Câu thơ tài hoa được nhiều người tìm đọc nhất hôm nay 08/02/2026

Người đưa thư rẽ sang ngõ khác
Để người mắc lỗi với kim đan

Thu sang - Đỗ Trung Lai

Top 20 bài thơ có tổng lượt xem nhiều nhất hôm nay 08/02/2026

Mùa Thương

Mùa Thương

Mùa Thương (Hàn Mặc Tử)

Thơ chưa ra khỏi bút
Giọt mực đã rụng rồi…
Lòng tôi chưa kịp nói,
Giấy đã toát mồ hôi…

Thương là thương da diết,
Tôi hiểu nghĩa buồn chưa?
Trăng. Trăng là ánh sáng
Tương tư đã bốn mùa…

Cách xa không vói được,
Cắn áo để tức mình,
Khóc cho trào máu mắt
Rồi ôm mộng làm thinh…

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Mùa Thương” của tác giả Nguyễn Trọng Trí. Thuộc danh mục Thơ Hàn Mặc Tử trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Than Nước Lụt Bính Ngọ

Than Nước Lụt Bính Ngọ

Than Nước Lụt Bính Ngọ (Tú Xương)

Thử xem một tháng mấy lần mưa,
Ruộng hoá ra sông nước trắng bừa (bờ).
Bát gạo Đồng Nai kinh chuyện cũ,
Con thuyền Quí Tị nhớ năm xưa.
Trâu bò buộc cẳng coi buồn nhỉ!
Tôm tép văng mình đã sướng chưa?
Nghe nói miền Nam trời đại hạn,
Sao không san sẻ nước cho vừa?

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Than Nước Lụt Bính Ngọ” của tác giả Trần Tế Xương. Thuộc danh mục Thơ Tú Xương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Du Cổ Tự

Du Cổ Tự

Du Cổ Tự (Hồ Xuân Hương)

Thầy tớ thong dong dạo cảnh chùa
Cầm thư lưng túi rượu lưng hồ
Cá khe lắng kệ đầu ngơ ngác
Chim núi nghe kinh cổ gật gù
Then cửa từ bi nêm chật cánh
Nén hương tế độ cắm đầy lò
Nhà sư ướm hỏi nhà sư tí
Phúc đức nhà ngươi được mấy bồ

(Bản khắc 1914)

Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Vịnh thiền
Câu 1: Thầy tớ thong dong tới cửa chùa
Câu 6: Triện hương tế độ cắm đầy lò

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Du Cổ Tự” của tác giả Hồ Xuân Hương. Thuộc tập Thơ Nôm Truyền Tụng, danh mục Thơ Hồ Xuân Hương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Văn Tế Tống Chung

Văn Tế Tống Chung

Văn Tế Tống Chung (Tản Đà)

(Vì mấy người con làm tế tống chung ông thân sinh là cụ Lại mục đã về hưu. Nguyên cụ Lại trải giúp việc hai châu, theo việc chính được hơn 20 năm, nhờ ân nước được mày-đay ngân đỉnh; sống 63 tuổi, giai, gái, dâu, rể đủ cả. Sau lúc đã hưu chí, về ở tại làng sở tại châu Thanh Sơn là chỗ tùng chinh trước)

Than ôi!
Trăm năm trong cõi trần ai; sinh tử cũng là thường, dẫu tháng bớt ngày thêm cha chẳng quản
Một lễ dưới toà linh cữu; họp tan này đến lúc, nghĩ tình sau ân trước dạ khôn đành
Ba tiếng khóc thương
Hai hàng lệ rủ
Nhớ cha xưa
Hoa hàn nếp cũ
Văn bút tài cao
Đức hậu hiền hoà
Cần năng mẫn cán
Buổi gặp gỡ đất xui nên vận
Tính phong lưu giời cũng chiều người
Hai mươi năm lộc nước ân vua, bội tinh ngân đĩnh
Đôi ba quận tiếng cầm cân án, nước biếc non xanh
Nha thự thơm danh
Gia đình ấm phúc
Nào giầu, nào sang, nào khang, nào thọ, thú nhân sinh sáu chục có hơn thừa
Này giai, này gái, này rể, này dâu, đường tử tính bốn bề xem vẹn đủ
Thanh nhàn giở gót, đường mây xe hạc bước tiên du
Phong cảnh vì ai, cỏ thảm huê sầu nơi khách thổ
Các con nay
Xót niềm ly cách
Nhớ đức cù lao
Nỗi chung thiên đòi đoạn mối tơ vò
Lối cửu địa tiễn đưa chiều khói ngút
Kính thành gọi chút
Xa khuất từ đây
Đỉnh non Vân mây trắng một mầu, khôn pha lệ đỏ
Dòng sông Bứa nước xanh trăm khúc, thêm quặn lòng son
Thương ôi!

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Văn Tế Tống Chung” của tác giả Nguyễn Khắc Hiếu. Thuộc tập Khối Tình Con > Quyển II (1918), danh mục Thơ Tản Đà trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Tập thơ Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của nhà thơ Lê Ngô Cát phần 1

Tập thơ Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca là một tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Lê Ngô Cát. Nhân sáng kiến của một người học trò tỉnh Bắc Ninh dâng quyển Sử ký quốc ngữ ca, Tự Đức muốn có một quyển lịch sử bằng văn vần quốc âm, và Lê Ngô Cát được Phan Thanh Giản tiến cử. Hãy cùng nhau theo dõi bài viết nhé!

Nội Dung

Mở đầu
Nghìn thu gặp hội thăng bình,
Sao Khuê sáng vẻ văn minh giữa trời.
Lan đài dừng bút thảnh thơi,
Vâng đem quốc ngữ diễn lời sử xanh.
Nam Giao là cõi ly minh,
Thiên thư định phận rành rành từ xưa.
Phế hưng đổi mấy cuộc cờ,
Thị phi chép để đến giờ làm gương.
Kinh Dương Vương
Kể từ trời mở viêm bang,
Sơ đầu có họ Hồng Bàng mới ra.
Cháu đời Viêm đế thứ ba,
Nối dòng Hoả đức gọi là Đế Minh.
Quan phong khi giá Nam hành,
Hay đâu Mai Lĩnh duyên sinh Lam Kiều,
Vụ tiên vừa thuở đào yêu,
Xe loan nối gót, tơ điều kết duyên.
Dòng thần sánh với người tiên,
Tinh anh nhóm lại, thánh hiền nối ra,
Phong làm quân trưởng nước ta,
Tên là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương.
Hoá cơ dựng mối luân thường.
Động đình sớm kết với nàng Thần long.
Bến hoa ứng vẻ lưu hồng
Sinh con là hiệu Lạc Long trị vì.
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Lạc Long lại sánh ưu ky.
Trăm trai điềm ứng hùng bi lạ dường.
Noãn bào dù chuyện hoang đường,
Ví xem huyền điểu sinh Thương khác gì?
Đến điều tan hợp cũng kỳ,
Há vì thuỷ hoả sinh ly như lời,
Chia con sự cũng lạ đời,
Quy sơn, quy hải khác người biệt ly.
Lạc Long về chốn Nam thuỳ,
Âu Cơ sang nẻo Ba Vì Tản Viên.
Chủ trương chọn một con hiền,
Sửa sang việc nước nối lên ngôi rồng.
Hùng Vương và nước Văn Lang
Hùng Vương đô ở châu Phong,
Đấy nơi Bạch Hạc hợp dòng Thao giang.
Đặt tên là nước Văn Lang,
Chia mười lăm bộ, bản chương cũng liền.
Phong Châu, Phúc Lộc, Chu Dên,
Nhận trong địa chí về miền Sơn Tây;
Định Yên, Hà Nội đổi thay,
Đấy châu Giao Chỉ xưa nay còn truyền.
Tân Hưng là cõi Hưng, Tuyên,
Vũ Ninh tỉnh Bắc, Dương Tuyền tỉnh Đông;
Thái, Cao hai tỉnh hỗn đồng,
Đấy là Vũ Định tiếp cùng biên manh;
Hoài Hoan: Nghệ; Cửu Chân: Thanh;
Việt Thường là cõi Trị, Bình Trung Châu.
Lạng là Lục Hải thượng du
Xa khơi Ninh Hải thuộc vào Quảng Yên.
Bình Văn, Cửu Đức còn tên,
Mà trong cương giới sơn xuyên chưa tường.
Trước sau đều gọi Hùng Vương,
Vua thường nối hiệu, quan thường nối tên.
Lạc Hầu là tướng điều nguyên,
Vũ là Lạc Tướng giữ quyền quân cơ;
Đặt quan Bồ Chinh hữu tư
Chức danh một bực, đẳng uy một loài.
Giao thiệp với Trung Hoa
Vừa khi phong khí sơ khai,
Trinh nguyên xẩy đã gặp đời Đế Nghiêu.
Bình Dương nhật nguyệt rạng kiêu,
Tấm lòng quỳ, hoắc cũng đều hướng dương.
Thần Quy đem tiến Đào Đường,
Bắc Nam từ ấy giao bang là đầu.
Man dân ở chốn thượng lưu,
Lấy nghề chài lưới làm điều trị sinh.
Thánh nhân soi xét vật tình,
Đem loài thuỷ quái vẽ mình thổ nhân.
Từ sau tục mới văn thân,
Lợi dân đã dấy, hại dân cũng trừ.
Dõi truyền một mối xa thư,
Nước non đầm ấm, mây mưa thái bình.
Vừa đời ngang với Chu Thành,
Bốn phương biển lặng, trời thanh một mầu.
Thử thăm Trung Quốc thể nào,
Lại đem bạch trĩ dâng vào Chu Vương.
Ba trùng dịch lộ chưa tường,
Ban xe tí ngọ chỉ đường Nam quy.
Chuyện Phù Đổng Thiên Vương
Sáu đời Hùng vận vừa suy,
Vũ Ninh có giặc mới đi cầu tài,
Làng Phù Đổng có một người,
Sinh ra chẳng nói, chẳng cười trơ trơ.
Những ngờ oan trái bao giờ.
Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân.
Nghe vua cầu tướng ra quân,
Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngang.
Lời thưa mẹ, dạ cần vương.
Lấy trung làm hiếu một đường phân minh.
Sứ về tâu trước thiên đình,
Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tiến vào.
Trận mây theo ngọn cờ đào,
Ra uy sấm sét, nửa chiều giặc tan.
Áo nhung cởi lại Linh San,
Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên.
Miếu đình còn dầu cố viên,
Chẳng hay chuyện cũ lưu truyền có không?
Chuyện Sơn Tinh và Thuỷ Tinh
Lại nghe trong thủa Lạc Hùng
Mị Châu có ả tư phong khác thường,
Gần xa nức tiếng cung trang.
Thừa long ai kẻ đông sàng sánh vai?
Bỗng đâu vừa thấy hai người,
Một Sơn Tinh với một loài Thuỷ Tinh,
Cầu hôn đều gửi tấc thành,
Hùng Vương mới phán sự tình một hai.
Sính nghi ước kịp ngày mai,
Ai mau chân trước, định lời hứa anh.
Trống lầu vừa mới tan canh,
Kiệu hoa đã thấy Sơn Tinh chực ngoài.
Ước sao lại cứ như lời,
Xe loan trăm cỗ đưa người nghi gia.
Cung đàn tiếng địch xa xa,
Vui về non Tản, oán ra bể Tần.
Thuỷ Tinh lỡ bước chậm chân,
Đùng đùng nổi giận, đem ân làm thù.
Mưa tuôn gió thổi mịt mù,
Ào ào rừng nọ, ù ù núi kia,
Sơn thần hoả phép cũng ghê,
Lưới giăng dòng Nhị, phen che ngàn Đoài.
Núi cao sông cũng còn dài,
Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen.
Chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung
Bổ di còn chuyện trích tiên,
Có người họ Chử ở miền Khoái Châu.
Ra vào nương náu Hà Châu.
Phong trần đã trải mấy thâu cùng người.
Tiên Dung gặp buổi đi chơi,
Giỏ đưa Đằng Các, buồm xuôi Nhị Hà,
Chử Đồng ẩn chốn bình sa
Biết đâu gặp gỡ lại là túc duyên.
Thừa lương nàng mới dừng thuyền,
Vây màn tắm mát kề liền bên sông.
Người thục nữ, kẻ tiên đồng,
Tình cờ ai biết vợ chồng duyên ưa.
Giận con ra thói mây mưa,
Hùng Vương truyền lịnh thuyền đưa bắt về.
Non sông đã trót lời thề,
Hai người một phút hoá về Bồng Châu,
Đông An, Dạ Trạch đâu đâu,
Khói hương nghi ngút truyền sau muôn đời.
Hết đời Hồng Bàng
Bể dâu biến đổi cơ trời,
Mà so Hồng Lạc lâu dài ai hơn?
Kể vua mười tám đời truyền,
Hai ngàn năm lẻ vững bền khôn lay.
Một dòng phụ đạo xưa nay,
Trước ngang Đường Đế sau tầy Noãn Vương.

1. Thần Kim quy giúp vua Thục

Thục từ dứt nước Văn Lang
Đổi tên Âu Lạc, mới sang Loa thành.
Phong Khê là đất Vũ Ninh,
Xây thôi lại lở, công trình biết bao
Thục Vương thành ý khẩn cầu,
Bỗng đâu giang sứ hiện vào kim quy.
Hoá ra thưa nói cũng kỳ,
Lại tường cơn cớ bởi vì yêu tinh.
Lại hay phù phép cũng linh,
Vào rừng sát quỷ, đào thành trừ hung.
Thành xây nửa tháng mà xong.
Thục vương cảm tạ tấm lòng hiệu linh.
Lại bàn đến sự chiến tranh,
Vuốt thiêng để lại tạ tình quân vương.
Dặn sau làm máy Linh Quang,
Chế ra thần nỏ, dự phòng việc quân.

2. Trung Hoa đánh Âu Lạc

Bấy giờ gặp hội cường Tần,
Tằm ăn lá Bắc, toan lần cành Nam.
Châu Cơ muốn nặng túi tham,
Đồ Thư, Sử Lộc sai làm hai chi.
Lĩnh Nam mấy chốn biên thuỳ,
Quế Lâm, Tượng quận thu về bản chương.
Đặt ra uý, lịnh rõ ràng,
Họ Nhâm, họ Triệu sai sang giữ gìn.
Hai người thống thuộc đã quen,
Long Xuyên, Nam Hải đôi bên lấn dần.
Chia nhau thuỷ bộ hai quân,
Tiên du ruổi ngựa, Đông tân đỗ thuyền.
Thục vương có nỏ thần truyền,
Muôn quân buông một lượt tên còn gì?
Nhâm Hiêu mắc bệnh trở về,
Triệu Đà lại khiến sứ đi xin hoà.
Bình giang rạch nửa sơn hà
Bắc là Triệu uý, Nam là Thục vương.

3. Trọng Thuỷ và Mị Châu

Mặt ngoài hai nước phân cương,
Mà trong Triệu là mượn đường thông gia,
Nghĩ rẳng: Nam Bắc một nhà;
Nào hay hôn cấu lại ra khấu thù.
Thục cơ tên gọi Mị Châu
Gả cho Trọng Thuỷ, con đầu Triệu vương.
Trăm năm đã tạc đá vàng,
Ai ngờ thế tử ra đàng phụ ân.
Tóc tơ tỏ hết xa gần.
Thừa cơ đem máy nỏ thần đổi đi,
Tỉnh thân giả tiếng Bắc quy.
Đinh ninh dặn hết mọi bề thuỷ chung
Rằng: “Khi đôi nước tranh hùng,
Kẻ Tần người Việt tương phùng đâu đây?
Trùng lai dù hoạ có ngày,
Nga mao xin nhận dấu này thấy nhau.”
Cạn lời, thẳng ruổi vó câu,
Quản bao liễu oán, hoa sầu nẻo xa.

4. Triệu Đà diệt Thục

Giáp binh sắp sẵn từ nhà,
Về cùng Triệu uý, kéo ra ải Tần,
An dương cậy có nỏ thần.
Vi kỳ còn hãy ham phần vui chơi,
Triệu quân ruổi đến tận nơi.
Máy thiêng đã mất, thế người cũng suy.
Vội vàng đến lúc lưu ly,
Còn đem ái nữ đề huề sau yên
Nga mao vẫn cứ lời nguyền,
Để cho quân Triệu theo liền bông tinh.
Kim quy đâu lại hiện linh;
Mới hay giặc ở bên mình không xa,
Bây giờ Thục chúa tỉnh ra,
Dứt tình, phó lưỡi Thái a cho nàng,
Bể Nam đến bước cùng đường,
Văn tê theo ngọn suối vàng cho xuôi.
Tính ra nước Thục một đời,
Ở ngôi vừa được năm mươi năm tròn.
Nghe thần rồi lại tin con;
Cơ mưu chẳng nhiệm, thôi còn trách ai?

Triệu Vũ Vương thần phục nhà Hán
Triệu Vương thay nối ngôi trời,
Định đô cứ hiểm đóng ngoài Phiên ngu.
Loạn Tần gặp lúc Ngư Hồ,
Trời nam riêng mở dư đồ một phương.
Rồng Lưu bay cõi Phiếm dương,
Mới sai Lục Giả đem sang ấn phù.
Cõi nam lại cứ phong cho,
Biên thuỳ gìn giữ cơ đồ vững an.
Gặp khi gà Lữ gáy càn,
Chia đôi Hán, Việt lại toan sinh lòng.
Vì ai cấm chợ ngăn sông,
Để cho dứt nẻo quan thông đôi nhà.
Thân chinh hỏi tội Tràng Sa
Mân, Âu muôn dặm mở ra một lần.
Hán Văn lấy đức mục lân,
Sắc sai Lục Giả cựu thần lại sang.
Tỉ thư một bức chiếu vàng,
Ngỏ điều ân ý, kể đường thuỷ chung.
Triệu vương nghe cũng bằng lòng,
Mới dâng tạ biểu một phong vào chầu.
Ngoài tuy giữ lễ chư hầu,
Trong theo hiệu đế làm đầu nước ta.
Trăm hai mươi tuổi mới già,
Tính năm ngự vị kể già bảy mươi.
Triệu Văn Vương và Triệu Minh Vương
Văn Vương vừa nối nghiệp đời,
Lửa binh đâu lại động ngoài biên cương.
Phong thư tâu với Hán hoàng,
Nghĩa thanh sớm đã giục đường cất quân.
Vương Khôi vâng lịnh tướng thần,
Ải lang quét sạch bui trần một phương.
Hán đình có chiếu ban sang,
Sai con Triệu lại theo đường cống nghi.
Xe rổng phút bỗng mây che,
Minh vương ở Hán lại về nối ngôi.
Bợm già bỗng rấm hoạ thai,
Vợ là Cù thị vốn người Hàm đan
Khuynh thành quen thói hồng nhan,
Đã chuyên sủng ái lại toan tranh hành.
Dâng thư xin với Hán đình,
Lập con thế tử, phong mình cung phi.
Cù Thị xin nhập Hán
Ai Vương thơ ấu nối vì,
Mẹ là cù hậu, nhiều bề riêng tây.
Cầu phong đã rắp những ngày,
Ngoài thông Bắc sứ trong gầy lệ giai.
Khéo đâu dắt díu lạ đời,
Sứ là Thiếu Quý vẫn người tình nhân.
Hoa tàn lại bén hơi xuân,
Giao hoan đôi mặt, hoà thân một lòng.
Nghĩ rằng: về Hán là xong,
Tình riêng phải mượn phép công mới già.
Làm thư gửi sứ đưa qua;
Mẹ con đã sắm sửa ra sang chầu.
Lữ Gia phá mưu Cù Thị
Lữ Gia là tướng ở đầu.
Đem lời can gián bây mưu xa gần.
Một hai ngăn đón hành trần:
“Để cho Triệu bích về Tần sao nên.”
Nàng Cù đã quyết một bên.
Lại toan mượn lấy sứ quyền ra tay.
Tiệc vui chén cúc giở say,
Mắt đưa cao thấp, giáo lay dùng dằng.
Đang khi hoan yến nửa chừng,
Lữ Gia biết ý ngập ngừng bước ra.
Chia quân cấm lữ về nhà,
Tiềm mưu mới họp năm ba đại thần.
Đôi bên hiềm khích thêm phần
Mụ Cù yếu sức, sứ thần non gan.
Hán đánh Nam Việt
Vũ thư đạt đến Nam Quan,
Hán sai binh mã hai ngàn kéo sang
Lữ Gia truyền hịch bốn phương:
Nỗi Hưng thơ dại, nỗi nàng dâm ô;
Tình riêng chim Việt ngựa Hồ,
Chuyên vần báu ngọc các đồ sạch không.
Rắp toan bán nước làm công.
Quên ơn thủa trước, không lòng mai sau.
Cũng tuồng Lữ Trĩ khác đâu,
Chồi non chẳng bẻ, rễ sâu khó đào.
Quan binh một trận đổ vào,
Lửa nào tiếc ngọc, nắng nào tiếc hoa.
Nhà Triệu mất
Vệ Dương lên nối nghiệp nhà,
Trong là quốc nạn, ngoài là địch nhân.
Hai nghìn giết sạch Hán quân,
Đem cờ sứ tiết để gần ải quan.
Tạ từ giả tiếng nói van,
Mấy nơi yếu hại sai quan đề phòng,
Bỗng đâu Hán lại tiếp sang,
Một kỳ tịnh tiến, năm đường giáp công.
Trong thành một ngọn lửa thông,
Chiêu hàng ngoài mạc, hội đồng các dinh.
Chạy ra lại gặp truy binh,
Vệ vương, Lữ tướng buộc mình cửa hiên.
Kể từ Triệu lịch kỷ niên,
Năm ngoài chín chục, ngôi truyền năm vua.
Trách ai gây việc tranh đua,
Vắn đài vận nước, được thua cơ trời.

Chính sách nhà Tây Hán
Giao Châu mới thuộc nước người,
Dấy về Tây Hán là đời Nguyên Phong.
Bản đồ vào sách hỗn đồng,
Đất chia chín quận, quan phong thú thần.
Đầu sai Thạch Đái trị dân,
Cầm quyền tiết việt giữ phần phong cương.
Tuần tuyên mới có Tích Quang,
Dạy dân lễ nghĩa theo đường hoa phong.
Nhâm Diên khuyên việc canh nông,
Đổi nghề ngư liệp về trong khuê điền.
Sính nghi lại giúp bổng tiền,
Khiến người bần khổ thoả nguyền thất gia.
Văn phong nhức dấy gần xa,
Tự hai hiền thú ấy là khai tiên.
Luân hồi trăm có dư niên,
Trải qua Đông Hán thừa tuyên mấy người.
Hai bà Trưng dựng nền độc lập
Đường ca lâu đã vắng lời,
Đến như Tô Định là người chí hung.
Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành.
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh nam riêng một triều đình nước ta.
Ba thu gánh vác sơn hà,
Một là báo phục, hai là bá vương.
Uy thanh động đến Bắc phương.
Hán sai Mã Viện lên đường tiến công.
Hồ Tây đua sức vẫy vùng,
Nữ nhi chống với anh hùng được nao?
Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo,
Chị em thất thế cũng liều với sông.
Phục Ba mới dựng cột đồng,
Ải quan truyền dấu biên công cõi ngoài.
Trưng vương vắng mặt còn ai?
Đi về thay đổi mặc người Hán quan.

Chính sách nhà Đông Hán
Trải Minh, Chương đến Hiếu, An,
Tuần lương đã ít, tham tàn thiếu đâu.
Mới từ Thuận đế về sau,
Đặt quan thứ sử thuộc vào chức phương.
Kìa như Phàn Diễn, Giả Xương,
Chu Ngu, Lưu Tảo dung thường kể chi.
Trương Kiều thành tín phủ tuy,
Chúc Lương uy đức, man di cũng gần.
Hạ Phương ân trạch ngấm nhuần,
Một châu tiết việt hai lần thừa tuyên.
Lý Tiến, Lý Cầm làm quan nhà Hán
Tuần lương lại có Mạnh Kiên,
Khúc ca Giả phủ vang miền trung châu.
Ba năm thăng trạc về chầu,
Thổ quan Lý Tiến mới đầu Nam nhân.
Sở kêu: “Ai chẳng vương thần,
Sĩ đồ chi để xa gần khác nhau?”
Tình từ động đến thần lưu,
Chiếu cho cống sĩ bổ châu huyện ngoài.
Lý Cầm chầu chực điện đài,
Nhân khi Nguyên đán kêu lời xa xôi.
Rằng: “Sao phủ tái hẹp hòi?
Gió mưa để một cõi ngoài Viêm phương”.
Tấm thành cũng thấu quân vương,
Trung châu lại mới bổ sang hai người.
Nước Nam mấy kẻ nhân tài,
Mới cùng người Hán chen vai từ rày.
Họ Sĩ tự chủ
Lửa lò Viêm Hán gần bay,
Thế chia chân vạc, nào hay cơ trời.
Tranh nhau ba nước ba nơi,
Cầm quyền sinh sát mặc người phong cương.
Nho lưu lại có Sĩ vương,
Khơi nguồn Thù Tứ, mở đường lễ văn.
Phong tiêu rất mực thú thần,
Sánh vai Đậu Mục, chen chân Triệu Đà.
Sĩ Huy nối giữ tước nhà,
Dứt đường thông hiếu, gây ra cừu thù.
Cửa hiên phút bỗng hệ tù,
Tiết mao lại thuộc về Ngô từ rày.
Bà Triệu Ấu đánh Ngô
Binh qua trải bấy nhiêu ngày,
Mới sai Lục Dận sang thay phiên thần.
Anh hùng chán mặt phong trần,
Nữ nhi lại cũng có lần cung đao.
Cửu chân có ả Triệu kiều,
Vú dài ba thước tài cao muôn người.
Gặp cơn thảo muội cơ trời,
Đem thân bồ liễu theo loài bồng tang.
Đầu voi phất ngọn cờ vàng,
Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông pha.
Chông gai một cuộc quan hà,
Dù khi chiến tử còn là hiển linh.
Ngô Tấn tranh nhau Giao Châu
Từ giờ Ngô lại tung hoành,
Đặt làm Giao, Quảng hai thành mới phân.
Tôn Tư rồi lại Đặng Tuân,
Lữ Hưng, Dương Tắc mấy lần đổi thay.
Đổng Nguyên, Lưu Tuấn đua tay,
Kẻ Ngô, người Tấn những ngày phân tranh.
Đào Hoàng nối dựng sứ tinh,
Tân Xương, Cửu Đức, Vũ Bình lại chia.
Mười năm chuyên mặt phiên ly,
Uy gia bốn cõi, ân thuỳ một châu.
Khi đi, dân đã nguyện lưu,
Khi già, thương khóc khác nào từ thân.
Chính sách nhà Tấn
Ngô công nối dấu phương trần,
Hai mươi năm lẻ nhân tuần cũng yên.
Dân tình cảm kết đã bền,
Tước nhà Cố Bật lại truyền Cố Tham.
Dân tình khi đã chẳng kham,
Dẫu là Cố Thọ muốn làm ai nghe.
Quận phù lại thuộc Đào Uy,
Rồi ra Đào Thục, Đào Tuy kế truyền.
Bốn đời tiết việt cầm quyền,
Phiên bình muôn dặm, trung hiền một môn.
Tham tàn những lũ Vương Ôn,
Binh qua nối gót, nước non nhuộm trần.
Tấn sai đô đốc tướng quân,
Sĩ Hành là kẻ danh thần chức cao.
Dẹp yên rồi lại về trào,
Uy danh nào kém họ Đào thuở xưa.
Nguyễn Phu tài trí có thừa,
Phá năm mươi luỹ tảo trừ giặc Man.
Họ Đỗ ba đời làm thứ sử
Châu diên lại có thổ quan,
Đỗ công tên Viện dẹp đoàn Cửu Chân.
Tướng môn nối chức phiên thần,
Con là Tuệ Độ thêm phần uy danh.
Bổng riêng tán cấp cùng manh,
Cơm rau áo vải như hình kẻ quê.
Dâm từ cấm thói ngu mê,
Dựng nhà học hiệu giảng bề minh luân.
Ân uy ra khắp xa gần,
Cửa thành đêm mở, gió xuân một trời.
Hoàng Văn phủ ngữ cũng tài,
Một nhà kế tập ba đời tuần lương.
Giao Châu loạn
Đến triều Lưu Tống hưng vương,
Hoà Chi, Nguyên Cán sai sang hội đồng.
Đuổi Dương Mai, giết Phù Long,
Khải ca một khúc tấu công về trào.
Gió thu cuốn bức chinh bào,
Y thường một gánh, quy thiều nhẹ không.
Từ khi vắng kẻ chiết xung,
Tràng Nhân, Lưu Mục tranh hùng mấy phen.
Pháp Thừa cũng chức tuần tuyên,
Những chăm việc sách để quyền lại ty.
Dưới màn có Phục Đăng Chi,
Cướp quyền châu mục, lộng uy triều đình.
Tề suy, Nguyên Khải tung hoành,
Hùng phiên chiếm giữ cô thành một phương.
Bắc triều đã thuộc về Lương,
Lại sai Lý Thốc chiêu hàng nẻo xa.
Giao châu một giải sơn hà,
Ái Châu lại mới đặt ra từ rày.

1. Lý Nam Đế dựng nền độc lập

Kể từ Ngô, Tấn lại đây,
Hai trăm mười bốn năm chầy cát phân.
Cỏ cây chan chứa bụi trần,
Thái bình mới có Lý Phần hưng vương.
Vốn xưa nhập sĩ nước Lương,
Binh qua gặp lúc phân nhương lại về.
Cứu dân đã quyết lời thề,
Văn thần, vũ tướng ứng kỳ đều ra,
Tiêu Tư nghe gió chạy xa,
Đông tây muôn dặm quan hà quét thanh.
Vạn Xuân mới đặt quốc danh,
Cải nguyên Thiên Đức, đô thành Long Biên.
Lịch đồ vừa mới kỷ niên,
Hưng vương khí tượng cũng nên một đời.
Quân Lương đâu đã đến ngoài,
Bá Tiên là tướng đeo bài chuyên chinh.
Cùng nhau mấy trận giao binh,
Thất cơ Tô Lịch, Gia Ninh đôi đường.
Thu quân vào ở Tân Xương,
Để cho Quang Phục chống Lương mặt ngoài.
Mới hay “nhật phụ mộc lai,”
Sấm văn trước đã an bài những khi.

2. Triệu Quang Phục phá Lương

Bấy giờ Triệu mới thừa ky,
Cứ đầm Dạ Trạch, liệu bề tấn công.
Lý vương phút trở xe rồng,
Triệu Quang Phục mới chuyên lòng kinh doanh.
Hương nguyền trời cũng chứng minh,
Rông vàng trao vuốt giắt vành đầu mâu.
Từ khi long trảo đội đầu,
Hổ hùng thêm mạnh, quân nào dám đương.
Bá Tiên đã trở về Lương,
Dương Sằn còn ở chiến trường tranh đua.
Một cơn gió bẻ chồi khô,
Ải lang dứt dấu ngựa Hồ vào ra,
Bốn phương phẳng lặng can qua,
Theo nền nếp cũ, lại ra Long Thành.

3. Lý Phật Tử đánh Triệu Quang Phục

Lý xưa còn có một cành,
Tên là Thiên Bảo náu mình Ai Lao.
Chiêu binh lên ở Động Đào,
Họ là Phật Tử cũng vào hội minh.
Đào lang lại đổi quốc danh,
Cũng toan thu phục cựu kinh của nhà.
Cành dâu mây toả bóng tà,
Bấy giờ Phật Tử mới ra nối dòng,
Rừng xanh gió phất cờ hồng,
Đề binh kéo xuống bẹn sông tung hoành.
Triệu vương giáp trận Thái Bình,
Lý thua rồi mới thu binh xin hoà.
Triệu về Long Đỗ, Nhị hà,
Lý về Hạ mỗ, ấy là Ô Diên.
Hai nhà lại kết nhân duyên,
Nhã lang sánh với gái hiền Cảo nương.
Có người: Hống, Hát họ Trương,
Vũ biền nhưng cũng biết đường cơ mưu.
Rằng: “Xưa Trọng Thuỷ, Mỵ Châu,
Hôn nhân là giả, khấu thù là chân.
Mảnh gương vãng sự còn gần,
Lại toan rắc mối Châu Trần sao nên?”
Trăng già sao nỡ xe duyên?
Để cho Hậu Lý gây nền nội công.
Tình con rể, nghĩa vợ chồng,
Tin nhau ai biết ra lòng lừa nhau.
Lâu la mới ngỏ tình đâu,
Nhã lang trộm lấy đâu mâu đổi liền.
Trở về giả chước vấn yên,
Giáp binh đâu đã băng miền kéo sang.
Triệu vương đến bước vội vàng,
Tình riêng còn chửa dứt đường cho qua.
Đem con chạy đến Đai nha,
Than thân bách chiến phải ra đường cùng!

4. Lý Phật Tử hàng Tuỳ

Từ nay Phật Tử xưng hùng,
Hiệu là Nam đế nối dòng Lý vương.
Phong châu mới mở triều đường.
Ô Diên, Long Đỗ giữ giàng hai kinh.
Tuỳ sai đại tướng tổng binh,
Lưu Phương là chức quản hành Giao Châu.
Đô long một trận giáp nhau,
Xin hàng Lý phải sang chầu Tấn Dương.
Từ giờ lại thuộc Bắc phương,
Mấy năm Tuỳ loạn rồi Đường mới ra.

Trên đây chúng tôi đã chia sẻ đến quý độc giả tập thơ Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca hấp dẫn của nhà thơ Lê Ngô Cát. Hãy cùng nhau theo dõi và cảm nhận những giá trị của tập thơ này nhé. Mời các bạn đón xem phần 2 vào một ngày gần nhất. Thân Ái!

Ngâm Vịnh (II)

Ngâm Vịnh (II)

Ngâm Vịnh II (Hàn Mặc Tử)

Xuân
Mát mẻ trời xuân cảnh tốt tươi
Thích tính thiếu nữ hé môi cười
Non phơi vẻ gấm hoa chường mặt
Ngọn gió xuân đưa mát cả người

Hạ
Nhành hoa héo hắt rụng bên hè
Lắng khúc đàn Nam não nuột ghê
Thiếu nữ buông rèm ra tắm nắng
Hương đưa theo gió, nức bên hè

Thu
Thuyền ai thấp thoáng giữa tràng giang
Nhạn lạc từng mây cánh vội vàng
Vầng nguyệt đêm thu soi lạnh lẽo
Mỹ nhân nàng hỡi thấu tâm can

Đông
Trắng xoá đầu non tuyết mới đông
Gọi đàn chiu chít nhạn bên sông
Phòng tiêu thiếu nữ nằm xem sách
Hé nụ cười duyên lắm mặn nồng

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Ngâm Vịnh (II)” của tác giả Nguyễn Trọng Trí. Thuộc tập Lệ Thanh Thi Tập, danh mục Thơ Hàn Mặc Tử trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Không Đề (III)

Không Đề (III)

Không Đề III (Xuân Quỳnh)

Sắc lá phong rực vàng lên lần cuối
Trái mùa thu chín vội trước khi xa
Như ngọn đèn lửa bùng lên rực rỡ
ánh hoàng hôn rực cháy trước hiên nhà

Cũng có thể mùa thu chưa hết
Vẫn còn đang lưu luyến khách đi qua
Cũng có thể là tôi đến chậm
Thấy màu mây rừng lá tưởng còn thu

Mạc Tư Khoa 9-1987

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Không Đề (III)” của tác giả Nguyễn Thị Xuân Quỳnh. Thuộc danh mục Thơ Xuân Quỳnh trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Chơi Giữa Mùa Trăng

Chơi Giữa Mùa Trăng

Chơi Giữa Mùa Trăng (Hàn Mặc Tử)

Trăng là ánh sáng? Nhất là trăng giữa mùa thu, ánh sáng càng thêm kỳ ảo, thơm thơm, và nếu người thơ lắng nghe một cách ung dung, sẽ nhận thấy có nhiều miếng nhạc say say gió xé rách lả tả… Và rơi đến đâu, chạm vào thứ gì là chỗ ấy, thứ ấy vang lên tuy chẳng một ai thấy rõ sức rung động. Nghĩa là trăng rằm trung thu: một đêm siêu hình, vô lượng, tượng trưng của một mùa ao ước xây bằng châu lệ, làm bằng chia ly, và hơn nữa, hiện hình của một nguồn khoái lạc chê chán… Phải không hở chàng Ngưu và ả Chức?

Sông? Là một giải lụa bạch, không, là một đường trăng trải chiếu vàng, hai bên bờ là động cát và rừng xanh và hoang vu và thanh tịnh. Chị tôi và tôi đồng cầm một mái chèo con, nhẹ nhàng lùa những dòng vàng trôi trên mặt nước.

Chị tôi cười nả nớt, tiếng cười trong như thuỷ tinh và thanh khiết lạ thường. Luôn luôn cứ hỏi tôi và đố tôi cho kỳ được: “Này, chị đố em nhé, trăng mọc dưới nước hay mọc trên trời, và chúng mình đi thuyền trên trời hay dưới nước?” Tôi ngước mắt ngó lên trời rồi ngó xuống nước và cũng cười đáp lại: “Cả và hai, chị a”. Sướng quá, chao ôi, hai chị em lại thỉnh thoảng rú lên cười làm náo động luồng tinh khí của hạo nhiên.

Vây chúng tôi bằng ánh sáng, bằng huyền diệu, chưa đủ, Ngưu lang và Chức nữ, chúa của đêm trung thu còn sai gió thu mang lại gần chúng tôi một thứ mùi gì ngào ngạt như mùi băng phiến: trong ấy biết đâu lại không phảng phất những tiếng kêu rên của thương nhớ xa xưa… Thuyền đi êm ái quá, chúng tôi cứ ngờ là đi trong vũng chiêm bao, và say sưa ngây ngất vì ánh sáng, hai chị em như đê mê, không còn biết là có mình và nhận mình là ai nữa. Huyền ảo khởi sự. Mỗi phút trăng lên mỗi cao, khí hậu cũng tăng sức ôn hoà lên mấy độ, và trí tuệ, và mộng, và thơ, và nước, và thuyền dâng lên, đồng dâng lên như khói… Ở thượng tầng không khí, sông Ngân Hà trinh bạch đương đắm chìm các ngôi sao đi lạc đường. Chị tôi bỗng reo to lên: “Đã gần tới sông Ngân rồi! Chèo mau lên em! Ta cho thuyền đậu ở bến Hàn giang!”

Đi trong thuyền, chúng tôi có cái cảm tưởng lý thú là đương chở một thuyền hào quang, một thuyền châu ngọc, vì luôn luôn có những vì tinh tú hình như rơi rụng xuống thuyền…

Trên kia, phải rồi, trên kia, in hình có một vì tiên nữ đang kêu thuyền để quá giang.

Thình lình vùng mộng của chúng tôi bớt vẻ sáng lạn. Chị tôi liền chỉ tay về phía bến đò thôn Chùa Mo[1] và bảo tôi rằng: “Thôi rồi! Trí ơi! Con trăng nó bị vướng trên cành trúc kia kìa, thấy không? Nó gỡ mãi mà không sao thoát ra được, biết làm thế nào, hở Trí”. Tôi cười: “Hay là chị em ta cho thuyền đỗ vào bến này, rồi ta trèo lên động cát với tay gỡ hộ cho trăng thoát nạn”. Hai chị em liền giấu thuyền trong một bụi hoa lau bông vàng phơi phới, rồi cùng lạc vào một đường lối rất lạ, chân dẫm lên cát mà cứ ngỡ là bước trên phiến lụa. Nước suối chảy ở hang đá trắng, tinh khiết như mạnh nước ngọc tuyền, chồm lên những vừng lá, hễ trông đến là kinh hãi vì ngó giống con bạch hoa xà như tạc…

Sao đêm nay kiều diễm như bức tranh linh động thế này? Tôi muốn hỏi xem chị tôi có thấy ngọt ngào trong cổ họng như vừa uống xong một ngụm nước lạnh, mát đến tê cả lưỡi và hàm răng. Chị tôi làm thinh – mà từng lá trăng rơi lên xiêm áo như những mảnh nhạc vàng. Động là một thứ hòn non bằng cát trắng quá, trắng hơn da thịt của người tiên, của lụa bạch, hơn phẩm giá của tiết trinh – một màu trắng mà tôi cứ muốn lăn lộn điên cuồng, muốn kề môi hôn, hay áp má lên để hưởng sức mát rượi dịu dàng của cát…

Hai chị em đồng dang tay níu áo gượng vào nhau dấn bước lên cao… Thỉnh thoảng mỏi hai đầu gối quá, cả chị liền em đồng ngã lăn ra. Lại một dịp cho tiếng cười của chị tôi được nở ra, giòn tan trong không khí. Lên tới đỉnh là hao mòn đi một ít. Nhưng mà ngợp quá sáng quá, hứng trí làm sao? Đây có phải là nước Nhược non Bồng, động phủ thần tiên ngàn xưa còn sót lại? Nhìn xuống cát cố tìm dấu tích gì lưu lại một vết chân của Đào Nguyên Tiên nữ, nhưng tấm cát phẳng lờ như lụa căng, trinh bạch làm sao.

Bất tri thử địa hà xứ
Tu tựu Đào Nguyên vấn chủ nhân?

Bây giờ chúng tôi đương ở giữa mùa trăng, mở mắt ra cũng không thấy rõ đâu là chín phương trời, mười phương phật nữa. Cả không gian đều chập chờn những màu sắc phiêu diêu đến nỗi đôi đồng tử của chị tôi và tôi lờ đi vì chói lói… Ở chỗ nào cũng có trăng, có ánh sáng cả, tưởng chừng như bầu thế giới chở chúng tôi đây cũng đang ngập lụt trong trăng và đang trôi nổi bình bồng đến một địa cầu nào khác.

Ánh sáng tràn trề, ánh sáng tràn lan, chị tôi và tôi đều ngả vạt áo ra bọc lấy, như bọc lấy đồ châu báu… Tôi bỗng thấy chị tôi có vẻ thanh thoát quá, tinh khôi, tươi tốt và oai nghi như pho tượng Đức Bà Maria là đức tinh truyền chí thánh. Tôi muốn sốt sắng quỳ lạy mong ơn bào chữa. Nhưng trời ơi, sao đêm nay chị tôi đẹp đẽ đến thế này. Nước da của chị tôi đã trắng, mà vận áo quần bằng hàng trắng nữa, trông thanh sạch quá đi.

Tôi nắm tay chị tôi giật lia lịa và hỏi một câu hỏi tức cười làm sao: “Có phải chị không hở chị?”. Tôi run run khi tôi có cái ý nghĩ: Chị tôi là một nàng Ngọc nữ, một hồn ma, hay một yêu tinh. Nhưng tôi lại phì cười và vội reo lên: “A ha, chị Lễ ơi, chị là trăng, mà em đây cũng là trăng nữa!”.

Ngó lại chị tôi và tôi, thì quả nhiên là trăng thiệt. Chị tôi hí hửng như xuân, chạy nhảy xênh xang cơ hồ được dịp phát triển hết cả ngây thơ của người con gái mười lăm tuổi, tôi ngắm mãi chị tôi, và tự vui sướng trong lòng vô hạn. Có lúc tôi đã kiêu ngạo thay cho cái sắc đẹp nhu mì ấy, mà chỉ dưới trời thu đêm nay tôi mới biết thưởng thức. Những phút sáng láng như hôm nay, soi sáng linh hồn tôi, và giải thoát cái “ta” của tôi ra khỏi nơi giam cầm của xác thịt… Tôi bỗng rú lên một cách điên cuồng, và chực ngửa tay hứng một vì sao đang rụng. Chị tôi đằng xa chạy lại bảo tôi:

– Em la to quá, chị sợ âm thanh rung động đến khí trời, rồi những ánh trăng sẽ tan ra bọt mất…

– Không, không, chị ơi! Rồi ánh sáng đêm nay sẽ tan đi, ta sẽ buồn thương và nhớ tiếc. Em muốn bay thẳng lên trời để tìm ánh sáng muôn năm thôi…

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Chơi Giữa Mùa Trăng” của tác giả Nguyễn Trọng Trí. Thuộc tập Chơi Giữa Mùa Trăng (1941), danh mục Thơ Hàn Mặc Tử trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Cái Nhớ

Cái Nhớ

Cái Nhớ (Tú Xương)

Cái nhớ hình dung nó thế nào?
Khiến người ngao ngán, ngẩn ngơ sao!
Biết nhau cho lắm thêm buồn nhé
Để khách bên trời dạ ước ao!

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Cái Nhớ” của tác giả Trần Tế Xương. Thuộc danh mục Thơ Tú Xương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Khám phá những stt nhớ bạn bè thời thơ ấu hay ấn tượng nhất

Stt nhớ bạn bè được nhiều người yêu mến và chia sẻ rầm rộ trong thời gian gần đây. Bạn bè là những người luôn ở bên sát cánh cùng nhau, là người bên ta những ngày từ thuở còn thơ ấu. Nhớ sao những kỉ niệm chơi cùng nhau đuổi bắt, cưỡi trâu trên cánh đồng. Nhưng khi lớn rồi, mỗi người chọn một con đường riêng cho mình và không còn gần nhau nữa. Hãy bày tỏ tình cảm của mình đến những người bạn thông qua stt nhớ này nhé!

Những stt hay về tình bạn thân sẽ là những ca từ đẹp và đầy cảm xúc. Tình bạn luôn là tình cảm thiêng liêng nhất của mỗi chúng ta. Người bạn thân luôn bên cạnh chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống của mình. Hãy gửi tặng người bạn tuyệt vời ấy những stt nhớ đặc sắc này nhé!

1. Hãy chậm rãi trong việc chọn bạn và càng chậm rãi trong việc thay bạn.

2. Hãy đếm tuổi của bạn bằng số bạn bè chứ không phải số năm. Hãy đếm cuộc đời bạn bằng nụ cười chứ không phải bằng nước mắt.

3. Bạn là người ta cảm thấy thoải mái khi ở cùng, ta sẵn lòng trung thành, đem lại cho ta lời chúc phúc và ta cảm thấy biết ơn vì có họ trong đời.

4. Ai cũng lắng nghe điều bạn phải nói. Bạn bè lắng nghe điều bạn nói. Bạn thân lắng nghe điều bạn không nói.

6. Mất đi một người bạn cũng như mất đi một cánh tay. Thời gian có thể chữa lành nỗi đau nhưng sự thiếu hụt không bao giờ được lấp đầy.

7. Để có bạn bè, đầu tiên bạn phải làm một người bạn đã.

8. Một người bạn trung thành là tuyến phòng thủ mạnh mẽ và người tìm thấy anh ta đã tìm thấy một báu vật.

9. Bạn không bao giờ thực sự phân biệt được bạn và thù cho tới khi mặt băng vỡ.

10. Những người bạn giống như những ngôi sao. Họ đến rồi đi. Nhưng những người ở lại mới là những người toả sáng.

11. Một người bạn tốt sẽ nhìn thấy giọt nước mắt đầu tiên, lau đi giọt nước mắt thứ hai và ngăn lại giọt nước mắt thứ ba.

12. Đã có những lúc chúng ta không thể diễn tả được nỗi đau của mình, ngôn ngữ của một người bạn còn có ý nghĩa hơn những gì được nói ra.

13. Một người bạn là người mỉm cười khi bạn cười, vui khi bạn vui, nhưng không khóc khi bạn khóc, vì khi ấy họ còn phải nắm tay và ôm lấy bạn.

14. Những người bạn tốt cũng giống như tài khoản trong ngân hàng niềm tin.Bạn càng giữ được lâu thì càng giá trị.

15. Nếu không có người bạn tốt thì ta khó mà biết được những sai lầm của bản thân.

16. Khi nghĩ về những người bạn đồng hành đã rời ta, chúng ta cảm thấy cô đơn gấp đôi.

17. Tôi mong ước tình bạn có chân, cũng như có mắt và có tài hùng biện. Nó phải tự đứng được trên mặt đất trước khi bước tới cung trăng.

18. Tình bạn chân chính xoá tan sự ghen tỵ, cũng như tình yêu chân chính đánh chết thói đỏm dáng.

Đàn bà nâng niu tình bạn như thủy tinh mà tình bạn lại bị vỡ tan tành.

20. Cha mẹ là của cải, anh em là chỗ dựa, bạn thân là cả hai thứ đó.

21. Hãy nhớ rằng tình bạn là một sự đầu tư khôn ngoan

22. Hãy kết giao với những người giàu nghị lực và có kỷ luật. Hãy giao du với những người có cao vọng và luôn sống tích cực

23. Nếu có một người bạn ngu ngốc thì bạn không cần phải có kẻ thù.

24. Tình bạn tự nó đã là mối dây nối với sự thánh thiện. Và sự nghèo khó sẽ làm nó thêm cao trọng.

25. Cách duy nhất để có bạn bè là chính bản thân mình phải là một người bạn

26. Tình bạn ít ồn ào nhất và khiêm nhường nhất là tình bạn hữu ích nhất.

27. Nếu bạn thấy một người bạn không có nụ cười, hãy lấy nụ cười của mình cho người đó.

28. Phần lớn sức sống của tình bạn nằm trong việc tôn trọng sự khác biệt, không chỉ đơn giản là thưởng thức sự tương đồng.

29. Câu hỏi không phải là liệu bạn có sẵn sàng chết vì bạn mình không, mà là bạn có người bạn nào đáng để mình chết không

30. Bạn là người vươn ra tìm tay ta và chạm đến trái tim ta.

31. Tình bạn nhân đôi niềm vui và chia sẻ nỗi buồn.

32. Thử thách của tình bạn là sự trợ giúp lẫn nhau trong nghịch cảnh và hơn thế, trợ giúp vô điều kiện.

33. Phước thay người nào có tài kết bạn, vì đó là một trong những quà tặng quý nhất của Thượng đế. Món quà này bao gồm nhiều điều hay, nhưng trên hết là khả năng vượt khỏi chính mình.

34. Có tình bạn là có được chiếc chìa khóa mở vào tâm hồn người khác.

35. Đừng che giấu tình yêu và sự dịu dàng của mình cho đến khi bạn lìa đời.

40. Thật tốt hơn cho bạn hữu và cho chính chúng ta, nếu ta bỏ hết các kỳ vọng và ảo tưởng và chấp nhận bạn hữu theo đúng con người của họ.

Những stt về tình bạn hài hước mang đến cho người đọc những tiếng cười thật vui tươi và những phút giây thư giãn tuyệt vời. Hãy theo dõi và cùng nhau cảm nhận ngay bây giờ nhé!

1. Bạn bè
Mày ơi thương lấy tao cùng
Tuy rằng khác lớp nhưng chung 1 đề
Mày cho tao chép tý đê
Kẻo mai tao rớt mặt mày bầm đen

2. Lúc huy hoàng chỉ có tôi và bạn. Lúc hoạn nạn chỉ có bạn và tôi.
Trong cuộc vui ko biết ai là bạn. Lúc hoạn nạn mới biết bạn là ai !!!

4. Đúng nghĩa từ bạn..
Là không thêm từ phản..
Và không bắn đạn sao lưng.

5. Bạn Bè…!
– Lúc bạn cần, tôi có !
– Lúc bạn khó , có tôi !
– Tôi xem bạn , là 1 đứa bạn thân…!
– Bạn xem tôi, là 1 đứa đần !
– Tìm đến tôi, khi bạn cần !
– Và biến dần, khi hết chuyện !

6. – Sống cho đáng ;))
– Đừng vì mù quáng mà đánh mất tình bạn ?
– Tiếp xúc thì Hiểu
– Không chơi thì đừng Phát Biểu

7. Bạn bè ít thôi vừa đủ dùng
Chứ đừng để cả thùng,
Rồi lâm vào đường cùng
Phút cuối cùng nó mới đi cúng.

8. Đã là bạn thì suốt đời là bạn
Đừng như sông lúc cạn lúc vơi

9. Cha mẹ khó nhọc nuôi ta lớn ..
Bạn bè chơi “xấu” khiến ta khôn.

10. Tình bạn, cũng như tình yêu, bị sự thiếu vắng kéo dài phá hủy, dù nó có thể trở nên mạnh mẽ hơn nhờ những xa cách ngắn tạm thời.

11. Một kẻ thù không phải là ít, một trăm người bạn chưa phải là nhiều.

12. Nếu không có người bạn tốt thì ta khó mà biết được những sai lầm của bản thân.

13. Sự phê bình của người bạn còn tốt hơn lời nịnh nọt của kẻ thù.

14. Mỉm cười thì có bạn, nhăn mặt thì có nếp nhăn.

15. Một ngày cho công việc cực nhọc, một giờ cho thể thao, cả cuộc đời dành cho bạn bè cũng còn quá ngắn ngủ

16. Tôi yêu bạn không phải vì bạn là ai, mà là vì tôi sẽ là người thế nào khi ở bên bạn.

17. Tình bạn chân chính xoá tan sự ghen tỵ, cũng như tình yêu chân chính đánh chết thói đỏm dáng

18. Quá xấu với kẻ thù và ít tử tế với bạn bè đều nguy hiểm như nhau.

19. Bạn không bao giờ thực sự phân biệt được bạn và thù cho tới khi mặt băng vỡ.

20. Tình bạn là bầu rượu của cuộc đời: nhưng tình bạn mới…không mạnh cũng không trong.

21. Tình bạn là niềm an ủi có được từ việc biết chắc chắn rằng ngay cả khi bạn cảm thấy rất cô độc thì thực tế bạn không hề cô độc.

22. Người nào làm cho bạn hữu của mình vui, người đó đáng được lên thiên đàng. (Mohammet)

23. Bạn không cần nhiều nhưng luôn có một đứa bạn bất chấp.??

24. Bạn thân là cùng bịa ra những câu chuyện không có thật, kẻ tung người hứng mà chẳng cần trao đổi trước làm ai cũng tin.

25. Bạn thân là đứa cười toe toét mỗi khi tôi bị ngã và nói :.. ” chết đi” … nhưng quay lại kéo tôi đứng dậy .

27. Tôi có rất nhiều mối quan hệ bên ngoài nhưng đối với tôi đó chỉ là ngoài lề. Vì sâu thẳm bẻn trong tôi có một người xem tôi như tri kỷ. Với họ tôi có thể làm bất cứ gì chỉ cần tôi thích. Tôi tin bạn cũng giống tôi.

28. Bạn hãy tin cậy mọi người, họ sẽ trung thành với bạn. Bạn cao thượng với họ, họ sẽ biểu lộ sự cao thượng với bạn. (R.Emerson)

29. Nếu không có người bạn tốt thì ta khó mà biết được những sai lầm của bản thân.

Trên đây, chúng tôi đã dành tặng đến quý độc giả những stt nhớ bạn bè đầy ấn tượng và ý nghĩa. Tình bạn luôn đáng quý trong bất cứ cuộc đời mỗi người, hãy nâng niu và trân trọng mối quan hệ đẹp đẽ này nhé! Đồng hành cùng phongnguyet.info để theo dõi những bài viết đặc sắc nhất! Thân Ái!