn bó với quê hương. Nó làm thức tỉnh bao kẻ đang muốn từ bỏ quê hương. Đồng thời củng cố, khắc sâu hơn niềm tin yêu quê hương gia đình của mỗi con người. Và dĩ nhiên không có tình cảm gắn bó với quê hương sẽ không lớn nổi thành người.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 8

Hạ Tri Chương (659-744) tự QuýChân, hiệu “Tứ Minh cuồng khách”, người Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang). Năm 695 ông đậu tiến sĩ, làm quan trên 50 năm ở Trường An. Ông thích uống rượu, kết thân với Lý Bạch, là một trong “Ngô trung tứ sĩ”, tự xưng “Tứ minh cuồng khách”. Tính tình phóng khoáng, thích đàm tiếu, làm quan lâu năm vì “hoảng sợ bệnh tật” và “muốn về làng” nên sau hơn 50 năm xa quê năm 86 tuổi ông trở về thăm quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang). Từ biệt rất lâu nay đến tuổi già lão Hạ Tri Chương mới về quê thăm nên có nhiều cảm xúc ngỡ ngàng và xa lạ. Ông đã làm hai bài thơ nhan đề Hồi hương ngẫu thư (ngẫu nhiên về làng viết). Bài thứ nhất như sau:

Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi,
Hương âm vô cải mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến bất tương thức,
Tiếu vấn: “Khách tòng hà xứ lai?”

Dịch thơ:
Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn lạ không chào,
Hỏi rằng: “Khách ở chốn nào lại chơi?”
(Phạm Sĩ Vĩ)

Đầu đề bài thơ có 4 chữ (từ), chữ “ngẫu” được hiểu là tác giả trở về làng lúc đã quá già nên chỉ có ý định về làng thăm quê sau hơn nửa thế kỷ xa cách mà không có ý sáng tác. Đây là lần trở về quê đầu tiên và cũng có thể là lần cuối. Nhưng vừa đặt chân đến quê thì cảm xúc dâng trào nên tác giả “ngẫu hứng” mà sáng tác bài thơ này. Bài thơ theo thể thất ngôn tuyệt cú, lời lẽ đơn giản, dễ hiểu nhưng trở nên bất hủ và rất được truyền tụng xưa nay, và nó đều được đưa vào chương trình ngữ văn ở nhà trường phổ thông Trung Quốc (sơ trung), Việt Nam (THCS).

Bài thơ có 4 câu, hai câu đầu (1, 2) tác giả nói về sự thay đổi của bản thân và hai câu sau (3, 4) diễn tả cảm nghĩ của mình về sự thay đổi của quê sau bao năm dài xa cách. Ở hai câu đầu tác giả tự đặt mình vào hoàn cảnh vừa quen thân vừa xa lạ đối với quê hương khi trên đường trở về. Tâm tình của tác giả lúc này là “không bình tĩnh” với tâm trạng bồn chồn, lo lắng. Nguyên nhân của sự “không bình tĩnh” ấy là lời “tự thuật” khi từ biệt quê nhà ra đi tác giả còn ấu thơ (thiếu tiểu) và khi trở về thì đã quá già lão (lão đại).

Câu thơ chỉ có 7 chữ mà đối từng chữ (thiếu tiểu – lão đại; ly – hồi). Ở câu 1 xuất hiện chữ “gia” (nhà) rất gần gũi và thân quen. Cái nơi gần gũi, thân quen “chôn nhau cắt rốn”, “cất tiếng chào đời” ấy trở nên nghẹn ngào làm sao khi tác giả nhớ lại phải “ly gia” (xa cách ngôi nhà) để ra đi từ lúc còn quá bé nhỏ (thiếu tiểu). Xót xa, ngậm ngùi hơn là chính con người ấy nay lại trở về nhà vào lúc tuổi xế chiều “gần đất xa trời”. Một câu thơ có hai vế đối: “Thiếu tiểu ly gia” đối với “lão đại hồi” vừa chỉnh vừa hay. Câu thơ 1 được chuyển tiếp và làm rõ hơn ở câu 2.

Nếu câu 1 là sự thay đổi về thời gian năm tháng thì ở câu 2 tác giả làm nổi bật sự thay đổi rất lớn của bản thân ở hai khía cạnh là tâm hồn bên trong và hình dạng bên ngoài. Trong khi hình dáng bên ngoài sau bao năm ra đi và xa cách nay trở về râu và tóc của tác giả đã bạc phơ và thưa rụng đi rất nhiều (mấn mao tồi). Cái mà tác giả rất tự hào và có thể nói “hành trang” trở về rất quí giá của mình, đó là tấm lòng, tình cảm được thể hiện qua giọng nói của quê nhà vẫn không thể thay đổi (hương âm vô cải).

Nếu câu 1 tác giả gọi “gia” (nhà) là của riêng mình thì ở câu 2 nhà thơ lại dùng chữ “hương” (làng) rộng lớn, bao quát, thân thiết và gắn bó hơn. Câu 2 cũng có hai vế đối. Chữ “hương âm” (giọng quê) không thay đổi (vô cải) cho dù “mấn mao” (râu tóc) đã thay đổi (tồi). Câu thơ này ngụ ý tác giả muốn nói rằng “tôi không quên quê hương nhưng quê hương còn nhớ tôi không?” (Ngã bất vong cố hương, cố hương khả hoàn nhận đắc ngã ma?).

2. Câu 3, 4 miêu tả sự thay đổi của quê hương từ bức tự họa tràn đầy cảm khái tác giả chuyển sang câu chuyện giàu kịch tính mà trọng tâm là sự xuất hiện hình ảnh đứa trẻ (nhi đồng). Hai câu đầu nhân vật chính là tác giả (thiếu tiểu – lão đại), hai câu sau có hai nhân vật, một già (lão đại) và một đứa trẻ của làng (nhi đồng). Nếu như ở hai câu thơ đầu tác giả háo hức và mơ ước được nhanh chóng trở về quê lúc tuổi già sức yếu thì ở hai câu thơ sau nhà thơ cảm thấy bị hụt hẫng, ngỡ ngàng vì quê hương mà mình khắc khoải mong trở về trở nên xa lạ.

Đứa trẻ làng (ở tuổi chắt) nhìn thấy một ông lão rất già nhưng nó dửng dưng, xa lạ, không quen biết và không hề chào hỏi một câu (nhi đồng tương kiến bất tương thức). Câu thơ chỉ có 7 chữ với hai từ lặp (tương – nhìn thấy nhau và không quen biết nhau). Kịch tính của bài thơ được mở ra từ đây. Câu thơ không nói nhưng tác giả tỏ ra không vui và trách giận một đứa trẻ làng gặp ông, nhìn thấy ông mà xa lạ, không lễ phép đối với người già đáng tuổi cụ. Từ thái độ giận trách tác giả chuyển sang thái độ là tự trách mình, tự hỏi mình. Ông chợt nghĩ rằng đứa trẻ không có lỗi, thái độ “xử sự” của nó là đúng. Ông đã trở nên xa lạ trên quê hương mình.

Bài học rút ra ở ông lúc này chính là cách “xử sự” của đứa trẻ đối với những ai xa quê lại hờ hững mà ít gắn bó với quê bao nhiêu năm xa cách nay mới trở về. Tác giả – một nhà thơ lớn – làm quan lớn rời bỏ quê hương ra đi nay trở về với “tinh chất” là “Hương âm vô cải” nhưng lại trở nên xa lạ ngay trên quê hương thân yêu của mình mà người “chỉ ra” sự xa cách, xa lạ đó là đứa trẻ làng đáng yêu.

Câu thơ cuối (câu kết) rất hay, kịch tính được “thắt” (câu 3) và được “mở” với hình ảnh thân thiện hồn nhiên và lễ phép của đứa trẻ. Từ chỗ nhìn thấy (tương kiến) mà không quen biết (bất tương thức) đứa trẻ có một thái độ cởi mở, niềm nở với ông già (tiếu vấn). Sau nụ cười là một câu hỏi cũng phát ra từ miệng của đứa trẻ thơ: “Ông là khách từ nơi đâu đến?” (Khách tòng hà xứ lai?). Câu thơ có một lời thoại – một lời hỏi của đứa trẻ mà người đáp là ông già (tác giả) – không có trả lời. Chữ “khách” tác giả sử dụng ở đây thật tài tình được coi là “thi nhãn” của bài thơ này.

Tác giả là chủ làng, già làng ra đi nay trở về là “khách” còn đứa trẻ làng là kẻ hậu bối mấy đời nay trở nên là “chủ”. Nó sẽ rất tự hào và hãnh diện là “chủ” của quê hương trong hiện tại và tương lai. Với những ai từng là “con em” và “chủ” của làng ra đi lâu ngày không còn thân thiết, gắn bó nữa nếu không có ý thức về quê hương sẽ trở nên là “khách” xa lạ ngay trên nơi chôn nhau cắt rốn và cất tiếng chào đời. Nhà thơ không trả lời được câu hỏi đơn giản của đứa trẻ và tác giả cũng nhận thức ra rằng không thể trả lời! Sau câu hỏi này chắc chắn tác giả sẽ lại phải ra đi vì mình là “khách” của quê hương rồi.

Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương tuy ngắn mà hay, sâu xa, ý tứ ít có thi phẩm nào sánh kịp. Bài thơ có không gian, thời gian, con người và sự việc. Bài thơ có hai nhân vật, một lời thoại, có kịch tính dâng trào và có sự hài hước. Yếu tố tự vấn, tự trách, giận mà thương thể hiện khá rõ trong bài thơ. Bài thơ như một màn kịch có bối cảnh, nhân vật đọc lên ai nấy cũng có cảm giác là “xem” một vở hài kịch thân thương.

Cảm xúc trước bài thơ này sinh thời nhà thơ Chế Lan Viên sau mấy mươi năm xa quê thuở trai trẻ một thời ở huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định sau ngày giải phóng trở về thăm lại, nhân nhớ đến bài Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương ông đã làm bài thơ Trở lại An Nhơn.

Trở lại An Nhơn tuổi đã lớn rồi,
Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai?
Nền nhà cũ xây cơ quan mới,
Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 9

Người ta thường hay nói “Sinh ra ở đâu thì mãi thuộc về nơi ấy”, ai cũng có cho mình một quê hương để thuộc về nhưng đôi khi vì sự xa cách, không biết tự lúc nào mà bản thân đã không còn được mảnh đất mình sinh ra công nhận. Đó là một nỗi đâu đớn ngậm ngùi không nói lên lời mà Hạ Tri Chương đã cảm nhận khi sau nhiều năm quay trở về quê của mình, ông trở thành khách lạ ngay trên quê hương mình. Và bao nhiêu đó đã gửi gắm qua những dòng thơ: “Hồi hương ngẫu thư”.Bài thơ thất ngôn tư tuyệt cô đọng mà để lại bao nhiêu dư vang;

Thiếu tiểu li gia lão đại hồi

Hương âm vô cải mấn mao tồi

Dịch thơ:

Khi đi trẻ, lúc về già

Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao

Câu thơ chia làm hai vế đó là về thời gian cũng như hành động của con người, khi xa quê, tác giả còn thanh niên, như cánh chim bằng muốn dang rộng đôi cánh bay lên bầu trời cao rộng, đến khi nhìn lại muốn quay trở lại quê hương thì đã già. Có lẽ sau bao nhiêu năm lăn lộn chốn quan trường, đã đến lúc, ông muốn về quê hương nơi mình sinh ra an dưỡng những năm tháng tuổi già trong thanh bình.

Xa quê lâu như thế nhưng “Hương âm vô cải” thật là một điều đáng quý. Giọng nói quê là một cái gì đó vô cùng đặc trưng mà dường như mỗi vùng miền đều có những chất giọng khác nhau và chỉ có người ở nơi đó mới có giọng ấy. Nhưng giọng quê cũng không phải là một đặc điểm dễ giữ nguyên vẹn nhất là khi người ta đi xa, đến và sinh sống lâu dài ở một nơi khác, tiếp xúc với giọng nói, nền văn hóa khác, nhiều người bị biến đổi giọng nói.

Thế nhưng tác giả còn rất tự tin mình vẫn giữ được giọng nói quê hương, giữ nguyên cái bản sắc quê hương và là sự thể hiện của một tấm lòng không bao giờ quên quê hương mình. Làm sao ông có thể quên quê hương khi mà mỗi ngày ông đều nói giọng quê mình, mỗi âm thanh phát ra hẳn còn hằn lại một nỗi nhớ quê da diết, một quê hương luôn trong trái tim tác giả. Nhưng hình ảnh đối lập ngay sau đó: “mấn mao tồi” cho thấy dấu hiệu của thời gian đã làm cho con người đổi khác, mái đầu bạc là biểu thị cho tuổi tác cao, tuổi già đã bao phủ.

Thế nhưng cũng vì thế mà nổi bật lên một tình cảm thủy chung từ ngày đi lúc còn trẻ cho đến ngày trở về tuy ã già bao nhiêu thì quê hương vãn thường trực trong trái tim tác giả. Quê hương ấy hiện lên trong giọng nói không thể đổi khác mà ông tự hào. Thế nhưng, nhà thơ không khỏi ngạc nhiên xen lẫn ngậm ngùi khi mà:Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai
Dịch thơ:Trẻ con thấy lạ không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi

Dân gian ta có câu: “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Trẻ con thì ngây thơ, thật thà, cũng chính vì vậy mà câu hỏi của chúng khiến cho nhà thơ không khỏi đau lòng. Chúng vì lần đầu nhìn thấy ông bởi đã nhiều năm ông không về quê hương, bạn bè cũ hẳn còn nhớ nữa là trẻ con chưa bao giờ gặp mặt. Ông trở thành người “lạ” với những đứa trẻ, cũng chính là với thế hệ sau của dân làng, với chính mảnh đất quê hương mình. Còn nỗi đau nào lại xót xa hơn nỗi đau quay trở lại quê hương của mình mà lại bị coi là “khách”? Ông ở đất khách bao nhiêu năm luôn mong về quê hương, tức là chưa khi nào ông coi nơi mình đang sống là quê cả, ấy vậy mà khi trở về quê lại bị coi là khách, vậy rốt cuộc quê hương ông là ở đâu?

Bài thơ là niềm ngậm ngùi xót xa của một người khát khao về với quê hương mà lại hụt hẫng ngày trở về. Qua đó ta thấy rằng thời gian trôi đi, mọi thứ đều có thể đổi khác, không ai khống chế được, nên khi có thể, đừng trì hoãn lần về với quê hương để mà hối hận xót xa khi không còn được tha thiết như ngày nào.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 10

Con người xưa nay luôn mang một nỗi niềm thiên cổ, mang mang thiên cổ sầu, ấy là cảm thấy sự nhỏ bé, hữu hạn của mình trước không gian, thời gian vô cùng. Thời gian tuyến tính, một đi không trở lại, bởi vậy ngoảnh mặt đã thấy già đi. Xa quê, bôn ba khắp bốn phương, trở lại quê nhà, nơi chôn rau cắt rốn, bỗng thấy mình như xa lạ. cảm giác ấy thật xa xót biết bao. Với cảm hứng ấy bài thơ “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương đã làm bâng khuâng nhiều thế hệ bạn đọc.

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
Hương âm vô cải, mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?

Ngay nhan đề bài thơ đã thể hiện niềm xúc động dâng trào khi tác giả trở về với mảnh đất đã sinh ra mình mà gần hết cuộc đời nay mới trở lại. Tình cảm nhớ quê luôn thường trực trong lòng tác giả, nhưng phải đến khi đứng trên mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn, tình cảm ấy không thể nén được và trào dâng:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
(Khi đi trẻ, lúc về già)

Có ai sinh ra và lớ lên mà không mang trong mình nỗi niềm thương nhớ về mảnh đất quê hương. Tưởng như đó đã trở thành mùi riêng của đất, của quê hương này, ăn sâu vào tiềm thức và tâm thức của mỗi người. Chỉ tiếc lắm khi, xa quê, vì mưu sinh, vì sự nghiệp con người ta dần già rời xa bến đỗ ấy. Đến khi ngoảnh lại bỗng thấy mình như vị khách, đứng trên quê hương mà vẫn thấy nhớ quê hương. Và cảm xúc bâng khuâng, nghẹn ngào thiên liêng như một lười khấn khứa trở đi trở lại rất nhiều trong thơ. ở đây, với Hạ Tri Chương cũng không là ngoại lệ. Nỗi niềm nhớ quê đã trở thành thường trực đau đáu trong lòng. Quê hương trong bài thơ là cố hương.

Tác giả xa cách không phải là 3 năm, 15 năm mà là hơn nửa thế kỉ, gần một đời người. Đành rằng cuộc sống chốn Tràng An náo nhiệt, ồn ào, sung túc. Công danh có thành đạt đến mức nào, cái chất quê, cái máu, cái hồn trong ông vẫn không hề thay đổi. Có nỗi đau nào hơn nỗi đau “li gia”. Tuy vậy, ta thấy rằng với tác giả, vui sướng vô cùng là cuối đời còn được hồi hương.Tuổi trẻ một đi không trở lại. tác giả ở đây, xa quê khi còn trẻ, khi trở về tóc đã bạc mái đầu. Dường như cả một khối ngậm ngùi chau xót biết bao khi ta sinh ra và phải rời bỏ nơi này đến một vùng đất mới. Nhưng dẫu cho dòng thời gian vô thủy, vô chúng có chảy trôi mãi mãi, khiến cho tóc bạc, da mồi, địa vị công danh thay đổi. Nhưng cái cốt cách, cái linh hồn của đất mẹ quê cha vẫn nguyên đó.

Hương âm vô cải, mấn mao tồi
(Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao)

Lời nói, giọng quê vẫn không thay đổi, ấy chẳng phải là sự gắn bó với quê hương đó sao. Thật vậy truyền thống văn hoá của gia đình, dân tộc quê hương không dễ gì thay đổi được. Nó được ăn sâu trong máu, trong tâm hồn tác giả. Lý Bạch trên bước đường chống kiếm lãng du xa quê từ nhỏ nhưng ánh trăng nơi quán trọ đã gợi trong ông những kỉ niệm thân thương nhất về quê hương, ánh trăng làm sống dậy một thời gắn bó từ thuở nằm nôi. Hạ Tri Chương cũng vậy, ông sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương hết mực của cha mẹ, của quê hương, chỉ có những kẻ bạc tình mới nỡ nhắm mắt quên đi nguồn cội.Nhưng về tới quê hương một nghịch lý đã xảy ra:

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai?
(Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: khách ở chốn nào lại chơi?)

Một quãng thời gian đủ để cho quên nhớ đời người. Và ở đây vẫn còn thấy một con người son sắt, thủy chung, nặng lòng với mối tình quê. Sau tiếng cười nói ồn ào của lũ trẻ, lòng tác giả không khỏi man mác. Trong con mắt lũ trẻ thì mình là khách lạ, đó là một thực tế bởi khi ông từ giã quê hương thì làm gì đã có chúng. Sau nụ cười tinh nghịch của trẻ thơ là những giọt nước mắt chua cay và sung sướng. Ta là khách lạ! Xa quê gần một đời người nay mới trở lại, ta dù lạ với lũ trẻ thơ như quá đỗi thân thuộc với mảnh đất quê hương.

Sung sướng hơn bao giờ hết nhà thơ đang đứng trên mảnh đất quê hương, ông đã thực hiện được tâm nguyện của mình “sống chết với quê hương”. Tình cảm ấy đẹp quá, thiêng liêng quá! Chỉ khi một người yêu quê tha thiết, mới xa xót trước cảnh tượng như vậy. Giọt nước mắt chảy vào trong, trào dâng và âm ỉ trong lòng người con xa quê.

Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, nghệ thuật đối, kết hợp tự sự và biểu cảm… bài thơ đã khắc họa thành công tình yêu quê hương tha thiết của một người sống xa quê lâu ngày trong khoảnh khắc vừa mới trở về.

Cây Đời Mãi Mãi Xanh Tươi

Cây Đời Mãi Mãi Xanh Tươi

Cây Đời Mãi Mãi Xanh Tươi (Xuân Diệu)

Mọi lý thuyết đều màu xám
Và cây đời vĩnh viễn xanh tươi
(Câu của Goethe)

Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cười
Vĩnh viễn anh yêu em, như yêu sự thật
Và cây đời mãi mãi xanh tươi
Mãi mãi em ơi
Cây đời trĩu trái
Gió trong lá mùa thu rồi trở lại
Rì rào đôi ta tình ái muôn đời
Trong mắt đen em mãi mãi ánh trời
Ngời qua một sợi tóc buông rũ trán
Mãi mãi môi em nhuỵ đời vô hạn
Và cây đời ôi! Xán lạn xanh tươi

Bài thơ tình các bạn vừa xem là bài “Cây Đời Mãi Mãi Xanh Tươi” của tác giả Ngô Xuân Diệu. Thuộc danh mục Thơ Xuân Diệu trong những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Chơi Thuyền Gặp Mưa

Chơi Thuyền Gặp Mưa

Chơi Thuyền Gặp Mưa (Hàn Mặc Tử)

Đêm trăng thong thả thử chèo ra
Ơn nước hôm nay tắm gội mà
Sào cắm thuyền dồi thân thể khách
Buồm trương gió táp mặt mày hoa
Cầm lòng sông dễ không sao đặng
Đứng mũi ai kia đã mệt chưa!
Đất ướt loi ngoi trời mát mẻ
Mây mưa khoan khoái trận vừa qua

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Chơi Thuyền Gặp Mưa” của tác giả Nguyễn Trọng Trí. Thuộc tập Lệ Thanh Thi Tập, danh mục Thơ Hàn Mặc Tử trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Trò Chuyện Với Kim Tự Tháp

Trò Chuyện Với Kim Tự Tháp

Trò Chuyện Với Kim Tự Tháp (Huy Cận)

Chỉ có trời xanh thay cỏ cây
Mênh mông sa mạc. Cát làm ngày;
Cát làm đêm nữa. Trăng phơi át
Sao sáng đằng xa hay cát bay?
Vua chúa không yên chịu cát vùi
Trăm kim tự tháp đá chen trời.
Năm nghìn năm đứng cười sa mạc,
Nắm chắc trong tay vĩnh viễn rồi!…
– Kim tự tháp! Ngươi thấy gì tự bấy?
– Thấy gió thổi bốn mùa, cát dậy;
Cát vung lên rát mặt thời gian,
– Kim tự tháp! Người vẫn cười ngạo nghễ?
Chấp năm tháng, xoa những đầu thế kỉ?
– Buổi đầu tiên tôi tưởng vậy, say sưa
Không cho ngày tàn, cắm mặt trời trưa
Trên đỉnh nhọn như kim cương lấp loáng
Trên mũ mão đầu Thiên Vương chói rạng.

– Nhưng rồi sao, Kim tự tháp ngàn năm?
– Trong lòng tôi một xác ép vua nằm;
Dưới chân tôi vạn thần dân chết lụi.
Vua muốn thắng thời gian vòi vọi
Nằm yên trong giấc đá, kín bưng.
Suốt đời vua lo chỗ ngủ cuối cùng,
Ôm cái chết mong thắng dần cái chết.
Thời gian thổi, hồn vua không sợ rét;
Mặt trời quay, trục tháp chẳng mòn xoay.
Vua ngủ yên nhưng tôi thức đêm ngày;
Cát, cát, cát nổi từng cơn dữ dội,
Cát thổi đập vào mình tôi nhức nhối.
Tôi thức vua cho vua biết: giữa trăng sao
Hạn nằm trong vĩnh viễn chẳng còn bao
“Dậy vua ơi! Cái chết chẳng thể rào
Được cái chết”. Vua ngủ mê giấc đá
Lở chân trời nhiều bạn tôi tàn tạ,
Hất ra ngoài vĩnh viễn xác vua phơi…
Tôi thấy thời gian rúng lạnh bốn chân tôi…
– Ngươi còn thấy những gì, Kim tự tháp?
– Từng thế kỉ những đoàn người cúi rạp
Dưới chân tôi rồi biến mất mù tăm…
Nhưng cũng đôi khi có những trán đăm đăm
Soi vằng vặc vào mặt tôi mà hỏi:
“Chất cái chết lên cao, trên mấy tầng mây nổi
Đã tấc nào thành sự sống hay chưa,
Hỡi nghìn năm Kim tự tháp chơ vơ!”
Tôi chết điếng trong lòng tôi tự đó
Tôi chết sững, chết thêm lần nữa
Trong từng vân, từng thớ đá thân tôi….

– Ngươi thấy gì, Kim tự tháp, nữa thôi?
– May tôi còn thấy giữa muôn trùng gió lộng
Thấy cái chết muốn trở thành sự sống
Cát kêu lên nỗi hoài vọng lớn lao:
Là cái chết khô, cát muốn hoá tế bào
Của tươi mát, thịt da, hoa lá…
Thấy cái sống muốn mọc từ cát đá”.

Trong chiều xanh, rìa sa mạc mênh mông
Ngô đầu mùa phơi phới đâm bông.
Bóng Kim tự tháp trải lên bờ sông mát,
(Chuyện ghi lại bên bờ gió cát)

Ai Cập, 7-1962

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Trò Chuyện Với Kim Tự Tháp” của tác giả Cù Huy Cận. Thuộc danh mục Thơ Huy Cận trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!