Câu thơ tài hoa được nhiều người tìm đọc nhất hôm nay 06/02/2026

Thôi thì cạn nốt chén này
Uống hình nhau để mà say suốt đời
Để cho mong nhớ bời bời
Mưa nguồn rạch chớp chân trời ngùi trông ...
Đắng cay nên mới mặn nồng
Được cười,được khóc
Là không mất gì !

Chia tay Nha Trang - Nguyễn Bùi Vợi

Top 20 bài thơ có tổng lượt xem nhiều nhất hôm nay 06/02/2026

Không Đề 4

Không Đề 4

Không Đề 4 (Thu Bồn)

Em là ráng nên ông trời vàng
Cho anh là gió thổi tràn cung mây
Yêu em anh mới đến đây
Thấy con mắt em sắc quá
Anh sợ đứt cái dây tơ hồng

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Không Đề 4” của tác giả Hà Đức Trọng. Thuộc tập 100 Bài Thơ Tình Nhờ Em Đặt Tên (1992), danh mục Thơ Thu Bồn trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Tình Thứ Nhất

Tình Thứ Nhất

Tình Thứ Nhất (Xuân Diệu)

Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất,
Anh cho em, kèm với một lá thư.
Em không lấy, và tình anh đã mất
Tình đã cho không lấy lại bao giờ.

Thư thì mỏng như suối đời mộng ảo;
Tình thì buồn như tất cả chia ly.
Giấy phong kỹ mang thầm trong túi áo;
Mãi trăm lần viết lại mới đưa đi.

Lòng e thẹn cũng theo tờ vụng dại,
Tới bên em, chờ đợi mãi không về.
Em đã xé lòng non cùng giấy mới,
– Mây đầy trời hôm ấy phủ sơn khê.

Cũng may mắn, lòng anh còn trẻ quá.
Máu mùa xuân chưa nở hết bông hoa;
Vườn mưa gió còn nghe chim rộn rã,
Anh lại còn yêu, bông lựu, bông trà.

Nhưng giây phút đầu say hoa bướm thắm,
Đã nghìn lần anh bắt được anh mơ
Đôi mắt sợ chẳng bao giờ dám ngắm,
Đôi tay yêu không được nắm bao giờ.

Anh vẫn tưởng chuyện đùa khi tuổi nhỏ,
Ai có ngờ lòng vỡ đã từ bao!
Mắt không ướt, nhưng bao hàng lệ rỏ
Len tỉ tê thầm trộm chảy quay vào.

Hoa thứ nhất có một mùi trinh bạch;
Xuân đầu mùa trong sạch vẻ ban sơ.
Hương mới thấm bền ghi như thiết thạch;
Sương nguyên tiêu, trời đất cũng chung mờ.

Tờ lá thắm đã lạc dòng u uất,
Ánh mai soi cũng pha nhạt màu ôi,
Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất
Anh cho em, nên anh đã mất rồi!

Bài thơ tình các bạn vừa xem là bài “Tình Thứ Nhất” của tác giả Ngô Xuân Diệu. Thuộc tập Gửi Hương Cho Gió (1945), danh mục Thơ Xuân Diệu trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Top 20 Bài thơ hay giúp bạn có thêm niềm tin và động lực cố gắng

Top 20 Bài thơ hay giúp bạn có thêm niềm tin và động lực cố gắng

Trong cuộc đời này, có rất nhiều bài thơ hay về cuộc sống mà bạn cần phải đọc ít nhất một lần để suy ngẫm để rút ra kinh nghiệm, bài học cho bản thân mình. Những câu thơ về cuộc sống hay mang nhiều ý nghĩa sẽ là động lực giúp bạn vươn lên, vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc đời, giúp bạn thành công và hoàn thành mục tiêu mình đặt ra. phongnguyet.info xin giới thiệu những bài thơ hay giúp bạn có thêm niềm tin động lực cố gắng.

TÌNH YÊU ĐẾN TỪ NGÓN TAY

Thơ Phan Huy Hùng

(Tặng nàng thơ Thủy Tiên)

Chỉ còn mười đầu ngón tay
Gọi yêu mê say phây búc
Từ cổ đến chân bất lực
Ánh mắt đánh thức vần thơ.

Cuộc đời tưởng như bơ vơ
Ngờ đâu chân tình bước đến
Bàn phím gõ từng điểm hẹn
Niềm vui chen chật tháng ngày …

Động lực ở đầu ngón tay
Hồng hào mặt trời vẫy gọi
Câu thơ hiện lên sáng chói
Chắp cánh nâng người bay lên!

Những đêm chao nghiêng ánh đèn
Những ngày bão giông ập đến
Tình yêu vẫn không sai hẹn
Gặp nhau hai trái tim hồng.

Cuộc đời trải giữa mênh mông
Không chịu nhốt trong chật hẹp
Nụ cười không bao giờ khép
Mở cửa phây búc bay xa …

VƯƠN LÊN

Thơ Nguyên Đức

Gái quê với nét đoan trang,
Mắt nai hòa dịu miên man ái từ.
Tóc bồng gió lộng vi vu,
Như tranh như vẽ vàng thu rợp trời.

Người đi ngàn dặm sương khơi,
Vượt qua giông tố rạng ngời sắc xuân.
Lộ trình khúc khuỷu gian truân,
Quén vun nghĩa sống gieo vần thanh tao.

Vui cùng duyên phận má đào,
Sắc son giữ vẹn luyến trao tim hồng.
Yêu thương với cả tấm lòng,
Hiến dâng thầm lặng mênh mông tình người.

Bao lần gục ngã chơi vơi,
Bản lĩnh bất khuất tuyệt vời trỗi lên.
Buồn vương gác lại một bên,
Đứng dậy đối diện chông chênh cuộc đời.

Mặc cho vật đổi sao dời,
Không hề nhục chí, nguyền lời thiêng liêng.
Từ u ẩn nỗi niềm riêng,
Tạo thêm động lực về miền hữu duyên.

Tri ân Tam Bảo phước điền,
Cha mẹ giáo huấn tâm hiền tịnh thanh.
Cho em sự nghiệp công thành,
Nguyện xin kết cỏ ngậm vành không phai.

Ngày 05/3/2020.

CUỘC ĐỜI VẪN ĐẸP SAO

Thơ: Trần Thị Tĩnh

Đời còn rất đáng sống
Dù cơ cực đắng cay
Ngàn trùng mà vẫn biết
Ta làm gì hôm nay.

Trời như một chảo lửa
Xót thương đến ngậm ngùi
Đang ở trong phòng lạnh
Tự nhiên đổ mồ hôi.

Giữa thiên nhiên cây cỏ
Bỗng mát rượi sau lưng
Chắc là cơn gió đến
Từ nơi xa vô cùng!

Đời thật là tuyệt diệu
Toàn những chuyện đâu đâu
Mà đậm đà hương vị
Mà xôn xao sắc màu.

NẠNG GỖ LÊN MÂY

Thơ: Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Sinh ra đã chịu thiệt thòi
Chân tay mềm yếu người còi bé con.
Chiến tranh người mất người còn
Riêng em chất độc ăn mòn tấm thân.

Thương con mẹ chẳng ngại ngần
Ngày đêm chăm sóc ân cần động viên.
Cùng em luyện tập trước tiên
Trên đôi nạng gỗ nối liền bước đi.

Tháng năm mưa gió quản gì
Cùng với đôi nạng em đi mọi miền.
Panxipang em đã lên
Bằng đôi nạng gỗ đi trên mây trời.

Nguyễn Sơn Lâm một con người
Vượt lên số phận xây đời đẹp tươi
Tật nguyền vẫn nở nụ cười
Thành người có ích góp đời niềm tin.

Nguyễn Sơn Lâm luôn giữ gìn
Tình yêu cuộc sống trăm nghìn mến thương.
Nhắc mình luôn phải can trường
Nhóm lên ngọn lửa đời thường Lạc quan.

25/2/2020

Nguyễn Sơn Lâm quê ở Quảng Ninh sinh ra đã chịu đi chứng của chất độc da cam nên hệ xương rất yếu. Em vượt qua tật nguyền kiên trì luyện tập. Tháng 10/2011 em là người đầu tiên chinh phục đỉnh Phan xi pang bằng nạng gỗ.

Vì con

Thơ Phạm Thị Hồng Thu

Con ơi, bệnh tật khôn cùng
Cắn răng mẹ chịu, nuốt từng cơn đau
Mong thời gian trôi thật mau
Con khỏe từng phút, bớt đau từng ngày
Con ơi, khổ ải đắng cay
Mẹ xin gánh hết, mong ngày Bình An*
Con là suối mát, gió ngàn
Con là nguồn sống, nguy nan lùi dần
Cho mẹ sức mạnh vô ngần
Sinh con khỏe mạnh muôn phần sướng vui
Cầu mong bệnh tật đẩy lùi
Mẹ được chăm chút trọn đời cho con.

Chị Nguyễn Thị Liên ở Lí Nhân, Hà Nam quyết định dừng chữa K để sinh con. Ngày 25/5/2019 bé Bình An chào đời bình an.

HÃY SỐNG…

Thơ Trần Lộc

Chốn trần gian trăm năm sao cho đủ
Quên sân si nhắn nhủ lời yêu thương
Chút phong trần cõi tạm cũng lẽ thường
Buông vướng bận cho tâm hồn thanh thản

Chút tổn thương trên đường đời nỡ chán
Biết cười lên tan chảy bao muộn phiền
Nhỡ gặp điều hung ác hãy nhanh quên
Để vững bước đi về miền hoa lệ

Tâm đừng nản…miễn hỏi sao lại thế
Vạn người theo sao dễ một người thương
Đau đớn đi qua để lại chí kiên cường
Không thật đẹp, chỉ yêu thương là đủ.

Một vòng đời qua nhanh như giấc ngủ
Khóc đủ nghe, cười cho thiên hạ nhìn
Ai làm được, đều xứng đáng nhân sinh
Đừng thối chí khi mình còn hy vọng.

Hãy vui bên điều bất thường lẽ sống
Đúng sai, vuông tròn, mênh mông, méo mó
Đại sự hôm nay, mai trở thành việc nhỏ.
Luôn trân trọng điều đang có trong ta…

Hải Lộc. 24.02.2020

NÓI VỚI EM

Thơ: Hoàng Kao Bình

Lối nhỏ vào xuân… quên mắt ngọc hoen nhòa
Điểm tô rạng rỡ cuối thềm hoa đẹp nắng
Tìm lại giây phút đã yêu người trầm lặng
Giấu kỹ trong lòng sâu lắng một dòng tên…

Về nhé mình ơi trao vẹn nghĩa lâu bền
Tháng hai rét ngọt luồn trên nhành si đắm
Tình xa hẹn hứa kề bên dù vạn dặm
Nghiêng nét môi cười say ngắm mộng đào nguyên

Quên lãng cùng se… ướm vạt nhớ thương huyền
Níu thời trai trẻ… nồng duyên từng khao khát
Khuông chiều loang tím trải nồng hương ngào ngạt
Miên khúc ru đời… ai hát thoảng vào tim.

CUỘC ĐỜI

Thơ Nguyễn Thị Khánh Hà

Ta hãy nghĩ cuộc đời như rặng núi
Biết bao đèo, bao dốc lớn phải qua
Từ tinh mơ cho tới lúc chiều tà
Trong bụi gai hoa tỏa hương khoe sắc!

Con đường đó bắt đầu từ tiếng khóc
Đau của Mẹ, vui sướng của người thân
Dù người thường hay các bậc vĩ nhân
Đều bò lê, vấp ngã – Mới đứng lên được

Đừng nghĩ mình là hành tinh đơn độc
Cũng đừng lầm là một mặt trời con
Cuộc đời đâu chỉ chằn chặn vuông tròn
Qua dông tố, cây còn – Cây cứng cáp

Thà chỉ sống cuộc đời trong khoảnh khắc
Với căng tràn tư chất trong tự do
Còn hơn làm lũ lươn chạch tròn vo
Cứ chui rúc, ăn no – Lầm là sướng

Đại dương rộng vẫn có bờ có bến
Có sóng cồn, có mặt biển soi gương
Hãy buồn vui trong cảm xúc đời thường
Đừng ảo tưởng ngóng núi cao tuyết phủ

Hãy đi lên bằng đôi bàn chân nhỏ
Vượt đường xa, ta lội suối trèo non
Đạp tầm thường lũ giả dối bon chen
Ta vững bước…
Đường mở ra phía trước…

24/02/2020.

NẮNG XUÂN

Đây rồi vạt nắng của mùa xuân
Đẩy những âm u biến khỏi dần
Cho mạ rủ nhau ngồi kín ruộng
Dục đồng xanh lúa sắc ngời lên

Có tiếng thầm thì trong nắng xuân
Chồi non lộc biếc bật tươi nhuần
Đài hoa hứa hẹn cho nhiều trái
Trống vào lễ hội rộn ràng ngân

Lúng liếng ô kìa nón trắng nghiêng
Mắt xinh nhẹ chớp ánh nhung huyền
Còn thêm má lúm đùa răng khểnh
Giọt nắng ươm hồng rạng rỡ Xuân

Rặng núi bình yên cõng nắng chiều
Mây ngàn ngơ ngác dõi nhìn theo
Đàn cò mải miết bay về tổ
Chấp cả băng sông với vượt đèo.

Ninh Bình, 2020

KHÁT VỌNG

Thơ: Dương Quốc Nam

Khi sống cần có động cơ
Nghị lực cuộc sống bến bờ thành công.
Tình yêu trong sáng vun trồng,
Cho đi là nhận tình nồng thắm tươi.

Tình yêu xúc tác cho đời,

Vượt qua bão táp bao lời ngợi ca.
Cuộc đời chỉ đẹp, thăng hoa,
Yêu thương lan toả đậm đà vần thơ.

Tình yêu, nghị lực, động cơ,
Con người nuôi dưỡng thời cơ đáp lời.
Tình yêu, khát vọng mỗi người,
Khơi nguồn vượt khó cuộc đời đổi thay.

SỨC SỐNG

Thơ Phan Huy Hùng

Cành cây khô gầy vô tình chạm vào vai em
Bỗng mượt mà tươi xanh nhún nhẩy
Đất trời như ai vừa rửa lại
Xanh non nõn nà …

Bước chân trên đường phố tôi qua
Cái gì cũng lạ
Như mới chạm lần đầu
Mắt ướt đong đưa
Môi xoè cánh đỏ
Nỗi nhớ như sợi dây vô hình
kéo ai đó vào tôi
Hoà tan thành màu hạnh phúc!

Động lực sống nẩy mầm từ nụ cười chân thực
Từ tình yêu vô tư
Từ khát vọng câu thơ
Từ cành cây khô vô tình
chạm vào vai mềm mại
Bỗng hoá tâm hồn
Non tươi mọc dậy !

TRÀO YÊU THƯƠNG ĐỔI LẤY YÊU THƯƠNG

Thơ Tony Bui

Hỡi thế gian có bao nhiêu đường đi?
Mà lẽ đời cứ nghĩ suy trầm tư
Nào ai hiểu những sáo rỗng ngôn từ
Cứ vô hư trên Trần gian mơ mộng

Thôi hãy sống chân thành đừng ảo vọng
Lòng bao dung mở rộng đón tương lai
Hãy vững tin theo ngày tháng năm dài
Yêu hiện tại những gì mình đang có.

Bởi cuộc đời còn biết bao gian khổ
Gắng giữ mình vượt khó mới là hay
Vui lên đi xiết chặt những vòng tay
Trao yêu thương đổi lấy điều trân trọng

Một đời người rất nhiều điều khát vọng
Sống chan hòa chớ học oán thù sâu
Hãy chân tình nghĩ đẹp sống cho nhau
Để nụ cười ngời lâu trên ánh mắt.

Ta hãy sống chân thành không chấp nhặt
Cho yêu thương chân thật với yêu thương
Vì mỗi người chỉ có một quê hương
Hãy gìn giữ đường đời thêm hạnh phúc

Warszawa
24/02/2020

EM ĐÃ BÊN ANH

Thơ: Nghi Lâm

Em đã bên anh mỗi khi hụt hẫng
Tưởng như rằng chẳng thể gượng được lâu
Nhờ tình yêu cùng luyến ái đậm sâu
Giúp vượt qua chuỗi ngày đau thương nhất.

Anh trở trăn bởi những gì vuột mất
Thất lạc ngay trong suy nghĩ của mình
Nào tương lai mở cửa đến quang vinh
Sự nghiệp kinh doanh trên đà phát triển, …

Ai ngờ bệnh căn chập chờn ẩn hiện
Việc xấu không may lui tới hàng ngày
Rồi gục ngã trong một tối đang say
Lúc tỉnh lại đã có em kề cận.

Mùa đông sắp hết, xuân về ươm nắng
Ở bên anh luôn chia sẻ động viên
Nàng mong sao vơi hết mọi ưu phiền
Để đón Tết sum vầy trong hạnh phúc,

Nhìn cuộc đời toát lên màu sung túc
Thất bại vừa qua, bài học thành công
Mừng cho anh đã thấy được sắc hồng
Của may mắn, niềm tin em đem đến.

Thương quá những gì để anh quý mến
Động lực tình yêu tuyệt diệu biết bao
Trên bầu trời đàn chim yến nghiêng chao
Dưới mặt đất ngàn sắc hoa đua nở,

Cô Bắc kỳ ơi! Em là ai hở
Đã cho anh cả .. MÙA XUÂN TUYỆT VỜI!

CHUNG SỨC …

Thơ Hoàng Như Phượng

Xin đừng đưa đi tin giả
Xin đừng đồn thổi xôn xao
Đừng gieo hoảng loạn, ồn ào
Để bao người thêm khốn khó.

Đừng từ những chuyện rất nhỏ
Suy diễn nói có cho sang
Gây nên áp lực, hoang mang
Cho cộng đồng thêm sóng gió.

Hãy cùng vượt qua gian khó
Chung tay xây dựng niềm tin
Bên nhau hợp sức giữ gìn
Tình yêu từ trong mất mát…

Cuộc đời ai không khao khát
An lành, hạnh phúc, ấm no…
Đừng buông tay lúc rủi ro
Để ngày mai thêm tươi sáng.

Dù hoàng hôn hay trời rạng
Dù ngày lạnh hay nắng chang
Luôn giữ tâm thế vững vàng
Vượt qua mưa giông, gió lộng.

Biến tin yêu thành hành động
Đánh thắng “tâm bệnh” hôm nay
Đẩy lùi covit mỗi ngày
Ta cùng chung tay bạn nhé!

HNP – 22/2/2020

NIỀM TIN TRONG TA

Thơ Dũng Bụi Trần

Ôi! Ta phải tin vào đâu?

Tin người nhà Phật hay tin vào đời thật?
Cho dù Ta
luôn sống hiền lành, chân chất
Một cú hích
nhẹ nhàng
đẩy Ta làm người trả nợ nghiệp xưa.

Ta – hạt bụi trần

nào biết chuyện tiền hậu kiếp
nắng mưa
Chuyện báo oán từ vong hồn mang lại
Nghe Phật tử đem tiền ra rải
Tưởng yên bình
bỗng đêm ngày trăn trở âu lo.

Giờ mới hiểu

trên dòng sông đâu thấy mỗi con đò
Nếu tâm tàn độc
dẫu đường quang cũng biến thành khúc khuỷu
Lòng ích kỷ
thì vàng bạc đầy tay vẫn thiếu
Để số phận buồn thêm nghiêng ngả
ngược xuôi.

Hãy nhớ rằng..!

Ta chỉ sống được một lần thôi
Đời ngắn lắm yêu thương còn chưa đủ
Đừng cả tin
đến những điều đã cũ
Rồi tự kéo Ta về miền đen trắng hư vô.

ĐÁNH THỨC NIỀM TIN.

thơ Ha Nguyen

Khi ta gieo xuống những hạt mầm tốt đẹp
Cây sẽ cho trái ngọt và toả ngát hương thơm…

Giữa dòng thác cuộn xoáy của dời thường
Nhiều điều xấu cộng hưởng thành chất xúc tác
Góp vào quá trình ” xây đắp” những định kiến
Những nghi kị
Những mất lòng tin.

Trước điều xấu ai đã từng lặng im
Thản nhiên đi qua
Thản nhiên để nó làm xói mòn tất cả.

Rồi thản nhiên ra giá tình người.

Bố lầm lũi tránh việc lôi thôi
Mẹ kêu trời khi lòng tốt bị nghi ngờ có ý đồ toan tính
Anh khựng lại trước điều sai quấy…lặng thinh
Em không còn tin vào nước mắt…
Chị vô cảm trước nỗi đau người khác
Khi mất mát không chạm đến ruột thịt của mình…

Hãy thử hình dung xem
Nếu không còn tin vào những điều tốt đẹp
Đó là trạng thái đáng sợ hơn cái chết và bệnh tật
Đến một ngày chẳng còn ai muốn gieo hạt
Bởi thiếu niềm tin về mùa màng kết trái bội thu.

Xin mẹ hãy ươm những mầm thiện từ trong những lời ru con trong vắt
Chị tưới cây tốt đẹp từ việc làm nhỏ nhặt đời thường
Anh vượt lên chính mình không để trái tim xói mòn trước điều tai ương nghịch nhĩ
Bố không còn như thế – lầm lũi tránh khỏi chuyện lôi thôi.

Xin thắp lên niềm tin ở mỗi con người…!
16/4/2019

NHÌN NỤ CƯỜI ĐÁNH THỨC ĐƯỢC NIỀM TIN

Thơ Nguyễn Đình Cường.

Ôi thích quá! Hồn nhiên nơi con trẻ
Thật vô tư trong sáng đến lạ lùng
Dẫu đời mình chưa biết đến lụa nhung
Nhiều người ước được nụ cười như thế!

Cha mẹ em đi qua đời dâu bể
Lo cái ăn cái mặc vẫn chưa tròn
Thương đàn con khúc ruột lại héo hon
Bởi số phận – kiếp người chia nhiều bậc

Người chưa sướng, kẻ bần hàn cơ cực
Nhìn nụ cười đánh thức được niềm tin
Các em ơi! Cho xã hội mượn, xin
Làm bảo bối trên đường tìm hạnh phúc.

15/9/2019

BÚP SEN HỒNG

Thơ Đào mạnh Thạnh

Búp sen hồng vươn lên từ bùn đất
Vẫn lung linh chất ngất vẻ thanh cao
Vẫn tỏa hương cùng sắc thắm ngọt ngào
Dâng cho đời sự thanh cao quyến rũ

Mặc bão giông nước dập vùi thác lũ
Vẫn an nhiên từ xác rũ vươn lên
Mầm sống thơm trong bùn đất vững bền
Lại trỗi dậy cho đời thêm hương sắc

Giữa nắng hè sen bừng lên bát ngát
Những đài sen cùng tỏa ngát ngọt ngào
Ôi tuyệt vời bông sen đẹp biết bao
Không đài các ……
……mà thanh cao đến thế…

HP 18-4-2019

HI VỌNG.

HI VỌNG.
Thơ: Thu Thi Nguyen Nguyen

Này bạn ơi đừng bao giờ thất vọng,
Hãy nhìn đi bức ảnh đẹp tuyệt vời.
Mùa hè đến nắng nóng đổ mồ hôi,
Ruộng nứt nẻ hình chân chim rồi nạ.

Thu âm thầm chẳng thèm nói gì cả,
Cứ lặng im thong thả nhả sương rơi.
Gió miên man hòa quyện với đất trời,
Cho mầm sống trong đất lành cựa quậy.

Rồi một ngày ta lại nhìn thấy,
Những mầm non xanh mướt nhú lên rồi.
Lá long lanh còn đọng hạt sương rơi,
Đông chợt đến ủ chồi vào trong đó.

Chờ xuân đến mới bàn giao lá nhỏ,
Cùng những nụ hoa bé nhỏ xinh xinh.
Sáng mùa xuân hoa bỗng dậy cựa mình,
Cánh bung nở kiêu hãnh đầy hi vọng.

Cũng như ta khó khăn trong cuộc sống,
Phải luôn luôn giữ vững lòng tin.
Đừng gục ngã mà phải gắng vươn lên,
Đến cây cỏ vẫn còn thèm sự sống.

Hà cớ gì ta phải sống không hy vọng,
Mình tự an ủi mình phải mạnh mẽ lên thôi.
Đến đất trời cũng phải mấy mùa trôi,
Thì cuộc sống đâu dễ dàng đến vậy.

Có sóng gió đời mới đầy thi vị,
Hãy cố lên bạn của tôi ơi.
Trời hết bão giông nắng rực rỡ đến rồi
Hãy tự tin mình là người mạnh mẽ.

ĐỜI

Tác giả : Nguyễn Đức Phúc.

Trải bao vất vả, gian lao
Vươn ra trước gió,đón chào bình minh.
Kiên cường, tự lực cánh sinh
Hiên ngang, đứng thẳng chứng minh cho Đời.

18/7/2018.

Những bài thơ hay về cuộc sống mang ý nghĩa ngắn gọn, nhưng ẩn chứa bên trong là những bài học làm người, giáo dục nhân cách… vô cùng quý giá. Mỗi con người ta chưa ai là hoàn hảo cả, vì vậy hãy đọc, hãy cảm nhận thật nhiều những câu thơ hay về cuộc sống để giúp bản thân tìm thấy nhiều điều tốt đẹp.

Tập Kiều, Viếng Kiều

Tập Kiều, Viếng Kiều

Tập Kiều, Viếng Kiều (Tản Đà)

Lấy thân mà trả nợ đời
Nghĩ thân mà lại ngậm ngùi cho thân
Phonh lưu rất mựch hồng quần
Mười lăm năm, bấy nhiêu lần làm gương
Thề hoa chưa ráo chén vàng
Bán mình vội phải tìm đường cứu cha
Lênh đênh đâu nữa cũng là…
Cái thân liệu nhữnh từ nhà liệu đi
Khi Vô Tích, khi Lâm Truy
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần
Đùnh đùnh gió dụch mây vần
Hồnh quân với khách hồnh quần đã xoay
Cửa giời rộnh mở đường mây
Hay là khổ tận, đến ngày cam lai
Triều đình riêng một góc giời
Mua vui cũnh được một vài trống canh
Kiếp hồnh nhan có monh manh
Khuôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi
Thương ôi! sắc nước hương giời
Ngàn thu bạc mệnh, một đời tài hoa
Đau đớn thay phận đàn bà
Khéo thay thác xuống làm ma khônh chồnh
Lửa hương chốc để lạnh lùnh
Nào người tiếc lục tham hồnh là ai?

(Thơ Tản Đà 1925)

Bài này in thử mười vần đổi mới, nói ở trang 1 trong quyển “Lên sáu”: onh, ônh, ơnh, unh, ưnh, och, ôch, ơch, uch, ưch.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Tập Kiều, Viếng Kiều” của tác giả Nguyễn Khắc Hiếu. Thuộc danh mục Thơ Tản Đà trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Đắng Cay

Đắng Cay

Đắng Cay (Tế Hanh)

Vui không dám vui nhiều,
Miệng cười như thể mếu!
Lo lắng nỗi đìu hiu
Vấn vương người yểu điệu.

Đau buồn che dấu lệ;
Ta có thở than đâu!
Em xinh tươi như thế
Ai nỡ sẻ chia sầu.

Một lời em nói vội,
Một bước em đi nhanh,
Ta tưởng chừng thế giới
Sụp đổ vỡ tan tành.

Quen biết, vẫn cô đơn,
Lứa đôi thêm tẻ lạnh;
Ta ôm chịu tủi hờn,
Chết dần lòng kiêu hãnh.

Bấy lâu ta vẫn ngỡ
Đi kiếm chút êm đềm
Nay lòng tan nát vỡ,
Đau đớn quá đi em!

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Đắng Cay” của tác giả Trần Tế Hanh. Thuộc tập Nghẹn Ngào (1939), danh mục Thơ Tế Hanh trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Đàn Tơ-Rưng

Đàn Tơ-Rưng

Đàn Tơ-Rưng (Huy Cận)

Nứa anh đem phơi nắng
Chính ửng mặt trời hồng
Nứa anh đem hong bếp
óng ánh màu mật ong.

Anh bắc qua năm tháng
Chiếc cầu phao âm thanh
Đời hai đầu mưa nắng
Đàn mắc võng tâm tình

Mỗi câu em đậm đà
Mỗi tiếng lòng anh dội
Câu trầm bổng thiết tha
Võng ru lời rừng suối

Em cùng anh ta nối
Qua trăm núi nghìn đèo
Tiếng quê hương vời vợi
Như dậy rừng nứa reo

Tiếng đá lồng tiếng nứa
Cung bậc hồn cha ông
Bậc cao như đỉnh núi
Bậc trầm hơn đáy sông

Đàn nói lòng Đam San
Đàn nói tình Xinh Nhã
Nói ân tình đôi ta
Tựa lửa bền trong đá.

14-10-1974

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Đàn Tơ-Rưng” của tác giả Cù Huy Cận. Thuộc danh mục Thơ Huy Cận trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp Trấn Quan Trần Hầu Xướng Hoạ Kỳ 4 (Xướng Hoạ Cùng Ông Trần Hầu, Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Kỳ 4)

Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp Trấn Quan Trần Hầu Xướng Hoạ Kỳ 4 (Xướng Hoạ Cùng Ông Trần Hầu, Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Kỳ 4)

Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp Trấn Quan Trần Hầu Xướng Hoạ Kỳ 4 (Xướng Hoạ Cùng Ông Trần Hầu, Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Kỳ 4, Hồ Xuân Hương)

Đàn tao từng mấy mặt treo cờ,
Thua được lần nhau phải thế chưa.
Tả hận phấn son cùng chén rượu,
Ngưng duyên bèo lạc với dòng thơ.
Non cao bể rộng vâng lời cả,
Nước chảy hoa trôi vẫn ý xưa,
Còn nợ trần gian còn phải trả,
Dẫu bao giờ hết liệu bây giờ.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp Trấn Quan Trần Hầu Xướng Hoạ Kỳ 4 (Xướng Hoạ Cùng Ông Trần Hầu, Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Kỳ 4)” của tác giả Hồ Xuân Hương. Thuộc tập Lưu Hương Ký, danh mục Thơ Hồ Xuân Hương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Tổng hợp một số câu thơ về hoàng hôn buồn nhất

hoàng hôn trên biển
 Người ta bảo mùa đông là lạnh nhất 
 Tôi cho rằng không chỉ có mùa đông
 Có những chiều nắng vàng rực rỡ 
 Nỗi cô đơn lạnh gấp trăm lần. 

Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

Nắng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.

Có phải hoàng hôn nuối tiếc cái chói chang
Nên cố níu tia nắng vàng rơi rụng
Có phải ta xế chiều nuối tiếc thời sôi động
Nuối tiếc thanh xuân nên vẫn cứ nồng nàn.

Một kiếp người chữ tình mãi nặng mang
Dẫu trái tim có lần hoang tàn đổ nát
Trong đau thương khúc yêu thương vẫn hát
Như hoàng hôn vẫn man mác, đợi chờ.

Em tìm gì khi xuân đến hạ sang
Hương nồng nàn còn vương trên kẽ lá
Nước chảy mây trôi có gì đâu mà lạ
Chút nắng tàn sao níu nổi hoàng hôn.

Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm Sang Thu của nhà thơ Hữu Thỉnh hay nhất

Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm Sang Thu của nhà thơ Hữu Thỉnh hay nhất

Mùa thu là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Ta bắt gặp trong thơ Hữu Thỉnh một mùa thu đầy thơ mộng qua những cảm nhận tinh tế sâu sắc trong sự thay đổi của không gian cảnh vật. Sau đây phongnguyet.info xin giới thiệu Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm Sang thu của nhà thơ Hữu Thỉnh hay nhất

BÀI SỐ 1

Cũng như mùa xuân, mùa thu luôn là đề tài gợi nhiều cảm xúc cho các thi nhân. Mỗi người lại có cách nhìn, cách miêu tả rất riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân của mình. Có nhà thơ, mùa thu là dáng liễu buồn, là màu áo mờ phai, là tiếng đạp lá vàng của con nai ngơ ngác. Hữu Thỉnh cũng góp vào tuyển tập thơ mùa thu của dân tộc một cái nhìn mới mẻ. Ông là nhà thơ viết nhiều, viết hay về những con người, cuộc sống ở nông thôn, về mùa thu. Những vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng, vương vấn trước đất trời trong trẻo đang chuyển biến nhẹ nhàng. Điều này thể hiện rõ qua bài “Sang thu” được ông sáng tác cuối năm 1977.

Bài thơ diễn tả tâm trạng ngỡ ngàng trước cảnh đất trời đang chuyển biến giao mùa từ hạ sang thu. Không như những nhà thơ khác, cảm nhận mùa thu qua sắc vàng của hoa cúc, của lá ngô đồng hay qua tiếng lá vàng rơi xào xạc. Hữu Thỉnh đón nhận mùa thu với một hương vị khác: Hương ổi.

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se”

“Bỗng nhận ra” là một trạng thái chưa được chuẩn bị trước, như là vô tình, sững sốt để cảm nhận, giữa những âm thanh, hương vị và màu sắc đặc trưng của đất trời lúc sang thu. Nhà thơ nhận ra tín hiệu của sự chuyển mùa từ ngọn gió nhè nhẹ, lành lạnh se khô mang theo hương ổi. “Phả” là một động từ mang ý tác động được dùng như một cách khẳng định sự xuất hiện của hơi thu trong không gian: “hương ổi”, một mùi hương không dễ nhận ra, bởi hương ổi không phải là một mùi hương thơm ngào ngạt, nồng nàn mà chỉ là một mùi hương thoảng đưa êm dịu trong gió đầu thu, nhưng cũng đủ để đánh thức những cảm xúc trong lòng người.

Không chỉ cảm nhận mùa thu bằng khứu giác, xúc giác mà nhà thơ còn cảm nhận màn sương thu trong phút giao mùa. Màn sương hình như cũng muốn tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc vào thu nên chùng chình chưa muốn dời chân:

“Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”

Từ láy tượng hình “chùng chình” gợi cảm giác về sự lưu luyến ngập ngừng, làm ta như thấy một sự dùng dằng, gợi cảnh thu sống động trong tĩnh lặng, thong thả, yên bình. “Chùng chình” là sự ngắt quãng nhịp nhàng, chuyển động chầm chậm hay cũng chính là sự rung động trong tâm hồn nhà thơ? Một chút ngỡ ngàng, một chút bâng khuâng, nhà thơ phát hiện ra vẻ đẹp rất riêng của không gian mùa thu. “Hình như” là một từ tình thái diễn tả tâm trạng của tác giả khi phát hiện sự hiện hữu của mùa thu. Sự góp mặt của màn sương buổi sáng cùng với hương ổi đã khiến cho nhà thơ giật mình thảng thốt. Không phải là những hình ảnh đã trở nên ước lệ nữa mà là chi tiết thật mới mẻ, bất ngờ. Có lẽ với Hữu Thỉnh, làn hương ổi rất quen với người Việt Nam, mà rất lạ với thơ được tác giả đưa vào một cách hết sức tự nhiên.

Rồi mùa thu được quan sát ở những không gian rộng hơn, nhiều tầng bậc hơn:

“Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội và

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu”

Nếu ở khổ một, mùa thu mới chỉ là sự đoán định với ít nhiều bỡ ngỡ, thì ở khổ thơ này, tác giả đã có thể khẳng định: Thu đến thật rồi. Thu có mặt ở khắp nơi, rất hiện hình, cụ thể. Dòng sông không còn cuôn cuộn dữ dội như những ngày mưa lũ mùa hạ mà trôi một cách dềnh dàng, thanh thản. Mọi chuyển động dường như có phần chậm lại, chỉ riêng loài chim là bắt đầu vội vã. Trời thu lạnh làm cho chúng phải chuẩn bị những chuyến bay chống rét khi đông về. Phải tinh tế lắm mới có thể nhận ra sự bắt đầu vội vã trong những cánh chim bay bởi mùa thu chỉ vửa mới chớm, rất nhẹ nhàng, rất dịu dàng. Điểm nhìn của nhà thơ đuợc nâng dần lên từ dòng sông, rồi tới bầu trời cao rộng:

“Có đám mây mùa hạVắt nửa mình sang thu”

Cảm giác giao mùa được Hữu Thỉnh diễn tả thật thú vị. Đây là một phát hiện rất mới và độc đáo của ông. Mùa thu mới bắt đầu vì thế mây mùa hạ mới thảnh thơi, duyên dáng “vắt nửa mình sang thu”. Đám mây như một dải lụa mềm trên bầu trời đang còn là mùa hạ, nửa đang nghiêng về mùa thu. Bức tranh chuyển mùa vì thế càng trở nên sinh động và giàu sức biểu cảm.

Ở khổ cuối, khoảnh khắc giao mùa không còn được nhà thơ diễn tả bằng cảm nhận trực tiếp mà bằng sự suy ngẫm, chiêm nghiệm:

“Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”

Nắng cuối hạ vẫn còn nồng, còn sáng nhưng đang nhạt dần. Những ngày giao mùa này đã vơi đi những cơn mưa rào ào ạt. Vẫn là nắng, vẫn là mưa, sấm như mùa hạ nhưng mức độ đã khác rồi. Lúc này, những tiếng sấm bất ngờ cùng những cơn mưa rào không còn nhiều nữa. Hai câu thơ cuối gợi cho ta nhiều suy nghĩ, liên tưởng thú vị.

“Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”

Giọng thơ trầm hẳn xuống, câu thơ không đơn thuần chỉ là gượng kể, là sự cảm nhận mà còn là sự suy ngẫm, chiêm nghiệm. Cụm từ “hàng cây đứng tuổi” gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. Đời người như một loài cây, cũng non tơ, trưởng thành rồi già cỗi. Phải chăng, cái đứng tuổi của cây chính là cái đứng tuổi của đời người. Hình ảnh vừa có ý nghĩa tả thực, vừa có ý nghĩa biểu tượng. Vẻ chín chắn, điềm tĩnh của hàng cây trước sấm sét, bão giông vào lúc sang thu cũng chính là sự từng trải, chín chắn của con người khi đã đứng tuổi. Phải chăng mùa thu của đời người là sự khép lại những ngày tháng sôi nổi bồng bột của tuổi trẻ, để mở ra một mùa mới, một không gian mới thâm trầm, điềm đạm, vững vàng hơn. Ở tuổi “sang thu”, con người không còn bất ngờ trước những tác động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời.

Xưa nay, màu thu thường gắn liền với hình ảnh lá vàng rơi ngoài ngõ, lá khô kêu xào xạc… Và ta ngỡ như chỉ những sự vật ấy mới chính là đặc điểm của mùa thu. Nhưng đến với “Sang thu” của Hữu Thỉnh, người đọc chợt nhận ra một làn hương ổi, một màn sương, một dòng sông, một đám mây, một tia nắng. Những sự vật gần gũi thế cũng làm nên những đường nét riêng của mùa thu Việt Nam và chính điều này đã làm nên sức hấp dẫn của “Sang thu”.

Bài thơ kết câu theo một trình tự tự nhiên. Đó cũng là diễn biến mạch cảm xúc của tác giả vào lúc sang thu. Bài thơ gợi cho ta hình dung một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp vào thời điểm giao mùa hạ – thu ở vùng nông thôn Bắc Bộ. Những câu thơ của Hữu Thỉnh như có một chút gì đó thâm trầm, kín đáo, rất hợp với cách nghĩ, cách nói của nguời thôn quê. Bài thơ giúp ta cảm nhận được tình cảm thiết tha, tâm hồn tinh tế của nhà thơ giàu lòng yêu thiên nhiên của nhà thơ.

Bài thơ ngắn với thể thơ năm chữ mộc mạc, ngôn ngữ giản dị mà ý nghĩa sâu sắc, hình ảnh đơn sơ mà gợi cảm. Hữu Thỉnh đã phác họa một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp bằng nhiều cảm xúc tinh nhạy. Đọc thơ Hữu Thỉnh ta càng cảm thấy yêu quê hương đất nước hơn, càng cảm thấy mình cần phải ra sức góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

BÀI SỐ 2

Mùa thu luôn là đề tài khiến thi nhân phải động lòng thương yêu bởi đó là mùa của những gì nhẹ nhàng và dịu êm nhất, mùa của sự tĩnh lặng và những rung động sâu sắc nhất. Mùa thu đi vào thơ Nguyễn Khuyến bình dị, gần gũi; đi vào thơ Nguyễn Đình Thi là tiếng vọng từ đất nước ngàn đời. Còn mùa thu của Hữu Thỉnh qua bài thơ “Sang thu” thật đẹp, thật nên thơ và trữ tình, và tấm lòng của nhà thơ cũng thật duyên. Bài thơ đã phác họa thành công sự chuyển mùa kỳ diệu của đất trời và của lòng người.

“Sang thu” là một bài thơ tái hiện lại một cách nhẹ nhàng sự chuyển mùa tinh tế, trời đất lúc sang thu có chút gì đó bối rối, có chút gì đó ngập ngừng và hơn hết là sự ngỡ ngàng, bồi hồi của nhà thơ khi nhận ra sự thay đổi của trời đất. Mùa thu về, mùa thu mang lại cho con người ta những giai điệu dịu êm nhất.

Dấu hiệu của mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh thực sự rất bình dị và gần gũi, không phải là hương cốm mùa thu, không phải mặt hồ tĩnh lặng, cũng không phải những mùa lá rụng. Mùa thu trong thơ ông chính là “hương ổi”, là thứ hương đặc trưng của vùng quê Việt Nam mỗi khi thu về.

Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Phải thật tinh tế, thật khéo léo tác giả mới có thể nhận ra được thứ hương rất đỗi nhẹ nhàng và có thể bị gió cuốn đi lúc nào. Cụm từ “bỗng nhận ra” giống như một phát hiện mới, một sự ngạc nhiên rất thú vị như khi khám phá ra điều gì đó đẹp đẽ. Đây là cụm từ diễn ra trạng thái ngỡ ngàng của tác giả khi nhận ra mùa thu đã chạm ngõ chỉ với “hương ổi”, mùi hương đồng nội thân quen khiến những người con xa quê khó quên được. Mùi hương ổi ấy đã “phả” vào trong “gió se” đầu mùa thu dịu nhẹ, se sắt. Động từ “phả” đã làm toát lên thần thái của mùa thu, của hương ổi. Nó diễn tả sự quyện chặt vào, sự gắn kết giữa hương ổi và làn gió đầu mùa.

Chỉ qua hai câu thơ đầu, Hữu Thỉnh đã mang đến cho người đọc một cảm nhận mới về mùa thu, về sự chuyển mùa tinh tế nhất, về nhưng điều bình dị ở xung quanh chúng ta.

Sương chùng chỉnh qua ngõ

Hình như thu đã về

Hai câu thơ rất duyên, rất tinh tế nhưng rất sâu sắc, gợi lên sự mơ hồ của giây phút chuyển mùa. HÌnh ảnh “sương chùng chình qua ngõ” khiến người đọc tưởng tượng ra khung cảnh sương đang ngập ngừng giăng mắc ở đầu ngõ. Từ láy “chùng chình” dùng rất đắt, đã làm toát lên thần thái của mùa thu, không vội vàng, hồ hởi mà luôn tạo nên sự mơ hồ và mông lung nhất. Tác giả phải thốt lên “hình như”, là chưa chắc chắn, không chắn chắn nhưng thực ra là tác giả tự khẳng định rằng mùa thu về thật rồi.

Có lẽ mùa thu đã sang, là mùa thu của đất trời và mùa thu của lòng người mênh mang, nhiều tâm trạng. Đến khổ thơ thứ hai thì dường như mùa thu đã hiện rõ ra từng đường nét hình khối trong cảm nhận của tác giả:

Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu

Nước mùa thu dâng lên theo mùa “dềnh dàng”, những cánh chim trời bắt đầu “vội vã” bay. Thiên nhiên khi mùa thu về có chút gì đó vội vàng, gấp gáp hơn và trĩu nặng hơn nhưng vẫn giữ được thần thái đặc trưng nhất. Đường nét của mùa thu hiện lên rất rõ nét, không còn mơ hồ như ở khổ thơ thứ nhất nữa. Đây cũng là quá trình và là sự chuyển biến trong thiên nhiên và trong nhận thức của tác giả. Sự quan sát tinh tế, tỉ mỉ của tác giả còn thể hiện ở cách nhìn “đám mây mùa hạ” như “vắt” sang thu. Thật tài hoa, thật khéo léo và dường như ông động lòng với mùa thu, khí thu, vị thu rất nhiều nên mới tưởng tưởng ra viễn cảnh đám mây cao trên trời như đang chuyển mình cùng nhịp đập của mùa thu.

Từ “vắt” dùng rất hay, rất độc đáo đã diễn tả được quá trình chuyển mình của mùa thu rất uyển chuyển, nhịp nhàng. Mùa thu có chút gì đó độc đáo, tinh nghịch và cũng không kém phần duyên dáng qua cảm nhận của Hữu Thỉnh. Mùa thu đã đến thật rồi, mùa thu mang theo những gì tinh khôi, nhẹ nhàng và dịu êm nhất.

Bức tranh chuyển mùa qua lời thơ Hữu Thỉnh thực sự mềm mại, nhẹ nhàng và uyển chuyển biết bao. Đó chính là cái Tài của tác giả, tài dùng chữ vẽ tranh.

Điều bất ngờ nằm ở khổ thơ cuối, mùa thu đã thực sự đến rồi và đất trời đã có nhưng chuyển biến khiến con người có thể nhận ra, nhưng tác giả đã chiêm nghiệm mùa thu bằng cách nhìn nhận của một đời người:

Vẫn còn bao nhiêu nắngĐã vơi dần cơn mưaSấm cũng bớt bất ngờTrên hàng cây đứng tuổi

Mùa thu có nắng, là thứ nắng dịu nhẹ và tinh khôi, thứ nắng có chút se se lạnh của gió đầu mùa. Thiên nhiên mùa thu cũng trở nên tĩnh lặng và trầm ngâm hơn. Tiếng sấm không còn khiến con người giật mình nữa mà nó trở nên lặng lẽ hơn trên hàng cây đứng tuổi. Tác giả đã đúc kết chiêm nghiệm và sự từng trải của một đời người qua sự liên tưởng đến “hàng cây đứng tuổi”. Tiếng sấm và hàng cây ở hai câu thơ cuối dường như là hiện thân của những con người từng trải, đã qua giai đoạn tuổi trẻ bồng bột, nhiều hối hả. Ở giai đoạn con người ta “đứng tuổi” mọi thứ cần chắc chắn và đứng đắn, tĩnh lặng hơn. Tác giả đã mượn hình ảnh “hàng cây đứng tuổi” để nói lên đời người ở tuổi xé chiều, cũng như mùa thu vậy; có chăng mùa thu là mùa của tuổi con người ta không còn trẻ trung nữa. Nhịp đập của mùa thu, sự chuyển động của mùa thu rất nhẹ nhàng và êm đềm. Có lẽ khi con người ta trải qua tuổi bồng bột, đến một lúc nào đó cần bình thản nhìn lại và nhẹ nhàng cảm nhận chúng. Khổ thơ cuối với giọng điệu trầm lắng khiến người đọc nhận ra rất nhiều điều trong cuộc sống này đáng suy ngẫm.

Hữu Thỉnh với bài thơ “Sang thu” độc đáo và thú vị, cách cảm nhận tinh tế nhẹ nhàng cùng những chiêm nghiệm đáng suy ngẫm đã khiến cho người đọc có cái nhìn khái quát và mới mẻ hơn về mùa thu. Gấp trang sách lại, mùa thu của Hữu Thỉnh vẫn còn quẩn quanh đâu đây trong trí óc của mỗi chúng ta.

BÀI SỐ 3

Nhà thơ Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh năm 1942, quê ở huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1963, Hữu Thỉnh nhập ngũ, vào binh chủng Tăng – Thiết giáp rồi trở thành cán bộ văn hóa, tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ. Ông là ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa III, IV, V. Từ năm 2000, Hữu Thỉnh giữ chức vụ Tổng thư kí Hội Nhà văn Việt Nam.

Hữu Thỉnh là nhà thơ đi nhiều, viết nhiều và có một số bài thơ đặc sắc về con người cùng cuộc sống ở nông thôn. Bài thơ Sang thu được sáng tác vào cuối năm 1977, in lần đầu tiên trên báo Văn nghệ. Nội dung thể hiện tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến của nhà thơ trước những chuyển biến tinh tế của trời đất và là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp của nông thôn đồng bằng Bắc bộ lúc giao mùa từ hạ sang thu.

Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về

Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu

Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi.

Từ cuối mùa hạ sang đầu mùa thu, đất trời có những biến chuyển nhẹ nhàng mà rõ rệt. Những biến chuyển này đã được Hữu Thỉnh cảm nhận bằng sự rung động của trái tim thi sĩ và thể hiện qua những hình ảnh thơ mộng, giàu sức biểu cảm.

Ở khổ thơ đầu, dấu hiệu của mùa thu không phải là Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu như trong thơ cổ; cũng không phải là Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang, Tóc buồn buông xuống; lệ ngàn hàng như trong thơ Xuân Diệu cách đây hai phần ba thế kỉ. Vốn hiểu biết nhiều về nông thôn nên Hữu Thỉnh đã đưa vào bài thơ những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc mà vô cùng quen thuộc của quê hương

Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về

Đây là khung cảnh một sáng chớm thu ở làng quê Bắc Bộ. Trước hết nhà thơ bất chợt nhận ra tín hiệu của sự chuyển mùa từ ngọn gió mang hương ổi chín. Gió se là làn gió nhẹ, thoáng chút hơi lạnh, còn gọi là gió heo may. Hương ổi gắn liền với bao kỉ niệm của thời thơ ấu, là mùi vị của quê hương đã thấm đẫm trong tâm tưởng nhà thơ và cứ mỗi độ thu về thì nó lại trở thành tác nhân gợi nhớ.

Tiếp theo là hình ảnh màn sương giăng trước ngõ. Lập thu, tiết trời mát mẻ. Sáng sớm và chiều tối thường có sương. Sương cũng là một trong những dấu hiệu của mùa thu. Sương chùng chình qua ngõ như để nhắc nhở lòng người đang mong đợi rằng mùa thu đã tới. Nhà thơ ngỡ ngàng và sung sướng thầm thốt lên: Hình như thu đã về.

Hai từ bỗng và hình như làm tăng thêm cảm giác bâng khuâng, xao xuyến, rất đúng với tâm trạng của nhà thơ trước khung cảnh mùa thu – nguồn cảm hứng bất tận của thơ, ca, nhạc, họa.

Nhà thơ cảm nhận mùa thu bằng tất cả con người mình, tâm hồn mình. Bắt đầu là khứu giác: Bỗng nhận ra hương ổi, Phả vào trong gió se. Tiếp theo là thị giác mở rộng để tiếp nhận những tín hiệu báo thu sang. Từ làn sương vấn vít trong những rặng cây, lũy tre dọc theo lối ngõ cho đến dòng sông đã qua mùa lũ, giờ đây nhẹ nhàng, thanh thản trôi xuôi. Trên nền trời mùa thu trong xanh, những cánh chim dường như cũng vội vã hơn.

Cảm giác giao mùa được nhà thơ diễn tả bằng một hình ảnh bật ngờ đầy thi vị: Có đám mây mùa hạ, Vắt nửa mình sang thu. Đây là hình ảnh đặc sắc miêu tả cảnh mùa hạ chưa qua hẳn nhưng mùa thu đã tới. Ấn tượng về cái ào ạt, mạnh mẽ của những cơn mưa mùa hạ vẫn còn nguyên nhưng nỗi bâng khuâng trước vẻ dịu dàng êm mát của mùa thu đã len nhẹ vào hồn từ lúc nào chẳng rõ.

Nắng cuối hạ vẫn còn nhưng đã bớt nồng nàn, rực rỡ và những cơn mưa rào ào ạt cũng đã thưa dần:

Vẫn còn bao nhiêu nắngĐã vơi dần cơn mưa

Nhà thơ thể hiện cảm xúc của mình rất thành công bằng những từ ngữ diễn tả cảm giác, trạng thái: bỗng, phả vào, chùng chình, hình như; dềnh dàng, vắt nửa mình… Cả bài thơ là bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ của trời đất lúc vào thu được tác giả vẽ nên bằng sự rung động tinh vi của trái tim nghệ sĩ. Chính điều đó khiến cho mỗi từ ngữ, hình ảnh đều phập phồng sự sống.

Ba khổ thơ, mười hai câu thơ, câu nào cũng đẹp, cũng hay nhưng nét riêng của thời điểm giao mùa hạ – thu được Hữu Thỉnh thể hiện tập trung nhất ở hai câu thơ cuối bài:

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi.

Hai câu thơ này có hai tầng nghĩa. Tầng nghĩa thứ nhất tả thực hiện tượng sấm chớp và hình ảnh hàng cây trong cơn mưa cuối hạ. Tầng nghĩa thứ hai là nghĩa hàm ngôn thông qua hình ảnh có tính chất ẩn dụ nghệ thuật. Sấm là những vang động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời; hàng cây đứng tuổi ngụ ý chỉ con người đã từng trải.

Lúc sang thu, tiếng sấm dữ dội và bất ngờ của những cơn mưa giông mùa hạ đã bớt đi. Hàng cây không còn bị giật mình, run rẩy vì tiếng sấm. Nhà thơ Hữu Thỉnh tâm sự rằng với hình ảnh có giá trị tả thực về hiện tượng thiên nhiên này, ông muốn gửi gắm suy ngẫm của mình: Khi con người đã từng trải thì bản lĩnh cũng vững vàng hơn trước những thử thách của cuộc đời.

Bằng cảm nhận tinh tế và cách dùng từ tự nhiên, chân thật, cùng nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa tài tình, Hữu Thỉnh đã vẽ nên bức tranh đặc sắc về thời điểm giao mùa hạ – thu ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ. Với bài Sang thu, Hữu Thỉnh đã góp thêm một nét thu mang dấu ấn riêng của mình vào những chùm thơ thu hay và đẹp của thơ ca Việt Nam.

BÀI SÔ 4

“Sang thu” là bài thơ ngũ ngôn của Hữu Thỉnh, từng được nhiều người ưa thích. Bài thơ gồm có ba khổ thơ; mỗi khổ thơ bốn câu là một nét thu đẹp êm đềm của đất trời, tạo vật trong buổi đầu thu – thu mới về, thu chợt đến.

“Sang thu” thể hiện một bút pháp nghệ thuật thanh, nhẹ, tài hoa, diễn tả những cảm nhận, những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kì diệu của thiên nhiên trong buổi chớm thu. Đối tượng được cảm nhận là cảnh sắc mùa thu nơi đồng quê trên miền Bắc đất nước ta.

Với thi sĩ Xuân Diệu thì tín hiệu đầu thu là sắc “mơ phai” của lá được bàn tay tạo hóa “dệt” nên giữa muôn ngàn cây:

“Đây mùa thu tới, mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng.”

(Đây mùa thu tới)

Nhưng với Hữu Thỉnh là “hương ổi” của vườn quê được “‘phả vào” trong làn gió thu se lạnh. Cái hương vị nồng nàn ấy nơi vườn nhà mà tuổi thơ mỗi chúng ta sẽ mang theo mãi trong tâm hồn, đi suốt cuộc đời:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió dịu.”

“Phả” nghĩa là bốc mạnh và tỏa ra thành luồng (Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê). Hữu Thỉnh không tả mà chỉ gợi, đem đến cho người đọc những liên tưởng về màu vàng ươm, về hương thơm lừng, thơm ngát tỏa ra, bốc lên từ những trái ổi chín nơi vườn quê trong những ngày cuối hạ, đầu thu. Vì gió thu “se” lạnh, nên hương ổi mới thêm nồng nàn phả vào đất trời và hồn người.

Nhiều người đã biết: Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Bằng Sơn, Nguyễn Đình Thi,… đã viết thật hay về hương cốm Vòng (Hà Nội), một nét đẹp mến yêu về hương vị mùa thu của quê hương đất nước:

“Sáng mát trong như sáng năm xưaGió thổi mùa thu hương cốm mới…”

(Đất nước – Nguyễn Đinh Thi)

“Hương ổi” trong bài “Sang thu” là một cái mới trong thơ, đậm đà màu sắc dân dã của Hữu Thỉnh.

Sau “hương ổi” và “gió se”, nhà thơ nói đến sương thu. Cũng không phải là “Sương thu lạnh… Khói thu xây thành” trong “Cám thu tiền thu” của Tản Đà. Cũng chẳng phải là giọt sương lạnh và tiếng thu buồn những ngày xa xưa: “Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun” (Chinh phụ ngâm). Mà là sương thu chứa đầy tâm trạng “chùng chình” cố ý làm chậm chạp để kéo dài thời gian:

“Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về.”

Sương thu đã được nhân hóa; hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu về. Nếu các từ ngữ “bỗng nhận ra” biểu lộ cảm xúc ngạc nhiên thì hai chữ “hình như” thể hiện sự phỏng đoán một nét thu mơ hồ vừa chợt phát hiện và cảm nhận.

Chữ “se” vần với chữ “về” (vần chân, vần bằng, vần cách) đã góp phần tạo nên sự phong phú về vần điệu và nhạc điệu, làm cho giọng thơ nhẹ nhàng, mênh mông gợi cảm.

Không gian nghệ thuật của bức tranh “Sang thu” được mở rộng, ở chiều cao, độ rộng của bầu trời với cánh chim bay và đám mây trôi, ở chiều dài của dòng sông qua khổ thơ thứ hai tiếp theo:

“Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu.”

Sông mùa thu trên miền Bắc nước ta nước trong xanh, êm đềm trôi: “Trắng xóa tràng giang, phẳng lặng tờ” (“Tức cảnh chiều thu” – Bà Huyện Thanh Quan). Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng”, nhẹ trôi như cố tình chậm chạp, thiếu khẩn trương, để mất nhiều thì giờ… Chim bay “vội vã”, đó là những đàn cu ngói, những đàn sâm cầm, những đàn chim đổi mùa, tránh rét, từ phương Bắc xa xôi bay về phương Nam. Trong số đàn chim bay “vội vã” ấy phải chăng có những đàn ngỗng trời mà nhà thơ Nguyễn Khuyến đã nói tới trong “Thu vịnh”:

“Một tiếng trên không ngỗng nước nào?”

Dòng sông, cánh chim, đám mây mùa thu đều được nhân hóa. Bức tranh thu trở nên hữu tình, chứa chan thi vị. Hữu Thỉnh không dùng những từ ngữ như: lang thang, lơ lửng, bồng bềnh, nhẹ trôi,… mà lại dùng chữ vắt.

“Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu.”

Mây như kéo dài ra, vắt lên, đặt ngang trên bầu trời, buông thõng xuống. Câu thơ tả đám mây mùa thu của Hữu Thỉnh khá hay và độc đáo: cách chọn từ và dùng từ rất sáng tạo.

Khổ thơ cuối nói lên một vài cảm nhận và suy ngẫm của nhà thơ khi nhìn cảnh vật trong những ngày đầu thu:

“Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”

Nắng, mưa, sấm, những hiện tượng của thiên nhiên trong thời điểm giao mùa: mùa hạ – mùa thu được Hữu Thỉnh cảm nhận một cách tinh tế. Các từ ngữ: vẫn còn, đã vơi dần, cũng bớt bất ngờ, gợi tả rất hay thời lượng và sự hiện hữu của sự vật, của thiên nhiên như nắng thu, mưa thu, tiếng sấm buổi đầu thu. Mùa hạ như còn níu giữ. Nắng, mưa, sấm mùa hạ như còn vương vấn hàng cậy và đất trời. Nhìn cảnh vật sang thu buổi giao mùa, từ ngoại cảnh ấy mà nhà thơ suy ngẫm về cuộc đời. “Sấm” và “hàng cây đứng tuổi là những ẩn dụ tạo nên tính hàm nghĩa của bài “Sang thu”. Nắng, mưa, sấm là những biến động của thiên nhiên, còn mang ý nghĩa tượng trưng cho những thay đổi, biến đổi, những khó khăn thử thách trong cuộc đời. Hình ảnh “hàng cây đứng tuổi” là một ẩn dụ nói về lớp người đã từng trải, được tôi luyện trong nhiều gian khổ, khó khăn:

“Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”

Hữu Thỉnh viết bài thơ “Sang thu” vào đầu những năm 80 của thế kỉ trước. Lúc bấy giờ, đất nước ta tuy đã được độc lập và thống nhất nhưng đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách mới về kinh tế, về xã hội. Hai câu kết bài thơ mang hàm nghĩa khẳng định bản lĩnh cứng cỏi và tốt đẹp của nhân dân ta trong những năm tháng gian khổ, khó khăn ấy.

“Sang thu” là một bài thơ hay của Hữu Thỉnh, được in trong tập thơ “Từ chiến hào tới thành phô” xuất bản vào tháng 5/1985. Bao cảm xúc dâng đầy trong những vần thơ đẹp, hữu tình, nên thơ. Nhà thơ không sử dụng bút màu để vẽ nên những cảnh thu, sắc thu rực rỡ. Chỉ là một số nét chấm phá, tả ít mà gợi nhiều nhưng tác giả đã làm hiện lên cái hồn thu thanh nhẹ, trong sáng, êm đềm, mênh mang… đầy thi vị.

Nghệ thuật nhân hóa và ẩn dụ, cách chọn lọc từ ngữ khá tinh tế là những thành công của Hữu Thỉnh để lại dấu ấn đẹp và sâu sắc trong “Sang thu”. Thơ ngũ ngôn trong “Sang thu” thể hiện một cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt mới mẻ, lắng đọng và hồn nhiên. “Sang thu” là một tiếng lòng trang trải, gửi gắm, báo mùa thu của quê hương đất nước; một tiếng thu nồng hậu, thiết tha.

BÀI SỐ 5

Vào cuối năm 1977, khi chiến tranh đã chấm dứt, hòa bình lập lại, trong một buổi chiều thu, ra ngoại thành Hà Nội, đến thăm một vườn ổi chín, hương vị dịu dịu… một chút ngỡ ngàng, một chút xao xuyến, Hữu Thỉnh tức cảnh sinh tình. Trong ánh nắng hoàng hôn vàng óng, bài thơ Sang thu ra đời. Hãy tưởng tượng ta đang cùng với nhà thơ đứng giữa vườn ổi mà ngâm nga bài thơ tuyệt vời của ông.

“Bỗng nhận ra hương ổ

iPhả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về

Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu

Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”

Bài thơ được viết theo thể thơ 5 chữ, cô đọng, súc tích. Cả bài thơ là giọng điệu nhẹ nhàng, đôi lúc trầm lắng suy tư. Bài thơ là sự rung động của hồn thơ trước thiên nhiên khi đất trời sang thu, một bức tranh giao mùa tuyệt đẹp.

Mở đầu bài thơ, người đọc có thể nhận ra ngay cảm nhận tinh tế của Hữu Thỉnh khi tiết trời sang thu:

“Bỗng nhận ra hương ổiPhả vào trong gió se”.

Từ “bỗng” thể hiện sự đột ngột, bất chợt trong cảm nhận. Nhưng chính cái bất ngờ ấy mới thật nên thơ và đáng yêu trong một buổi chiều thu ở làng quê Bắc Bộ, nhà thơ đã chợt nhận ra điều gì? “Hương ổi phả vào trong gió se”. Vì sao lại là hương ổi chứ không phải là các hương vị khác? Người ta có thể đưa vào bức tranh mùa thu các hương vị ngọt ngào của ngô đồng, cốm xanh, hoa ngâu… nhưng Hữu Thỉnh thì không. Đứng giữa vườn ổi chín vàng, giữa tiết trời cuối hạ đầu thu, ông nhận ra hương vị chua chua, ngòn ngọt của những quả ổi chín vàng ươm. Hương vị ấy đơn sơ, mộc mạc, đồng nội, rất quen thuộc với quê hương. Thế mà ít ai nhận ra sự hấp dẫn của nó. Bằng cảm nhận thật tinh tế, bằng khứu giác, thị giác, nhà thơ đã chợt nhận ra những dấu hiệu của thiên nhiên khi mùa thu lại về. Chúng ta thật sự rung động trước cái “bỗng nhận ra” ấy của tác giả. Chắc hẳn nhà thơ phải gắn bó với thiên nhiên, với quê hương lắm, nên mới có được sự cảm nhận tinh tế và nhạy cảm như thế?

Dấu hiệu của sự chuyển mùa còn được thể hiện qua ngọn gió se mang theo hương ổi chín. Gió se là làn gió nhẹ, thoáng chút hơi lạnh, còn gọi là gió heo may. Ngọn gió se se lạnh, se se thổi, thổi vào cảnh vật, thổi vào lòng người một cảm giác mơn man, xao xuyến. Từ “phả” được dùng trong câu thơ “Phả vào trong gió se” mới độc đáo làm sao! Nó diễn tả được tốc độ của gió, vừa góp phần thể hiện sự bất chợt trong cảm nhận: hương ổi có sẵn mà chẳng ai nhận ra, thế mà Hữu Thỉnh đã bất chợt nhận ra và xao xuyến vì cái hương đồng gió nội ấy.

Không chỉ có hương ổi trong “gió se”, tiết trời sang thu còn có hình ảnh:

“Sương chùng chình qua ngõ”

Từ “chùng chình” gợi nhiều liên tưởng. Tác giả nhân hóa làn sương nhằm diễn tả sự cố ý đi chậm chạp của nó khi chuyển động. Nó bay qua ngõ, giăng mắc vào giậu rào, hàng cây khô trước ngõ xóm đầu thôn. Nó có cái vẻ duyên dáng, yểu điệu của một làn sương, một hình bóng thiếu nữ hay của một người con gái nào đấy. Đâu chỉ có thế, cái hay của từ láy “chùng chình” còn là gợi tâm trạng. Sương dềnh dàng hay lòng người đang tư lự hay tâm trạng tác giả cũng “chùng chình”?

Khổ thơ thứ nhất khép lại bằng câu thơ: “Hình như thu đã về”.

“Hình như” không có nghĩa là không chắc chắn mà thể hiện cái ngỡ ngàng, ngạc nhiên và chút bâng khuâng. Từ ngọn gió se mang theo hương Ổi chín thơm, vàng ươm nơi vườn tược đến cái duyên dáng yểu điệu của một làn sương cứ chùng chình không vội vàng trước ngõ, tác giả đã nhận ra sự chuyển mình nhẹ nhàng nhưng khá rõ rệt của thời tiết và thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa bằng đôi mắt tinh tế và tâm hồn nhạy cảm của một thi sĩ yêu thiên nhiên, yêu mùa thu gắn bó với cuộc sống nơi làng quê, của một người lính đã từng trải qua những năm tháng chiến tranh. Nếu không phải là Hữu Thỉnh, liệu ta có cảm nhận được cái duyên hương thu, có được cái tâm trạng như nhà thơ không?

Sang thu đậm chất dân gian làng quê dân dã, mang đậm hơi thở của ruộng đồng, nhưng vẫn rõ nét triết lí.

“Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”.

Mưa bớt dần, sấm mùa hạ ít đi khi sang thu, hàng cây không còn phải giật mình đột ngột. Đó là quy luật tự nhiên. Nhưng hai câu thơ còn có ý nghĩa hàm ngôn: “Sấm” là những âm vang, tiếng động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời. “Hàng cây đứng tuổi” chính là những con người từng trải, đứng tuổi và họ sẽ vững vàng hơn trước tác động của ngoại cảnh.

Khi sáng tác Sang thu, Hữu Thỉnh cùng với dân tộc vừa trải qua những năm tháng khốc liệt của chiến tranh. Cuộc chinh chiến ấy như một mùa hạ oi ả, bức bối. Sống những năm tháng hòa bình, vào một buổi chiều thu êm ả thanh bình ở làng quê, tác giả cảm nhận sự thanh thản trong tâm hồn như “sông được lúc dềnh dàng” bởi trước kia dẫu muốn con người cũng chẳng thể dềnh dàng, chùng chình, cho nên dẫu có gặp sóng gió cuộc đời, tác giả vẫn “bình tĩnh chấp nhận đương đầu, không trở ngại nào đánh gục được”. Hai câu thơ chất chứa suy tư và trải nghiệm về con người và cuộc sống.

Nếu ở khổ 1, trạng thái cảm xúc của tác giả mới chỉ là “bỗng”, “hình như”, thì ở khổ còn lại, sự vận động của mùa thu đã được cụ thể hóa bằng những sắc thái đổi thay của tạo vật:

“Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã”.

Vì sao sông thì “dềnh dàng” còn chim lại “vội vã”? Đây là những cảm nhận rất tinh tế và có cơ sở khoa học nhưng vẫn giàu sức biểu cảm. “Sông được lúc dềnh dàng” vì sang thu sông bắt đầu cạn, chảy chậm lại, không cuồn cuộn ào ạt như mùa hè, rất thư thả và chuyển động chậm rãi. Còn những đàn chim vội vã vì mùa hè chim trú mưa, ít có cơ hội kiếm mồi. Bây giờ sang thu khô ráo hơn, chúng tranh thủ đi kiếm mồi và trú rét ở phương Nam khi trời ấm áp. Hai hoạt động dường như có vẻ đối lập nhau, nhưng với lối nhân hóa, Hữu Thỉnh đã phả hồn người vào vật, tác giả đã làm cho con sông trở nên duyên dáng, gần người hơn, thể hiện một không gian đẹp, khơi gợi hồn thơ.

Dấu hiệu sang thu còn được miêu tả rất sinh động qua hình ảnh:

“Có đám mây mùa hạVắt nửa mình sang thu”.

Đây là một liên tưởng sáng tạo, thú vị. Mây mùa hạ thường xám xịt, đen kịt tạo cảm giác nặng nề. Mây mùa thu trong vắt, xanh ngắt. “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” (Nguyễn Khuyến). Sự thật, không hề có đám mây nào như thế. Vì sao có sự phân chia rạch ròi, mắt nhìn thấy được trên bầu trời. Đó là đám mây trong liên tưởng, tưởng tượng của tác giả. Nhưng chính cái hình ảnh mùa hạ nối với mùa thu bởi nửa đám mây lững lờ, cũng dềnh dàng, chùng chình, bảng lảng trên tầng không làm cho người đọc cảm nhận không gian và thời gian lúc chuyển mùa mới đẹp làm sao! Có thể nói đây là hai câu thơ đẹp nhất trong bài và tiêu biểu nhất của tiết trời sang thu.

Nhà thơ cảm nhận những biểu hiện nào khác của thời tiết khi chuyển hạ qua thu?

“Vẫn còn bao nhiêu nắngĐã vơi dần cơn mưa”.

Đại từ phiếm chỉ “bao nhiêu” diễn tả số nhiều. Không đếm được. Làm sao đếm được nắng, nhưng tác giả cảm nhận rằng cuối hạ đầu thu đã bớt nồng nàn, oi ả, tia nắng đã bớt rực rỡ và những cơn mưa rào ào ạt cũng đã thưa dần, không chỉ vơi mà mưa cũng ít dần.

Hữu Thỉnh cũng đã có những câu thơ, đoạn thơ gần tứ thơ này nhưng không tài hoa, bất ngờ, thú vị bằng. Chẳng hạn:

“Đi suốt cả ngày thu

Vẫn chưa về tối nao”

Sang thu là một khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng, bâng khuâng mà cũng thầm thị triết lí, đã nối tiếp hành trình thơ thu dân tộc, góp một tiếng thu đằm thắm về mùa thu quê hương, đem đến cho chúng ta tình quê hương đất nước qua nét đẹp mùa thu Việt Nam.

BÀI SÔ 6

Có lẽ, trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông thì mùa thu thường gợi cảm hứng cho thi ca, nhạc họa nhiều nhất. Ta có thể bắt gặp chùm thơ Thu của Nguyễn Khuyến, “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư hay “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu… và cũng viết về đề tài mùa thu, nhà thơ Hữu Thỉnh với thi phẩm “Sang thu” đã có những cảm nhận về phút giây giao mùa chuyển từ cuối hạ sang đầu thu thật mới mẻ, tinh tế, nhẹ nhàng. Bài thơ được sáng tác năm 1977, in trong tập “Từ chiến hào đến thành phố”, rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ nhỏ nhẹ, thiết tha, sâu lắng của Hữu Thỉnh.

Mở đầu bài thơ là những cảm nhận ban đầu trước những tín hiệu dịu nhẹ lúc sang thu trong một không gian thu rất gần và hẹp:

BÀI SỐ 7

Mùa thu là nguồn cảm hứng bất tận trong thơ ca, chỉ một cái mùa thu ấy thôi nhưng giới văn nhân nghệ sĩ đã biết bao lần cảm thán, rồi tự sáng tác riêng cho mình những vần thơ, những câu hát rất riêng, rất đặc sắc. Ví như Xuân Diệu viết trong Đây mùa thu tới bằng một cảm xúc sầu não, ủ rũ khi “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang” với “Hơn một loài hoa đã rụng cành” và “Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”. Có thể thấy rằng đề tài mùa thu trong thi ca Việt Nam và cả thi ca phương Đông là không mới, nét đặc sắc, riêng biệt của mỗi thi phẩm về mùa thu đến từ xúc cảm cá nhân, cách dùng từ, nghệ thuật và tài năng của từng tác giả,… Hữu Thỉnh chính là một trong các nhà thơ tiêu biểu khi viết về thu với một nét rất riêng, ông không viết về cuối thu, giữa thu mà ông chọn một khoảnh khắc tương đối nhạy cảm là thời điểm giao mùa, sang thu. Thế nhưng khoảnh khắc ấy khi vào thơ, đã được tác giả diễn tả một cách vô cùng mượt mà và tinh tế trong bài thơ Sang thu.

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”

Khoảnh khắc nhà thơ nhận ra mùa thu đã về cũng thật đặc biệt, khác hẳn với những tác giả từ xưa tới nay thường nhận định mùa thu qua những thứ rất đặc trưng như tiếng lá xào xạc rơi, sắc vàng của khi vào thu như Lưu Trọng Lư từng viết trong Tiếng thu những vần thơ rất ngộ “Con nai vàng ngơ ngác/Đạp lên lá vàng khô”. Cũng không phải là cái cảnh trời xanh cao vời vợi như trong Thu điếu của Nguyễn Khuyến, lại càng không phải hương cốm mới, cúc họa mi, hay cơn gió heo may lạnh mà người ta vẫn nhắc khi nghĩ về mùa thu ở Hà Nội. Cái khoảnh khắc chớm thu của Hữu Thỉnh nó dân dã, giản dị lắm, nó đến từ “hương ổi” thơm ngào ngạt, ngọt ngào, một thức quà quê quá đỗi quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam. Cái hương ổi ấy, nó không phải chỉ thoang thoảng mà “Phả vào trong gió se” hòa quyện, đặc quánh, khiến thi nhân cảm nhận được một cách rõ nét và ý thức được sự chuyển giao giữa mùa hạ và mùa thu. Đồng thời “cơn gió se” mang hương ổi ấy, cũng phần nào gợi cho người ta cảm giác khô ráo, se se lạnh của mùa thu. Bên cạnh hương ổi chín trong làn gió se lạnh, khoảnh khắc giao mùa còn được thể hiện thông qua một hình ảnh rất độc đáo và đặc biệt mà có lẽ cũng như hương ổi, từ trước đến nay chưa từng thấy thi nhân nào lại hình dung về mùa thu độc lạ thế. “Sương chùng chình qua ngõ”, từ láy “chùng chình” ấy gợi cho độc giả cảm giác chậm rãi, giăng mắc của làn sương sớm, dường như màn sương ấy đang cố nán lại quanh ngõ nhỏ cùng với hương ổi chín để báo hiệu với nhà thơ rằng “Hình như thu đã về”. Hoặc trong một cảm nhận khác, đôi khi người ta nghĩ rằng cái màn sương chùng chình ấy tựa như một dải khăn lụa trắng đang vắt ngang giữa cái ranh giới của mùa hạ và mùa thu, có lẽ còn chút gì đó vấn vương cái ấm áp của mùa hạ chưa muốn chuyển hẳn sang mùa thu hiu lạnh chăng. Đến câu thơ cuối đoạn “Hình như thu đã về” vừa là lời khẳng định mùa thu đã chính thức bắt đầu với những dấu hiệu rõ nét bao gồm hương ổi ngọt ngào, gió se se lạnh và màn sương chậm rãi chùng chình. Nhưng đồng thời câu thơ cũng thể hiện sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của thi nhân trước khoảnh khắc mùa thu tới.

“Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu”

Ở khổ thơ tiếp theo, sự chuyển giao mùa đã không còn nằm trong hương ổi hay làn sương sớm mà nó thể hiện một cách rõ rệt thông qua sự chuyển biến của thiên nhiên đất trời, mở ra một không gian cao rộng và khoáng đạt của đất trời mùa thu. Đó là hình ảnh dòng sông “dềnh dàng” đại diện cho mặt đất, đang chậm rãi chảy, khác hẳn với với một dòng sông của mùa hạ liên tục đón nhận những cơn mưa nặng hạt, những dòng nước cuồn cuộn vội vã. Và có lẽ người ta cũng phần nào cảm nhận được cái vẻ đẹp hiền hòa của dòng sông thu, giống như cái vẻ đẹp mà Nguyễn Khuyến đã nhắc đến trong Thu điếu “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo”, thì nước sông mùa thu có lẽ cũng mang những vẻ tương tự vậy, trong trẻo, thanh khiết và dịu dàng. Cái vẻ đẹp tuyệt diệu mà Nguyễn Du đã từng dùng để miêu tả vẻ đẹp của cô Kiều rằng “Làn thu thủy, nét xuân sơn/Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”. Trái ngược với vẻ “dềnh dàng”, thư thả của dòng sông, thì cánh chim mùa thu lại mang một vẻ vội vã, khẩn trương “Chim bắt đầu vội vã”. Cánh chim chính là đại diện cho bầu trời khoáng đạt rộng lớn, mùa thu đến cũng có nghĩa là thời tiết bắt đầu chớm lạnh, cánh chim ấy có lẽ bắt đầu vội vã đi kiếm ăn, xây tổ cho kiên cố để đợi đông về, hoặc cũng có thể loài chim đang vội vã bay về phương Nam tránh rét. Chung quy lại sự đối lập, tương phản giữa dòng sông dềnh dàng và cánh chim vội vã mục đích làm nổi bật lên cái khoảnh khắc giao mùa vốn dĩ mờ mờ trong không gian, chính điều này đã thể hiện được tâm hồn vô cùng tinh tế, óc quan sát tỉ mỉ của thi sĩ trước thời khắc chuyển mùa. Hai câu thơ “Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu” là một đột phá nghệ thuật, là cách liên tưởng rất thú vị của Hữu Thỉnh trong thời điểm chuyển giao giữa hạ và thu. Tác giả dùng phép nhân hóa đám mây tạo cho nó một dáng vẻ, một hành động giống như một con người, có chút gì đó lười biếng, có chút gì đó vấn vương lắm cái mùa hạ nên mới chỉ “vắt nửa mình sang thu”. Đồng thời câu thơ còn lần nữa nhấn mạnh vào chủ đề của bài thơ là “Sang thu” tức là chưa bước hẳn vào mùa thu thực thụ.

“Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”

Ư

Đây là khổ thơ đúc kết nhiều triết lý mà tác giả muốn gửi gắm tới độc giả sau khi đã bước qua nhiều những năm tháng của cuộc đời. Bằng sự trải nghiệm và óc quan sát tinh tế tỉ mẩn của mình, Hữu Thỉnh đã đưa ra những nhận định so sánh về hai mùa hạ và thu rồi cho ra một cảm nhận rất sâu sắc về khoảnh khắc giao mùa. Ở thời điểm giao mùa hạ – thu nắng tuy vẫn còn đó thế nhưng nó đã kém đi cái phần gay gắt, bức bối của mùa hạ mà trở nên dịu dàng, ấm áp xen lẫn chút se lạnh của mùa thu, đem đến cho con người khoảnh khắc dễ chịu và thư thái. Cùng với đó nếu như mưa của mùa hạ là những cơn mưa dài, nặng hạt thì mưa những lúc đầu thu – cuối hạ đã bớt đi cái tính dồn dập, triền miên, mà chỉ là những cơn mưa phùn nhẹ, thưa thớt. Đi từ cảm xúc của sự trải nghiệm, Hữu Thỉnh đã để lại cho độc giả những triết lý rất hay về cuộc đời trong hai câu thơ cuối bài “Sấm đã bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi”. Sấm là một hiện tượng tự nhiên thường đi kèm với những cơn mưa, khi mưa bớt dần thì tiếng sấm cũng thưa đi. Thế nhưng ngoài ra tiếng sấm này còn tượng trưng cho những giông bão của cuộc đời, của những năm tháng tuổi trẻ, mà khi con người đã ngả mình sang thu tức là đã bước qua dốc bên kia của cuộc đời, đã là “hàng cây đứng tuổi”, thì bấy nhiêu giông bão ấy, bấy nhiêu tiếng sấm vốn đã từng gây bất ngờ, chao đảo nay lại trở nên bình thường. Bởi một lẽ đương nhiên rằng ai cũng phải trải qua những năm tháng non dại bồng bột, những vấp ngã trong cuộc đời thì mới có thể trưởng thành và con người ta khi có trải nghiệm rồi thì cũng dần trở nên quen thuộc với sự thay đổi của cuộc sống, trở nên vững vàng và nhìn đời bằng đôi mắt bình thản và chậm rãi hơn hẳn.

Sang thu được viết khi tác giả đã bước vào ngưỡng tuổi 35, tức là hơn một phần ba chặng đường đời, có lẽ khi ấy ngay cái lúc mà Hữu Thỉnh nghe thấy hương ổi chín, ông đã ngạc nhiên, giật mình nhận ra thu về, đồng thời cũng chợt nghĩ đến dải đời đang bước sang thu của mình. Để rồi Hữu Thỉnh, cố viết cái khoảnh khắc chuyển giao ấy thật chậm rãi, thế nhưng cũng không ngăn được cái bước đi vội vã của thời gian, thu đến bất ngờ, thời trai trẻ cũng trôi đi vùn vụt. Bao nhiêu năm tháng rực rỡ huy hoàng như mùa hạ cuối cùng cũng đang lưu luyến rời đi để lại trong lòng tác giả nhiều xúc cảm.

BÀI SỐ 8

Viết về đề tài mùa thu, nếu trong thơ ca trung đại có chùm ba bài thơ thu “Thu điếu”, “Thu vịnh”, “Thu ẩm” của Nguyễn Khuyến, thơ Mới có “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư thì thơ ca hiện đại sau năm 1975 nổi bật với bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh. Đây là bài thơ đã khắc họa bức tranh thiên nhiên lúc giao mùa với những biến chuyển nhẹ nhàng của tạo vật. Đồng thời bài thơ cũng thể hiện sự cảm nhận tinh tế của tác giả.

Hữu Thỉnh là nhà thơ trẻ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc. Bài thơ “Sang thu” được ông sáng tác năm 1977, in trong tập “Từ chiến hào đến thành phố”. Mở đầu tác phẩm là tâm trạng bất ngờ, thảng thốt của tác giả khi nhận ra mùa thu đã về với thiên nhiên và con người:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”

Dấu hiệu đầu tiên giúp Hữu Thỉnh nhận ra tiết trời đã sang thu là hương ổi. Đây là một trong những đặc trưng tiêu biểu của mùa thu Bắc Bộ. Những làn gió thu nhè nhẹ lướt qua mang theo hương ổi đang ở độ chín khiến con người cảm thấy dễ chịu vô cùng. Gió thu không quá mạnh như gió mùa Đông Bắc, nó chỉ là những làn gió heo may mang theo cái se lạnh đầu mùa. Không quá nhẹ nhàng cũng không quá ào ạt nhưng loại gió này đủ sức làm hương ổi ở vùng quê lan rộng ra trong không gian. Theo “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê, “phảlà bốc mạnh và tỏa ra thành luồng” gợi mùi hương ổi nồng nàn đang phiêu du cùng làn gió. Nếu các nhà thơ khác gắn mùa thu với hương cốm hay những chiếc lá vàng quen thuộc thì Hữu Thỉnh lại gắn mùa thu với hương ổi. Có thể nói đây là nét mới mẻ, sự sáng tạo thu hút bạn đọc của tác giả.

Không chỉ cảm nhận mùa thu bằng khứu giác, xúc giác, Hữu Thỉnh còn cảm nhận mùa thu bằng thị giác qua hình ảnh sương thu đang “chùng chình”. Dường như chúng đang nửa muốn đi, nửa muốn ở lại và đang cố ý trôi chầm chậm để giăng mắc vào cảnh vật thiên nhiên, để được con người chiêm ngưỡng vẻ đẹp mỏng manh của mình. Những làn sương trăng trắng chuyển động chầm chậm, dùng dằng như đang cố tình để khiến con người nhận ra chúng, nhận ra tín hiệu của mùa thu. Mặc dù được cảm nhận bằng sự tổng hòa của các giác quan nhưng có lẽ do thu về một bất ngờ quá nên nhà thơ chưa kịp chuẩn bị tinh thần đón nhận. Từ ngữ “hình như”đã thể hiện sự bâng khuâng, mơ hồ đến ngạc nhiên của tác giả.

Hữu Thỉnh đã mở rộng tầm nhìn, quan sát bao quát và kĩ càng hơn để có thể chắc chắn với cảm nhận của mình:

“Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu”.

Dòng sông mùa thu trở nên hiền hòa hơn bao giờ hết. Nó chảy thong thả gợi sự bình yên, êm dịu. Dường như dòng sông còn vương vấn mùa hạ chưa muốn dứt nên cố tình chảy chậm lại để lưu giữ những gì còn sót lại của mùa hạ đã qua. Trái ngược với sự chậm rãi của dòng sông là sự gấp gáp, vội vã của cánh chim. Thu sang cũng là lúc những đàn chim chuẩn bị về phương Nam tránh rét để chống chọi với thời tiết khắc nghiệt của mùa đông. Biện pháp nhân hóa đã làm bức tranh thiên nhiên khi chớm thu trở nên có hồn, gần gũi và sinh động. Biện pháp này khiến đám mây mang trạng thái nuối tiếc của con người. Vì nuối tiếc mà đám mây chỉ “vắt nửa mình sang thu” còn nửa kia thì đang nhớ thương mùa hạ.

Tác giả đã khép lại bài thơ bằng những lời thơ mang đầy tính chiêm nghiệm sâu sắc:

“Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”.

Nắng, mưa, sấm là những đặc trưng không thể thiếu của mùa hạ. Nắng vẫn còn nồng nàn nhưng cũng không quá gay gắt như những ngày hạ oi bức. Những cơn mưa rào của mùa hạ cũng thưa dần và tiếng sấm cũng nhẹ nhàng hơn. Các từ “vơi dần”, “bớt”vừa thể hiện mức độ, vừa thể hiện cường độ của các hiện tượng nắng, mưa, sấm. Tiếng sấm của mùa thu đã thưa đi, ít dữ dội hơn nên cây cối không còn bị giật mình vì sấm sét. Hai câu thơ cuối bài còn mang ý nghĩa hàm ẩn. “Sấm” tượng trưng cho những âm thanh, vang động bất thường xảy đến trong cuộc đời, “hàng cây đứng tuổi” là ẩn dụ cho những con ngườitừng trải qua biết bao khó khăn, vấp ngã. Giống như “hàng cây đứng tuổi”, khi con người đã trải qua những giông tố trong cuộc đời thì sẽ vững vàng hơn, bình tĩnh và bản lĩnh hơn. Đồng thời cũng có được những chiêm nghiệm bổ ích cho bản thân.

Chúng ta không còn bị bất ngờ trước những điều xảy ra bất thường của thế giới xung quanh nữa. Bởi lẽ giông tố sẽ giúp cây bám rễ sâu hơn vào trong lòng đất, giông tố sẽ giúp mỗi con người trưởng thành hơn. Đó cũng là triết lí mà nhà thơ Hữu Thỉnh muốn gửi gắm đến bạn đọc. Chúng ta hãy giữ một thái độ tích cực, tâm thế chủ động để có thể đương đầu với những khó khăn, thử thách trong cuộc sống này.

Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn giúp tác giả dễ dàng thể hiện mạch cảm xúc và sự cảm nhận tinh tế về bức tranh thiên nhiên lúc sang thu. Ngôn ngữ thơ giản dị, hình ảnh thơ có tính biểu cảm cao đã tạo nên một bức tranh giao mùa tuyệt đẹp. Đó là bức tranh được thổi hồn từ HữuThỉnh – một con người giàu sự trải nghiệm.

BÀI SỐ 9

Mùa thu luôn là nguồn cảm hứng bất tận của thi ca. Trước cái tiết trời se lạnh của mùa thu, đã có rất nhiều nhà thơ gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình vào đó. Hữu Thỉnh là một nhà thơ như thế. Ông đã viết nên “Sang thu” bằng tất cả những rung cảm, của mình. Bài thơ thể hiện những cảm xúc tinh tế của nhà thơ khi đất trời đang dần chuyển mình từ hạ qua thu.

Bài thơ được viết vào cuối năm 1977 đã tái hiện lại một cách nhẹ nhàng, sinh động sự giao mùa của trời đất. Đó là lúc thiên nhiên đang có chút gì đó tiếc nuối, có chút ngập ngừng, cũng có chút bồi hồi trước khi bước sang thu.

Mở đầu bài thơ tác giả đã cảm nhận thu đến bằng những cảm xúc rất mới, rất riêng bằng chính những rung cảm thực tế của nhà thơ:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se”

Nếu các nhà thơ khác cảm nhận thu đến bằng sắc vàng của lá, của hoa, của ngô đồng chín thì Hữu Thỉnh lại cảm nhận thu bằng một mùi vị rất riêng: hương ổi. Thu nhẹ nhàng đến trong sự bất ngờ của chính nhà thơ. “Bỗng nhận ra” là cảm xúc là cảm xúc ngỡ ngàng và dường như Hữu Thỉnh đang giật mình nhận ra thu đến giữa hương sắc của trời dần sang thu. Gió se lành lạnh đặc trưng của mùa thu mang theo hương ổi đến. Động từ “phả” như một khẳng định về sự xuất hiện của hương ổi bởi đây không phải là hương thơm nồng nàn, ngọt ngào nhưng cũng đủ để đánh thức khứu giác của tác giả. Thu đến nhẹ nhàng, trong trẻo mang theo màn sương sớm bao trùm không gian:

“Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”

Từ láy “chùng chình” gợi cảm giác về sự chậm rãi cùng với chuyển động ngắt quãng nhịp nhàng. Phải chăng đây cũng chính là nhịp chuyển động trong xúc cảm của nhà thơ. Một chút gì đó bâng khuâng, một chút ngỡ ngàng, một chút mang thu về, một chút tiếc nuối của mùa hạ. Hương ổi cùng màn sương sớm đã khiến nhà thơ giật mình nhận ra thu đã về. Chỉ qua bốn câu thơ tác giả đã thể hiện mọi cung bậc cảm xúc của mình qua khứu giác, xúc giác, thị giác để mang đến những cảm nhận rất riêng của mùa thu.

Tiếp đến mùa thu được cảm nhận ở không gian rộng lớn hơn, nhiều tầng bậc hơn:

“Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu”

Đến lúc này nhà thơ đã có thể khẳng định được sự tồn tại của mùa thu. Thu đến, sự chuyển động của dòng sông cũng trở nên nhẹ nhàng, chậm rãi hơn chứ không còn dữ dội như nước lũ mùa hạ. Dường như mọi chuyển động đang chậm lại khi thu đến, chỉ có cánh chim là bắt đầu vội vã bay đi tránh rét. Điểm nhìn của nhà thơ đã được chuyển dần lên bầu trời cao rộng. Bằng cảm nhận tinh tế của mình, đám mây thật mềm mại, êm ái như một dải lụa duyên dáng “vắt nửa mình sang thu”. Dường như đám mây cũng đang còn lưu luyến mùa hạ, đang muốn níu giữ lại chút không gian của mùa hạ trước khi trời đất thật sự chuyển mình. Càng vậy ta lại càng nhận ra sự tinh tế của nhà thơ bởi mùa thu chỉ vừa mới chớm vào mùa mà ông có thể nhận ra và miêu tả rất sinh động về nó.

Nếu hai khổ thơ trên, Hữu Thỉnh miêu tả rất sinh động về mùa thu của thiên nhiên, đất trời thì ở khổ cuối thu đã được cảm nhận bằng sự chiêm nghiệm, suy tư:

“Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hang cây đứng tuổi”

Thời khắc giao mùa nắng vẫn còn đó nhưng đã vơi dần những cơn mưa rào mùa hạ. Nắng, mưa, sấm, chớp – những đặc trưng của mùa thu vẫn còn đó nhưng mức độ đã vơi dần đi. Hai câu thơ kết thúc bài mang đến cho người đọc những cảm giác thú vị:

“Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hang cây đứng tuổi”

“Hàng cây đứng tuổi” gợi cho người đọc liên tưởng đến cuộc đời của mỗi người. Đời người cũng giống như hàng cây, cũng có lúc còn trẻ, trưởng thành rồi già cỗi. Đứng tuổi ở đây phải chăng chính là đứng tuổi của đời người? Hàng cây ở đây lại được hiện lên trong mưa gió, sấm chớp, bão giông của đất trời sang thu. Ở độ tuổi này con người đã đủ chín chắn, đủ trưởng thành để không còn bất ngờ trước những giông bão của cuộc sống.

“Sang thu” đã mang đến cho người đọc những cảm giác rất mới, rất lạ về mùa thu. Thu trong thơ ca không chỉ là lá vàng rơi xào xạc, là sắc vàng của hoa cúc… mà còn là hương ổi, là màn sương chùng chình, là dòng sông dung dằng chảy… Những hình ảnh gần gũi, thân quen bằng xúc cảm tinh tế của nhà thơ đã được miêu tả thật tình, thật thơ. Bài thơ được viết theo mạch cảm xúc của tác giả đã dẫn người đọc dần dần thả mình theo sự chuyển động của mùa thu.

Bằng ngôn từ giản dị, hình ảnh than quen, Hữu Thỉnh không chỉ cho người đọc thấy được cảm nhận tinh tế mà còn thể hiện được tình yêu thiên nhiên, trời đất của mình

BÀI SỐ 10

“Sang thu” là bài thơ ngũ ngôn của Hữu Thỉnh, từng được nhiều người ưa thích. Bài thơ gồm có ba khổ thơ; mỗi khổ thơ bốn câu là một nét thu đẹp êm đềm của đất trời, tạo vật trong buổi đầu thu – thu mới về, thu chợt đến.

“Sang thu” thể hiện một bút pháp nghệ thuật thanh, nhẹ, tài hoa, diễn tả những cảm nhận, những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kì diệu của thiên nhiên trong buổi chớm thu. Đối tượng được cảm nhận là cảnh sắc mùa thu nơi đồng quê trên miền Bắc đất nước ta.

Với thi sĩ Xuân Diệu thì tín hiệu đầu thu là sắc “mơ phai” của lá được bàn tay tạo hóa “dệt” nên giữa muôn ngàn cây:

“Đây mùa thu tới, mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng.”

(Đây mùa thu tới)

Nhưng với Hữu Thỉnh là “hương ổi” của vườn quê được “‘phả vào” trong làn gió thu se lạnh. Cái hương vị nồng nàn ấy nơi vườn nhà mà tuổi thơ mỗi chúng ta sẽ mang theo mãi trong tâm hồn, đi suốt cuộc đời:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se.”

“Phả” nghĩa là bốc mạnh và tỏa ra thành luồng (Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê). Hữu Thỉnh không tả mà chỉ gợi, đem đến cho người đọc những liên tưởng về màu vàng ươm, về hương thơm lừng, thơm ngát tỏa ra, bốc lên từ những trái ổi chín nơi vườn quê trong những ngày cuối hạ, đầu thu. Vì gió thu “se” lạnh, nên hương ổi mới thêm nồng nàn phả vào đất trời và hồn người.

Nhiều người đã biết: Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Bằng Sơn, Nguyễn Đình Thi,… đã viết thật hay về hương cốm Vòng (Hà Nội), một nét đẹp mến yêu về hương vị mùa thu của quê hương đất nước:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới…”

( Đất nước – Nguyễn Đinh Thi)

“Hương ổi” được hữu hình trong bài “Sang thu” là một cái mới trong thơ, đậm đà màu sắc dân dã của Hữu Thỉnh.

Sau “hương ổi” và “gió se”, nhà thơ nói đến sương thu. Cũng không phải là “Sương thu lạnh… Khói thu xây thành” trong “Cám thu tiền thu” của Tản Đà. Cũng chẳng phải là giọt sương lạnh và tiếng thu buồn những ngày xa xưa: “Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun” (Chinh phụ ngâm). Mà là sương thu chứa đầy tâm trạng “chùng chình” cố ý làm chậm chạp để kéo dài thời gian:

“Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về.”

Sương thu đã được nhân hóa; hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu về. Nếu các từ ngữ “bỗng nhận ra” biểu lộ cảm xúc ngạc nhiên thì hai chữ “hình như” thể hiện sự phỏng đoán một nét thu mơ hồ vừa chợt phát hiện và cảm nhận.

Chữ “se” vần với chữ “về” (vần chân, vần bằng, vần cách) đã góp phần tạo nên sự phong phú về vần điệu và nhạc điệu, làm cho giọng thơ nhẹ nhàng, mênh mông gợi cảm.

Không gian nghệ thuật của bức tranh “Sang thu” được mở rộng, ở chiều cao, độ rộng của bầu trời với cánh chim bay và đám mây trôi, ở chiều dài của dòng sông qua khổ thơ thứ hai tiếp theo:

“Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu.”

Sông mùa thu trên miền Bắc nước ta nước trong xanh, êm đềm trôi: “Trắng xóa tràng giang, phẳng lặng tờ” (“Tức cánh chiều thu” – Bà Huyện Thanh Quan). Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng”, nhẹ trôi như cố tình chậm chạp, thiếu khẩn trương, để mất nhiều thì giờ… Chim bay “vội vã”, đó là những đàn cu ngói, những đàn sâm cầm, những đàn chim đối mùa, tránh rét, từ phương Bắc xa xôi bay về phương Nam. Trong số đàn chim bay “vội vã” ấy phải chăng có những đàn ngỗng trời mà nhà thơ Nguyễn Khuyến đã nói tới trong “Thu vịnh”:

“Một tiếng trên không ngỗng nước nào?”

Dòng sông, cánh chim, đám mây mùa thu đều được nhân hóa. Bức tranh thu trở nên hữu tình, chứa chan thi vị. Hữu Thỉnh không dùng những từ ngữ như: lang thang, lơ lửng, bồng bềnh, nhẹ trôi,… mà lại dùng chữ vắt.

“Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.”

Mây như kéo dài ra, vắt lên, đặt ngang trên bầu trời, buông thõng xuống. Câu thơ tả đám mây mùa thu của Hữu Thỉnh khá hay và độc đáo: cách chọn từ và dùng từ rất sáng tạo.

Khổ thơ cuối nói lên một vài cảm nhận và suy ngẫm của nhà thơ khi nhìn cảnh vật trong những ngày đầu thu:

“Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”

Nắng, mưa, sấm, những hiện tượng của thiên nhiên trong thời điểm giao mùa: mùa hạ – mùa thu được Hữu Thỉnh cảm nhận một cách tinh tế. Các từ ngữ: vẫn còn, đã vơi dần, cũng bớt bất ngờ, gợi tả rất hay thời lượng và sự hiện hữu của sự vật, của thiên nhiên như nắng thu, mưa thu, tiếng sấm buổi đầu thu. Mùa hạ như còn níu giữ. Nắng, mưa, sấm mùa hạ như còn vương vấn hàng cây và đất trời. Nhìn cảnh vật sang thu buổi giao mùa, từ ngoại cảnh ấy mà nhà thơ suy ngẫm về cuộc đời. “Sấm” và “hàng cây đứng tuổi là những ẩn dụ tạo nên tính hàm nghĩa của bài “Sang thu”. Nắng, mưa, sấm là những biến động của thiên nhiên, còn mang ý nghĩa tượng trưng cho những thay đổi, biến đổi, những khó khăn thử thách trong cuộc đời. Hình ảnh “hàng cây đứng tuổi” là một ẩn dụ nói về lớp người đã từng trải, được tôi luyện trong nhiều gian khổ, khó khăn:

“Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”

Hữu Thỉnh viết bài thơ “Sang thu” vào đầu những năm 80 của thế kỉ trước. Lúc bấy giờ, đất nước ta tuy đã được độc lập và thống nhất nhưng đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách mới về kinh tế, về xã hội. Hai câu kết bài thơ mang hàm nghĩa khẳng định bản lĩnh cứng cỏi và tốt đẹp của nhân dân ta trong những năm tháng gian khổ, khó khăn ấy.

“Sang thu” là một bài thơ hay của Hữu Thỉnh, được in trong tập thơ “Từ chiến hào tới thành phố” xuất bản vào tháng 5.1985. Bao cảm xúc dâng đầy trong những vần thơ đẹp, hữu tình, nên thơ. Nhà thơ không sử dụng bút màu để vẽ nên những cành thu, sắc thu rực rỡ. Chỉ là một số nét chấm phá, tả ít mà gợi nhiều nhưng tác giả đã làm hiện lên cái hồn thu thanh nhẹ, trong sáng, êm đềm, mênh mang… đầy thi vị.

Nghệ thuật nhân hóa và ẩn dụ, cách chọn lọc từ ngữ khá tinh tế là những thành công của Hữu Thỉnh để lại dấu ấn đẹp và sâu sắc trong “Sang thu”. Thơ ngũ ngôn trong “Sang thu” thể hiện một cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt mới mẻ, hàm lắng đọng và hồn nhiên. “Sang thu” là một tiếng lòng trang trải, gửi gắm, báo mùa thu của quê hương đất nước; một tiếng thu nồng hậu, thiết tha.

Trên đây là Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm Sang thu của nhà thơ Hữu Thỉnh hay nhất. Mong rằng bạn sẽ tìm được cho mình những ý văn hay và phù hợp nhất

Ra đi

Ra đi

1

Ra đi từ một làng quê bên chợ,
Ở đây là vùng đồi,
Không có biển, nên từ “biển” cũng xa xôi
Có người già chỉ thấy biển qua mắm tươi khô cá
Nơi này có ngã ba sông,
Có đò dọc đò ngang, nhưng không có tàu,
Có chợ, chưa có phố.

Hết cuộc chiến tranh này, đến cuộc chiến tranh kia
Thay nhau đè lên những mái gianh
Mái gianh mùa hanh cháy nhanh
Tường sỏi đen màu khói.

Không thể có thời gian dành chỗ đứng cho những nhà tầng mái bằng, mái ngói.
Chiến tranh như máy ủi,
Chiến tranh thù văn minh.

Chợ cháy,
Làng cháy.
Tre, rạ,
Không kịp dựng nhà, dựng lều
Quê hương mà ta sinh ra và quý yêu
Khổ đau là thế
Ta cũng chỉ là một viên sỏi nhỏ bong ra từ mảnh đất này.

2

Buổi ra đi ta đọc bài thơ,
Đêm sân đình gửi lời yêu thương thấm vào tất cả
Con rùa đá, con nghê đồng, viên ngói vỡ, bức tường rêu phong.
Tan vào cả nước đục ngã ba sông, chỉ xin gửi vào lòng người một giọt thương, giọt nhớ.
Bài thơ ngây thơ
Người nghe cũng hồn nhiên ngây thơ
Cái thời sẵn lòng tin và dễ đồng lòng
Cái thời dễ nghe, hay khen
Cái thời, quen nghĩ theo một chiều xuôi như chiều nước chảy
Vì vậy
Mà bài thơ tìm ra cái chết
Lại được người nghe rưng rưng…

3

Cha tôi vắng mặt,
Người đã tiễn tôi bằng cái nhìn như vuốt vào đôi mắt,
Đó là lúc người khuyên tôi vào đại học, mà tôi quyết ra đi…

Bà nội
Ngồi nơi cửa bếp
Cái nhìn và cái gật đầu của bà là lời vĩnh biệt
Bà chết, sẽ vắng mặt tôi

Mẹ
Hết đứng lại ngồi,
Chạy ra, chạy vô,
Mẹ không bước ra ngoài ngưỡng cổng
Chỉ có ánh mắt mẹ là vượt qua cả đích đi của con.
Khúc lưng cong của con đường làm cho con ngoái lại.
Mỗi khúc quanh là sự lìa xa cái cũ,
Và là cái nhìn lệch hướng với đích đang đi.
Chân mẹ vẫn bám trên đất nhà mình
Con cảm rằng ở đấy có cây sung cây vả
Con ước khúc đường quanh này hãy vật vã, vồng lên như càu vồng, để con leo lên, cho con thấy mẹ.
Trên đường con đi,
Hun hút trong tâm sâu ý nghĩ chỉ là dáng mẹ tiễn con,
Đó cũng là dáng mẹ chờ con và đón con.
Lời hẹn “trở về” chưa chắc đã còn, nhưng con mãi mãi vẫn là con mẹ,
Mẹ cứ buồn cứ lo, cứ bạc đầu, cứ ốm đau, vì làm sao khác được.
Chỉ dáng mẹ với cái nhìn là không có sau có trước, không lụi tàn, không mờ phai.
Chỉ một lần như vậy, và như vậy mãi không thôi.

4

Em không chia tay anh ngày ra đi,
Em tiễn anh ở nơi trường sơ tán.
Buổi ra đi
những đôi trai gái tiễn đưa nhau
Tiếng khóc dùng dằng.
Em vắng,
Nhưng cái nhìn của em vọng từ xa lặng
Để chỉ mình anh được ngắm em nhiều…

Hai trái đồi quê hương như hai vú người thương
Vồng lên trên cánh đồng lúa quê hương đương thì con gái
Gió hè mát và màu gió xanh như màu lúa vậy
Ngực cánh đồng chắc khoẻ thơm hương trinh trắng dậy thì.

Hai trái đồi là hai trái vú
Anh đã lớn lên bằng những dòng sữa thơm ngọt từ đây
Đậu, sắn, ngô, khoai có cả màu hoa sim tím.
Ở dưới chân đồi có cái giếng,
Không biết ai đào, tự thuở nào,
Miệng giếng bằng miệng nón em
Quanh năm viền hoa sim và cỏ chỉ.
Giếng chỉ sâu bằng đáy nón
Nhưng nước không bao giờ cạn.
Như chiều sâu lòng em
Sâu đến độ không đựng nổi vành môi khi anh quá yêu.
Nhưng em không chiều, em che chiếc nón.
Trên bờ giếng là hòn đá tảng,
Có một vệt bàn chân đủ từng đường vân năm ngón.
Khuôn bàn chân bằng cả người anh.
Thuở chăn trâu
Có lúc anh đã áp thử lưng mình.
Em cười, khóc sợ run người không can nổi.
Em không mách mẹ,
Để đêm ấy hai đứa vặn nhỏ đèn canh chừng bóng tối.
Mờ sương em đứng đợi anh
Chẳng có thánh thần nào vật nổi nghĩa tình,
Con trẻ thương nhau thương từ tấm bé…

Bàn chân vị thần núi tự thuở nào không rõ
chỉ có bàn chân phải
Em cứ hỏi anh
Thế còn bàn chân trái?
Anh nói như dỗ dành,
Để ngày lớn khôn anh sẽ đi tìm nốt bàn chân
Em lặng im,
Em nhìn, như mơ về cái hướng nào ấy mà anh sẽ đi trong mai sau lớn khôn.

Tuổi bé thơ không đi hết vòng đồi
Không leo qua chóp vú,
Ngang lưng đồi là con đường đỏ
Vành nón chao nghiêng, chiếc quai hồng hằn nghiêng.
Nắng xiên khoai, xiên vào mặt phải bàn chân.
Anh xa em, để anh đi tìm nốt bàn chân trái của thần.

Anh đi để lại dáng chờ
Anh đi mang theo nửa phần nỗi nhớ
Tất cả những gì sau lưng còn nợ
Sẽ trả phía bên kia thời gian,
– NĂM NĂM, MƯỜI NĂM, HAI MƯƠI NĂM, HOẶC LÂU HƠN NỮA
Em có đứng được không?

5

Đi bằng chân cũng đến được chiến trường,
Ngày hôm nay lại thêm một con người bay vượt ra ngoài sức hút của trái đất để đến một hành tinh.
Chiến trường thêm ta,
Chiến tranh thêm ta,

Và vũ trụ cũng nhận thêm một con người mới.
Cả hai việc giống nhau là ĐẾN.
Cả hai chiều đi cùng có một chặng đường
Cả hai chiều đi đều phải canh chừng cái chết
Phải cùng sống và cùng đến đích
Cái đích cuối cùng là hoà bình.
Đi chân đất vào chiến tranh,
Đi tàu vũ trụ vào mây xanh.
Những hạt gạo đều và cùng trắng,
Những dé lúa uốn cong một chiều cong lưỡi câu,
Những quả trứng cùng tròn một vòng tròn trứng.
Hạt gạo gãy đôi,
Dé lúa đứng thẳng,
Trái trứng đập ra.
Lúc đó ta mới nhận ra cái riêng của chúng.

Tôi đi vào đồng đội
Để
Làm một dé lúa uốn câu,
Làm một quả trứng như những quả trứng.
Tôi không còn là tôi nữa
Từ rất xa,
Trên đường bằng, hay trên chót vót núi cao, ai cũng gọi được tên tôi.
Ai cũng có thể nói chuyện với tôi từ phía sau lưng, từ phía cánh tay.
Chẳng cần nhìn mặt tôi mà vẫn thấy thân tình.
Tôi yêu quý cái bình thường
Và cái bình thường cũng cho tôi tình yêu mới
Cái bình thường dạy tôi biết quên mình đi để làm một hạt gạo,
chứ đừng làm hạt gạo gãy đôi.
Và tôi đủ sức leo lên tận đỉnh đồi
Chẳng có đỉnh núi nào cao hơn chóp vú người yêu,
Tôi chưa thấy ngôi sao nào cao hơn trán tôi…

6

Cây táo sau nhà chỉ chín vào mùa đông,
Buồng cau trước cửa cũng già vào mùa đông,
Những cuống quả ngày đêm lo sợ,
Những cơn gió bắc gầm gào,
Nước mắt mẹ cũng già, cũng chín thành giọt trong mùa đông
mỗi khi ra vườn vào cửa, mỗi khi nhìn bếp lửa, mỗi khi đếm từng hạt cơm.

Cuộc chiến tranh cũng gầm gào réo rít,
Bóng một người lính qua cổng cũng làm mẹ giật mình, chợt mừng chợt lo,
Cái thắc thỏm nhiều hơn sự tin chắc.
Ánh mắt của người lính lạ mặt lia vào cổng,
Cái thận trọng, rụt rè của người lính hỏi thăm đường…

Bảy lần mẹ sinh con gái
Nỗi lo này giống nỗi lo lúc chuyển bụng sinh con.
Mười lần táo chín,
Mười lần cau già,
Mười lần nước mắt mẹ rụng vào vạt áo lại thấm khô.
Và rồi cũng vào một mùa đông nào đó,
Táo chín chia hết cho trẻ nhỏ láng giềng
Cau già nhường cho những lứa đôi may mắn
Lúc đó nước mắt mẹ rụng đầy mặt con.

Và lần thứ hai nước mắt của con lọt vào tai mẹ,
Con bé bằng lúc mới sinh
Con làm sao nghe được tiếng rơi của giọt nước mắt
Làm sao nhìn được nụ cười trên gương mặt mẹ.
Dù cả hai lần sinh ra con đã thành người.
Vẫn chỉ mẹ nghe được tiếng khóc của con
Lần đầu ấy
Và cả lần thứ hai này,
Nhưng lần này, mẹ phải hỏi con:
Ai sinh ra con để con về với mẹ?

7

Đi làm đảng viên
Đi làm liệt sĩ,
Tất cả đều không thành
Chỉ là thương binh.

Thương binh không vết sứt ngoài da,
Thương binh có những vết rách trong phổi,
Được hàn lại bằng kháng sinh và tình đồng đội.
Thương binh có siêu vi trùng nằm ngủ trong gan,
Có vết đạn trong van tim, có vết loét lam nham trong dạ dày.
Và nguy hiểm nhất là có tế bào lạ biến hình của chất độc da cam nằm lặng yên, mỉm cười thâm trầm trong máu…
Chỉ có bộ óc là không hề sây sứt gì,
Bộ óc thêm những vết nhăn hằn sâu
Thêm những chất xám trong tinh chất
Bộ óc được thêm nếp gấp,
Diện tích có thể bọc được địa cầu,
Chiều dài có thể nối tới những ngôi sao xa nhất
Chiều sâu không thể đo bằng đáy đại dương.
Bộ óc không nguyên lành khi qua chiến tranh,
Nhưng cái đổi thay không làm thương tổn,
Mà là sự sống lớn.
Không có cái gì chết đi trong bộ óc
Chỉ có những điều
Tạm quên
Lánh vào vô thức
Sẽ có ngày được khơi lên…

8

Ra đi từ vùng đồi,
Ra đi từ ngôi nhà cũ.
Ngôi nhà cũ
Là những mảnh nợ chắp vào nhau,
Cây cột
Là gốc xoan cộc ở vườn sau ông ngoại,
Cái kèo, cái rui, cái gianh cái rạ,
Cả những miếng vá bằng vải nhựa rách, mẹ nhặt, khi chiều tàn phiên chợ những năm mất mùa, để đắp lên cho kín cây rui gian giữa.
Tất cả là của người ta
Mình đã có chi gọi là làm chủ.

9

Chiến tranh – tan những gia đình
Chiến tranh – gắn chặt xã hội,
Những gia đình kiểu Việt Nam: con trâu đi bừa, chồng cày vợ cấy.
Giặc đến mấy chục năm nay
Lúc vắng cha, là lúc tan nhà
Lúc vắng con nhà không còn
Một mình mẹ, gồng gánh, tảo tần, lặn lội đằng đẵng một chiều dài không gian lặp đi lặp lại hai màu sớm – tối, trên một không gian ruộng, chợ, làng, nhà…
Thế mà vẫn lớn hơn, không gian và thời gian của con và của cha đi xa.

10

Chẳng phải mẹ để rách và chờ con đâu
Mẹ thừa sức làm được ngôi nhà mới.
Vì mỗi nếp nhăn dài và rối
Mỗi sợi tóc hàng ngày bạc vội
Là lời giục giã của xóm giềng
Là cái dáng giơ lên của con dao lưỡi liềm
Chỉ chờ mẹ gật đầu là chặt tre cắt rạ.
Mẹ cứ im lặng
Cái im lặng nặng trơ như đá
Mẹ chẳng dám chối từ ai.
Mẹ chỉ dám thở dài lúc một mình quên mất
Mẹ chờ hết thời loạn li
Con đi
Có lúc vọng lại tiếng đồn buồn
lời nói mẹ bỏ ngoài tai nhưng trong bụng bồn chồn.
Mẹ chờ
Mẹ tin ngày hoà bình sẽ đến.
Con có về không?
Đó là câu hỏi không thể tự dối lòng
Cứ lấp lửng một mối lo chiến tranh
Không dám nghĩ đến sự nguyên lành
Chỉ mong con đừng mất.

Cha tôi đang nói:
Cha không bao giờ mắc tội với con.
Con cứ đi đi rồi con sẽ hiểu.
Không có con đường nào dài bằng suy nghĩ của con đâu,
Không có cánh rừng nào nhiều cây bằng suy nghĩ của con đâu.
Con hãy đi đi!
Vượt Trường Sơn đến tận mũi Cà Mau,
Con sẽ thấy suy nghĩ của con phải gấp đi, gấp lại, như cuộn dây thừng cha đang cầm trên tay đây.
Tất cả những con đường con sẽ đi chỉ dài bằng đoạn gấp.
Còn suy nghĩ của con sẽ dài bằng cả sợi dây thừng.
Hãy đi đi! Tìm lấy những điều dại mà học
Con sẽ phải tự khôn lên
Nếu chỉ toàn những điều khôn lọt vào con, con sẽ không vượt ra khỏi mình được.
Con không chết được đâu, đừng sợ!
Cũng như mẹ, ở trong cha, con là mãi mãi.

Điều nhớ nhất là trung thực
Đấy, cha đã phải tự nói ra hai chữ ấy, tức là cha đã phải cắt một đoạn ruột của cha cầm trong tay để con được nhìn tận mắt.
Nói như vậy để rõ rằng cha không có lỗi
Nếu còn đi được bằng hai chân về đứng trước mặt cha, may ra con mới hiểu được một chữ,

Hãy đi đi!
Hãy nhớ lấy!
Ở dưới bảy thước đất này, có một nắm xương của con nằm dưới đó
Đừng quên là hàng năm, cha phải quỳ vái trước nắm xương đó.
Người ta ví chiều cao của núi Thái Sơn và cái vô tận của cái vô nguồn
Núi Thái Sơn rất cao nhưng vẫn là một chiều cao
Con không được lấy chiều cao ấy mà đo công lao của cha.
Nếu dùng chiếc cân, nếu dùng cây thước, để làm rõ ra tình yêu thì đó là điều tàn nhẫn của con người.
Hãy lương thiện hơn trong việc này nếu con không bao giờ nghĩ về cha như người đời đang nghĩ.

Hãy đi đi!
Học lấy những điều dại
Để gấp khúc những suy nghĩ của mình lại thành cuộn thừng lớn,
Lúc đó con sẽ yêu quý cha bằng cả sợi dây thừng.

11-1984