Câu thơ tài hoa được nhiều người tìm đọc nhất hôm nay 11/01/2026

Củ khoai vùi,tình bạn hãy còn nguyên
Cắn một miếng, nụ cười còn bốc khói

Tháng bảy trời xanh - Thu Bồn

Top 20 bài thơ có tổng lượt xem nhiều nhất hôm nay 11/01/2026

Huyền thoại một tình yêu

Giá được một chén say mà ngủ suốt triệu năm
Khi tỉnh dậy, anh đã chia tay với người con gái ấy?
Giá được anh hẹn hò dù phải chờ lâu đến mấy
Em sẽ chờ như thể một tình yêu…

Em sẽ chờ
Như hòn đá biết xanh rêu
Của bến sông xa, mùa cạn nước
Cơn mưa khát trong nhau từ thuở trước
Sắc cầu vồng chấp chới mé trời xa…

Em sẽ chờ anh
Như lúa đợi sấm tháng ba
Như vạt cải vội đơm hoa, đợi ngày chia cánh bướm
Như cô Tấm thương chồng từ kiếp trước
Lộn lại kiếp này từ quả thị nhận ra nhau

Em ở hiền
Em có ác chi đâu
Mà trời lại xui anh bắt đầu tình yêu với người con gái khác?
Có phải rượu đâu mà chờ cho rượu nhạt
Có phải miếng trầu
Đợi trầu dập mới cay?

Dẫu chẳng hẹn hò
Em cứ đợi, cứ say
Ngâu có xa nhau, Ngâu có ngày gặp lại
Kim – Kiều lỡ duyên nhau
Chẳng thể là mãi mãi…

Em vẫn đợi
Vẫn chờ
Dẫu chỉ là huyền thoại một tình yêu!

Đoàn Thị Lam Luyến

Nguồn: Gửi tình yêu, NXB Hội nhà văn, 2003

Tự Hát

Tự Hát

Tự Hát (Xuân Quỳnh)

Chả dại gì em ước nó bằng vàng
Trái tim em, anh đã từng biết đấy
Anh là người coi thường của cải
Nên nếu cần anh bán nó đi ngay

Em cũng không mong nó giống mặt trời
Vì sẽ tắt khi bóng chiều đổ xuống
Lại mình anh với đêm dài câm lặng
Mà lòng anh xa cách với lòng em

Em trở về đúng nghĩa trái tim
Biết làm sống những hồng cầu đã chết
Biết lấy lại những gì đã mất
Biết rút gần khoảng cách của yêu tin

Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em
Biết khao khát những điều anh mơ ước
Biết xúc động qua nhiều nhận thức
Biết yêu anh và biết được anh yêu

Mùa thu nay sao bão giông nhiều
Những cửa sổ con tàu chẳng đóng
Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm
Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh

Em lo âu trước xa tắp đường mình
Trái tim đập những điều không thể nói
Trái tim đập cồn cào cơn đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn

Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có
Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Tự Hát” của tác giả Nguyễn Thị Xuân Quỳnh. Thuộc tập Tự Hát (1984), danh mục Thơ Xuân Quỳnh trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp Trấn Quan Trần Hầu Xướng Hoạ Kỳ 4 (Xướng Hoạ Cùng Ông Trần Hầu, Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Kỳ 4)

Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp Trấn Quan Trần Hầu Xướng Hoạ Kỳ 4 (Xướng Hoạ Cùng Ông Trần Hầu, Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Kỳ 4)

Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp Trấn Quan Trần Hầu Xướng Hoạ Kỳ 4 (Xướng Hoạ Cùng Ông Trần Hầu, Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Kỳ 4, Hồ Xuân Hương)

Đàn tao từng mấy mặt treo cờ,
Thua được lần nhau phải thế chưa.
Tả hận phấn son cùng chén rượu,
Ngưng duyên bèo lạc với dòng thơ.
Non cao bể rộng vâng lời cả,
Nước chảy hoa trôi vẫn ý xưa,
Còn nợ trần gian còn phải trả,
Dẫu bao giờ hết liệu bây giờ.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp Trấn Quan Trần Hầu Xướng Hoạ Kỳ 4 (Xướng Hoạ Cùng Ông Trần Hầu, Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Kỳ 4)” của tác giả Hồ Xuân Hương. Thuộc tập Lưu Hương Ký, danh mục Thơ Hồ Xuân Hương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

10 câu nói hài hước bá đạo nhất của bố mẹ mà ai cũng phải nghe đi nghe lại trong đời

Bố mẹ là những người thân yêu nhất trong cuộc đời chúng ta. Bố mẹ cũng là những người luôn thương yêu, chiều chuộng, quan tâm và đặc biệt là cũng thường xuyên… rầy la chúng ta nhất. Và chắc chắn ai cũng đã từng nghe những câu nói như trong bài viết 10 câu nói hài hước bá đạo nhất của bố mẹ mà ai cũng phải nghe đi nghe lại trong đời sau đây mà phongnguyet.info đã tổng hợp lại. Nào, mời bạn cùng đọc và ôn lại những kỉ niệm tuyệt vời trong cuộc đời mình nhé!

10-cau-noi-hai-huoc-ba-dao-nhat-cua-bo-me-ma-ai-cung-phai-nghe-di-nghe-lai-trong-doi-1

Thật ra thì với bọn con, miễn là còn chỗ đặt chân để bước đi và đặt lưng để ngủ thì phòng vẫn “đạt chuẩn” là “còn sạch chán”. Chính vì vậy mà trong lúc mẹ đang “cong lưng” “nhặt rác” quanh phòng, hầu hết chúng ta đều trong trạng thái “lẳng lặng chuồn lẹ” hoặc “giả vờ ngủ”.

10-cau-noi-hai-huoc-ba-dao-nhat-cua-bo-me-ma-ai-cung-phai-nghe-di-nghe-lai-trong-doi-2

Thật ra thì chơi game kiếm được khối tiền bố mẹ ạ, các game thủ tham dự các cuộc thi đẳng cấp quốc gia và thế giới đã chứng minh được điều đó. Một ngày nào đó, con cũng sẽ được như thế (dù không biết ngày nào), hãy tin tưởng và “để yên” cho con “luyện công” nhé!

10-cau-noi-hai-huoc-ba-dao-nhat-cua-bo-me-ma-ai-cung-phai-nghe-di-nghe-lai-trong-doi-3

Bọn con có “đụng” mà bố mẹ, “đụng” nhiều là đằng khác! Ví dụ như đụng vô… bát cơm này, tủ lạnh, máy vi tính, điện thoại, cún cưng, quần áo này. “Đụng” rất nhiều mà!

10-cau-noi-hai-huoc-ba-dao-nhat-cua-bo-me-ma-ai-cung-phai-nghe-di-nghe-lai-trong-doi-4

Đi móc bọc, đi ăn mày, chăn trâu, bán vé số, ở đợ,… rất nhiều nghề nghiệp vất vả đã được bố mẹ “hăm dọa” suốt tháng này qua năm khác. Thật ra thì chẳng có đứa trẻ nào tin vào “viễn cảnh đen tối” đó, nên “cái sự lười” cứ thế được tiếp diễn và không có dấu hiệu sụt giảm.

10-cau-noi-hai-huoc-ba-dao-nhat-cua-bo-me-ma-ai-cung-phai-nghe-di-nghe-lai-trong-doi-5

Thật ra thì cuộc sống của bọn con cũng “không dễ dàng” gì. Áp lực từ những kì thi, điểm số trong lớp, chuyện hòa nhập với các bạn, xác định ước mơ, hướng đi cho tương lai và việc đáp ứng những kì vọng của bố mẹ cũng đủ khiến “tụi nhỏ bây giờ” đau đầu, tất bật rồi!

10-cau-noi-hai-huoc-ba-dao-nhat-cua-bo-me-ma-ai-cung-phai-nghe-di-nghe-lai-trong-doi-6

Nói thế thôi, nhưng khi con trai nhận được thư tỏ tình của bạn gái hay con gái nhận được nhiều hoa hồng ngày 8/3, bố mẹ nào cũng cảm thấy “phơi phới” trong lòng cả. Có khi mẹ còn đi khoe với các cô hàng xóm vì con mình lớn lên xinh xắn, đáng yêu, có nhiều bạn mến mộ nữa đấy!

10-cau-noi-hai-huoc-ba-dao-nhat-cua-bo-me-ma-ai-cung-phai-nghe-di-nghe-lai-trong-doi-7

Thật ra bọn con thấy “ở dơ”, “mập”, “gầy” hay “học dở”,… cũng không liên quan lắm đến việc tìm thấy “một nửa” của mình sau này hay không đâu bố mẹ ạ. Chuyện tình yêu vốn là chuyện “cái duyên cái số nó vồ lấy nhau” hoặc là do “hên-xui mà thôi!”.

10-cau-noi-hai-huoc-ba-dao-nhat-cua-bo-me-ma-ai-cung-phai-nghe-di-nghe-lai-trong-doi-8

“Nhân vật bí ẩn con nhà người ta” đã thu hút được lượng “an-ti fan” đông đảo, và được “truy nã” qua bao năm tháng nhưng vẫn chưa tìm ra manh mối nào. Đừng quá áp lực mỗi khi bố mẹ so sánh mình như thế nhé, chỉ là bố mẹ quá yêu thương bạn nên mới kì vọng như thế thôi!

10-cau-noi-hai-huoc-ba-dao-nhat-cua-bo-me-ma-ai-cung-phai-nghe-di-nghe-lai-trong-doi-9

Một thú vui lành mạnh và tiết kiệm như vậy mà bố mẹ còn phản đối thì chắc bọn con chỉ còn biết ngồi đếm… lông mèo, hoặc nằm… giả chết cho qua ngày tháng mà thôi.

10-cau-noi-hai-huoc-ba-dao-nhat-cua-bo-me-ma-ai-cung-phai-nghe-di-nghe-lai-trong-doi-10

Nếu mẹ muốn, mẹ cứ mua cho con một đàn vịt, con sẽ chăm chỉ “chăn dắt” nó… vào nồi, mỗi thời mỗi khác cơ mà! Và mẹ không định nói là mẹ nhặt con ngoài thùng rác đem về nuôi đó chứ?!

Hy vọng bài viết 10 câu nói hài hước bá đạo nhất của bố mẹ mà ai cũng phải nghe đi nghe lại trong đời trên đây của phongnguyet.info đã mang đến cho bạn những phút giây thư giãn thú vị cũng như có được khoảnh khắc lắng lòng và ôn lại những kỉ niệm “không thể nào quên” lúc chúng ta còn được ấm yêm trong vòng tay bố mẹ. Hãy luôn yêu thương, quan tâm chăm sóc và dành thời gian ở bên cạnh bố mẹ, người thân và gia đình lớn của mình nhé. Đừng để đến lúc mất đi thì lại hối hận muộn màng. Hãy cùng chúng tôi chia sẻ bài viết này đến với nhiều người hơn nữa nhé! 

Top 12 Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh lớp 9 hay nhất

Top 12 Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh lớp 9 hay nhất

Bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh ra đời gần cuối năm 1977, khi đất nước mới thống nhất hòa bình in trong tập “Từ chiến hào đến thành phố” đã gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc bởi lời thơ trong sáng, dung dị, hình ảnh sinh động, nhiều cảm xúc. Bài thơ là những cảm nhận tinh tế cùng sự quan sát tỉ mỉ về biến chuyển của đất trời từ cuối hạ sang thu, từ đó bộc lộ tình yêu thiên nhiên thiết tha của một tâm hồn nhạy cảm và sâu sắc. Đặc biệt, khổ thơ đầu là nỗi niềm bâng khuâng, xao xuyến, ngỡ ngàng của tác giả khi nhận ra bước chân mùa thu về ngập ngừng trong không gian vườn ngõ. Mời các bạn tham khảo một số bài văn phân tích khổ thơ đầu bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh để cảm nhận vẻ đẹp của sự chuyển mùa kì diệu này.

Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” số 1

Bốn mùa trong thiên nhiên đều mang trong nó những nét đẹp quyến rũ rất riêng những có lẽ mùa thu dễ đem lại trong lòng nhiều dư vị, cảm xúc nhất và trở thành nguồn cảm hứng bất tận để người nghệ sĩ chắp bút, cất lên tiếng lòng trước sự kỳ diệu đầy quyến rũ của thiên nhiên. Cái lạnh đầu mùa, những chuyển động tinh tế của thiên nhiên qua từng ngọn cây, kẽ lá đã đi vào những trang thơ với tất cả những gì tinh tế nhất, Và vẻ đẹp ấy đã được nhà thơ Hữu Thỉnh bắt gặp, viết nên những vần thơ thu bâng khuâng, xao xuyến lòng người. Và nó được thể hiện rõ nhất qua khổ đầu của bài thơ “Sang thu”.

Hữu Thỉnh tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, ông sinh ra ở mảnh đất Vĩnh Phúc. Thế giới nghệ thuật trong thơ ông mang nhiều dấu ấn đậm nét. Đó là thành quả một đời tích lũy của tư duy nghệ thuật mạnh mẽ, hiệu quả. Dọc con đường thơ, Hữu Thỉnh đã nỗ lực tìm kiếm không ngừng, đổi mới sáng tạo từ truyền thống sang hiện đại. Và “Sang thu” là một trong những tác phẩm thể hiện rõ nhất tinh thần ấy của ông. Năm 1977, “Sang thu” ra đời, nằm trong tập thơ “Từ chiến hào đến thành phố” (1991). “Sang thu” là một bức thông điệp lúc giao mùa. Mùa hạ dần qua, mùa thu tới, khoảnh khắc ấy được diễn tả bằng sự rung cảm tinh tế, sự trải nghiệm sâu sắc của nhà thơ.

Trong thơ ca, nhiều nhà thơ đã dùng những hình ảnh biểu tượng để diễn tả mùa thu đang gần kề. Với Xuân Diệu đó sắc “mơ phai” của lá dệt trên muôn cây:

Đây mùa thu tới, mùa thu tới

Với sắc mơ phai dệt lá vàng

(Đây mùa thu tới)

Và với Hữu Thỉnh là vị “hương ổi” của vườn quê phả vào trong làn gió đặc trưng của mùa thu. Cái hương vị nồng nàn ấy luôn khiến con tim ta xao xuyến:

Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Hữu Thỉnh thể hiện sự tài tình khi sử dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện. Chữ “bỗng” bật ra trong sự bất ngờ đầy thú vị. Thu đã về với đất trời, với lòng người mà không hề báo trước. Với hai câu thơ với hàng loạt những hình ảnh mang tính biểu trưng, Hữu Thỉnh đã đưa đến cho chúng ta những cảm nhận sâu sắc mùi vị của thiên nhiên. Đó là mùi thơm của hương ổi, cái lạnh nhè nhẹ chạm vào da thịt của gió se. Tại sao không phải là những hương vị khác như ngô đồng trong thơ Bích Khê, mùi hương cốm mới trong thơ Nguyễn Đình Thi. Với Hữu Thỉnh, mùa thu đến với ông qua mùi thơm của hương ổi, thứ hương thơm dân dã, bình dị của đồng quê. Nó không rõ ràng như hương ngô đồng,hay nồng nàn như mùi cốm mới mà nó là thứ hương thoảng qua. Hương vị ấy đơn sơ, mộc mạc, gợi những gì làng quê nhất. Gió se là làn gió nhè nhẹ lướt quá, mang theo một hơi lạnh. Huy động khứu giác để cảm nhận mùi thơm của hương ổi, xúc giác để cảm nhận cái lạnh của gió se, mùa thu như lan tỏa khắp không gian nơi vườn thôn, ngõ xóm. Có lẽ rằng, phải yêu thiên nhiên, gắn bó với mảnh đất nơi miền quê lắm thì Hữu Thỉnh mới viết được những vần thơ nhưng vậy?

“Phả” vốn là một động tác mạnh gợi một cái gì đó đột ngột, nó diễn tả cái tốc độ của gió, vừa diễn tả sự bất chợt trong cảm nhận. Một cái gì đó thật nhẹ nhàng, êm ái. Nó gợi hình dung về hương ổi chín, về sự vận động của gió đưa hương. Hương ổi thơm như hòa quyện lại, luồn vào trong gió se. Một câu thơ ngắn mà chứa cả gió cả hương Câu thơ ngắn mà có cả gió cả hương. Những đặc trưng thu ấy chỉ tìm được ở những vùng quê miền Bắc, bởi vậy chỉ qua hai câu thơ, ta đã thấy tình cảm gắn bó với quê hương của nhà thơ. Mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh không chỉ là hương ổi, là gió se mà còn là hình ảnh những màn sương sớm:

Sương chùng chình qua ngõ

Sương được miêu tả như một thực thể hữu hình có sự vận động – một sự vận động chậm rãi. Không chỉ cảm nhận mùa thu bằng khứu giác, xúc giác mà giờ đây nhà thơ còn huy động cả thị giác để toàn tâm, toàn ý cảm nhận mùa thu về. Nghệ thuật nhân hóa cùng với việc sử dụng từ láy khiến mùa thu như có ý chậm lại, ghé thăm vào từng con phố, ngõ xóm nhỏ không muốn đi. Tất cả tạo nên một bức tranh thu nơi thôn quê yên ả, thanh bình. Nhà thơ đã đón nhận thu về bằng cả tấm lòng và tâm hồn mình. Những tín hiệu gây ấn tượng mới lạ bởi sự mong manh, mơ hồ, không rõ nét. Phải vậy chăng mà nhà thơ, khi đã cảm nhận những nét riêng của mùa thu, vẫn còn dè dặt để thốt lên rằng:

Hình như thu đã về

Hai chữ “hình như” gợi ra một cảm giác đầy mơ hồ, mong manh giống như một sự tự vấn lòng mình. Thế nhưng thực ra là một lời thông báo – một thông báo rất nhẹ nhàng, ý vị. Mùa thu giờ đây như xâm chiếm cả không gian, thời gian. Bằng cái nhìn tinh tế, nhạy cảm của một nhà thơ, chỉ với một khổ thơ với hai mươi tiếng đã để lại cho người đọc biết bao rung động về khoảnh khắc giao mùa của đất trời thật ngỡ ngàng, gợi cảm nhưng cũng thật ấm áp.

Thu trong thơ Hữu Thỉnh sâu lắng và nhẹ nhàng, nó vương vấn, thoảng qua mãi trong tâm hồn người đọc về một tiết thu ở đồng quê Bắc Bộ Có một cái gì thật êm, dịu dàng toát lên từ đoạn thơ ấy. Với việc sử dụng ngôn ngữ tinh tế cùng với các biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, “Sang thu” đã thể hiện một bút pháp nghệ thuật thanh, nhẹ, những rung động mang mác, bâng khuâng trong thơ Hữu Thỉnh khi khắc họa thành công khoảnh khắc giao mùa của đất trời và những rung động của lòng người. Hơn cả cái khoảnh khắc giao mùa rung động lòng người ấy, là cả một tiếng lòng của một con người thiết tha yêu quê hương, luôn hướng về những gì thân thuộc, gần gũi nhất, một tiếng thu nồng nàn thiết tha.

Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” số 2

Mùa thu mang đến cho tâm hồn con người những gì nhẹ nhàng và dịu êm nhất. Mùa của sự tĩnh lặng và những rung động sâu sắc nhất khơi gợi nhiều những suy nghĩ tâm tư rung động của mỗi nhà văn nhà thơ. Nếu như mùa thu đi vào thơ Nguyễn Khuyến bình dị, gần gũi; đi vào thơ Nguyễn Đình Thi là tiếng vọng từ đất nước ngàn đời thì mùa thu của Hữu Thỉnh qua bài thơ “Sang thu” thật đẹp, thật nên thơ và trữ tình, và tấm lòng của nhà thơ cũng thật duyên. Bài thơ đã phác họa thành công sự chuyển mùa kỳ diệu của đất trời và của lòng người đặc biệt biệt qua khổ thơ:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió dịu.

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”

“Sang thu” là bài thơ ngũ ngôn của Hữu Thỉnh thể hiện một bút pháp nghệ thuật thanh, nhẹ, tài hoa, diễn tả những cảm nhận, những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kì diệu của thiên nhiên trong buổi chớm thu. Đối tượng được cảm nhận là cảnh sắc mùa thu nơi đồng quê trên miền Bắc đất nước ta. Khổ trện mở đầu cho bài thơ Sang thu là những cảm xúc khơi nguồn cảm hứng sáng tác của tác giả. Nếu như Xuân Diệu bắt đầu mùa thu với tín hiệu đầu thu là sắc “mơ phai” của lá được bàn tay tạo hóa “dệt” nên giữa muôn ngàn cây:

“Đây mùa thu tới, mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng.”

Nhưng với Hữu Thỉnh là “hương ổi” của vườn quê dược “‘phả vào” trong làn gió thu se lạnh. Cái hương vị nồng nàn ấy nơi vườn nhà mà tuổi thơ mỗi chúng ta sẽ mang theo mãi trong tâm hồn, đi suốt cuộc đời:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió dịu.”

Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ .Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”. Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian .”Phả” là một động từ mang ý tác động được dùng như một cách khẳng định sự xuất hiện của hơi thu trong không gian: “hương ổi”, một mùi hương không dễ nhận ra, bởi hương ổi không phải là một mùi hương thơm ngào ngạt, nồng nàn mà chỉ là một mùi hương thoảng đưa êm dịu trong gió đầu thu, nhưng cũng đủ để đánh thức những cảm xúc trong lòng người.Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ: “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm .Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm , hương thơm lựng , vị giòn, ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê.“Hương ổi” được hữu hình trong bài “Sang thu” là một cái mới trong thơ, đậm dà màu sắc dân dã của Hữu Thỉnh.

Không chỉ cảm nhận mùa thu bằng khứu giác, xúc giác mà nhà thơ còn cảm nhận màn sương thu trong phút giao mùa. Màn sương hình như cũng muốn tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc vào thu nên chùng chình chưa muốn dời chân:

“Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”

Tác giả sử dụng thành công từ láy tượng hình “chùng chình” gợi cảm giác về sự lưu luyến ngập ngừng, làm ta như thấy một sự dùng dằng, gợi cảnh thu sống động trong tĩnh lặng, thong thả, yên bình. “Chùng chình” là sự ngắt quãng nhịp nhàng, chuyển động chầm chậm hay cũng chinh là sự rung động trong tâm hồn nhà thơ? Một chút ngỡ ngàng, một chút bâng khuâng, nhà thơ phát hiện ra vẻ đẹp rất riêng của không gian mùa thu. “Hình như” là một từ tình thái diễn tả tâm trạng của tác giả khi phát hiện sự hiện hữu của mùa thu. Nếu các từ ngữ “bỗng nhận ra” biểu lộ cảm xúc ngạc nhiên thì hai chữ “hình như” thể hiện sự phỏng đoán một nét thu mơ hồ vừa chợt phát hiện và cảm nhận. Sự góp mặt của màn sương buổi sáng cùng với hương ổi đã khiến cho nhà thơ giật mình thảng thốt.

Không phải là những hình ảnh đã trở nên ước lệ nữa mà là chi tiết thật mới mẻ, bất ngờ. Xưa nay, màu thu thường gắn liền với hình ảnh lá vàng rơi ngoài ngõ, lá khô kêu xào xạc… Và ta ngỡ như chỉ những sự vật ấy mới chính là đặc điểm của mùa thu. Nhưng đến với “Sang thu” của Hữu Thỉnh, người đọc chợt nhận ra một làn hương ổi, một màn sương, một dòng sông, một đám mây, một tia nắng. Những sự vật gần gũi thế cũng làm nên những đường nét riêng của mùa thu Việt Nam và chính điều này đã làm nên sức hấp dẫn của “Sang thu”.

Đoạn thơ mở đầu diễn biến mạch theo mạch cảm xúc tự nhiên của tác giả vào lúc sang thu.Nghệ thuật nhân hóa và ẩn dụ, cách chọn lọc từ ngữ khá tinh tế là những thành công của Hữu Thỉnh để lại dấu ấn đẹp và sâu sắc trong “Sang thu”. Cách sử dụng thể thơ ngũ ngôn thể hiện một cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt mới mẻ, hàm lắng đọng và hồn nhiên. “Sang thu” là một tiếng lòng trang trải, gửi gắm, báo mùa thu của quê hương đất nước; một tiếng thu nồng hậu, thiết tha.

Bài thơ gợi cho ta hình dung một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp vào thời điểm giao mùa hạ – thu ở vùng nông thôn Bắc Bộ. Những câu thơ của Hữu Thỉnh như có một chút gì đó thâm trầm, kín đáo, rất hợp với cách nghĩ, cách nói của nguời thôn quê. Bài thơ giúp ta cảm nhận được tình cảm thiết tha, tâm hồn tinh tế của nhà thơ giàu lòng yêu thiên nhiên của nhà thơ.

Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” số 3

Cuối hạ, thu đến mang theo những cảm xúc bất chợt để lại trong lòng người những bồi hồi, xao xuyến về một mùa thu nồng nàn, êm ái. Ngày hạ đi để nhường chỗ cho nàng thu dịu dàng bước tới, sự chuyển mình giữa hai mùa thật nhẹ nhàng và ngập ngừng như lưu luyến, vấn vương một cái gì đó của thời đã qua. Khoảnh khắc ấy thật đẹp, nhưng không phải ai cũng dễ dàng nhận thấy. Riêng nhà thơ Hữu Thỉnh thì khác, ông đã có một cái nhìn thật tinh tường, một cảm nhận thật sắc nét và một cách sống hòa hợp với thiên nhiên nên mới có thể vẽ lại bức tranh in dấu sự chuyển mình của đất trời qua bài thơ “Sang Thu” – linh hồn của cả bài thơ chỉ vẻn vẹn trong hai từ thế thôi, song ý nghĩa sâu sắc chất chứa trong hai từ ngắn ngủi ấy lại không hề ít. Và có lẽ những ý nghĩa đó, lại tập trung nhiều hơn vào khổ thơ đầu bài thơ:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”.

Dẫu biết rằng thời gian bốn mùa luôn luân chuyển hết xuân đến hạ, thu sang rồi đông tới, thế nhưng ta vẫn cảm thấy ngỡ ngàng khi quên đi nhịp sống sôi động hàng ngày mà lắng nghe tiếng mùa thu đi để cảm nhận thời khắc đặc biệt bước chuyển mùa của thiên nhiên. Sang thu của Hữu Thỉnh giúp ta chiêm ngưỡng lại những giây phút giao mùa tinh tế đầy ý vị mà bấy lâu nay ta hững hờ. Đó là lúc hồn ta run lên những cảm nhận dung dị.

Chỉ với bốn câu thơ ngắn mở đầu, Hữu Thỉnh đã đem đến cho chúng ta những cảm nhận sâu sắc về thiên nhiên. Những tín hiệu của mùa thu với những nét phác họa tài hoa: hương ổi, gió se, sương chùng chình giản dị mà hiện lên đầy gợi cảm. Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se”

Từ “bỗng” được gieo lên trong niềm ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Từ bao giờ nhỉ, thu về? Tất cả đến với tác giả nhẹ nhàng, mà đột ngột quá, thu về với đất trời quê hương, với lòng người mà không hề báo trước. Để rồi trong giây phút ngỡ ngàng ấy, nhà thơ mới chợt nhận ra hương ổi. Vì sao lại là hương ổi mà không phải là các hương vị khác? Người ta có thể đưa vào bài thơ về mùa thu các hương vị ngọt ngào của ngô đồng, cốm xanh, hoa ngâu,… nhưng Hữu Thỉnh thì không. Giữa tiết trời cuối hạ đầu thu, ông nhận ra hương vị chua chua, ngòn ngọt của những quả ổi chín vàng ươm.

Hương ổi, thứ hương thơm quê mùa, dân dã. Hương ổi không nồng nàn. Đó là thứ hương dìu dịu, nhè nhẹ. Hương vị ấy đơn sơ, mộc mạc, đồng nội, rất quen thuộc của quê hương. Thế mà ít ai nhận ra sự hấp dẫn của nó. Bằng cảm nhận tinh tế, bằng khứu giác, thị giác, nhà thơ đã chợt nhận ra dấu hiệu của thiên nhiên khi mùa thu lại về. Chúng ta thật sự rung động trước cái “bỗng nhận ra” ấy của tác giả. Chắc hẳn nhà thơ phải gắn bó với thiên nhiên, với quê hương lắm nên mới có được sự cảm nhận tinh tế và nhạy cảm như thế!

Dấu hiệu của sự chuyển mùa còn được thể hiện qua ngọn gió se mang theo hương ổi chín. Gió se là một làn gió nhẹ, mang chút hơi lạnh, còn được gọi là gió heo may. Ngọn gió se se lạnh, se se thổi, thổi vào cảnh vật, thổi vào lòng người một cảm giác mơn man, xao xuyến. Từ “phả” được dùng trong câu thơ mới độc đáo làm sao! “Phả” là một động tác mạnh gợi một cái gì đó đột ngột. Nó diễn tả được tốc độ của gió, vừa góp phần thể hiện sự bất chợt trong cảm nhận: hương ổi có sẵn mà chẳng ai nhận ra, thế mà Hữu Thỉnh đã bất chợt nhận ra và xao xuyến trước cái hương đồng gió nội ấy.

Câu thơ ngắn mà có cả gió cả hương. Hương là hương ổi, gió là gió se. Đây là những nét riêng của mùa thu vùng đồi trung du miền Bắc. Gợi được như vậy hẳn cái tình quê của Hữu Thỉnh phải đậm đà lắm. Câu thơ: “Bỗng nhận ra hương ổi. Phả vào trong gió se” còn có cái cảm giác ngỡ ngàng bối rối: bỗng nhận ra. Nhận ra hương ổi giống như một sự phát hiện nhưng ở đây là phát hiện ra mùi hương vẫn vương vấn mà bấy lâu nay con người hờ hững. Chính vì sự phát hiện ra cái gần gũi xung quanh mình cho nên con người mới có cảm giác ngỡ ngàng đôi chút bối rối ấy. Không chỉ có “hương ổi’ trong “gió se” mà tiết trời sang thu còn có hình ảnh:

“Sương chùng chình qua ngõ”

Một hình ảnh đầy ấn tượng. Sương được cảm nhận như một thực thể hữu hình có sự vận động – một sự vận động chậm rãi. Từ chùng chình gợi lên nhiều liên tưởng. Tác giả nhân hóa làn sương nhằm diễn tả sự cố ý đi chậm chạp của nó khi chuyển động. Nó bay qua ngõ, giăng bắc và giậu rào, vào hàng cây khô trước ngõ đầu thôn, làm ta như thấy một sự dùng dằng, gợi cảnh thu sống động trong tĩnh lặng, thong thả yên bình. Nó có cái vẻ duyên dáng, yểu điệu của một làn sương, một hình bóng của thiếu nữ hay của một người con gái nào đấy. Đâu chỉ có thế, cái hay của từ láy “chùng chình” còn là gợi tâm trạng sương dềnh dàng hay lòng người đang tư lự, hay tâm trạng của tác giả cũng “chùng chình”?.

Khổ thơ thứ nhất khép lại bằng câu thơ “Hình như thu đã về”. Từ “hình như” không có nghĩa là không chắc chắn, mà là thể hiện cái ngỡ ngàng, ngạc nhiên và có chút bâng khuâng. Từ ngọn gió se mang theo hương ổi thơm chín, vàng ươm đến cái duyên dáng, yểu điệu của một làn sương cứ chùng chình không vội vàng trước ngõ, tác giả đã nhận dần nhận ra sự chuyển mình nhẹ nhàng nhưng khá rõ rệt của tiết trời và thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa bằng đôi mắt tinh tế và tâm hồn nhạy cảm của một thi sĩ yêu thiên nhiên, gắn bó với cuộc sống nơi làng quê.

Khổ thơ ngắn mà đã để lại cho ta biết bao rung động. Ta như cảm thấy một hồn quê, một tình quê đi về trong câu chữ làm lòng ta ấm áp. Hình ảnh quê hương như càng thêm gần gũi, yêu mến.

Mùa thu lặng lẽ và nhẹ nhàng. Những hình ảnh thơ cứ vương vấn mãi trong hồn. Có một cái gì thật êm, dịu dàng toát lên từ đoạn thơ ấy. Quả thực ta thấy lòng thanh thản vô cùng mà lại vô cùng nôn nao nhớ đến những miền quê xa vắng trong nắng thu khi đọc mấy câu thơ của Hữu Thỉnh.

Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” số 4

“Sang thu” là một bài thơ xuất sắc của Hữu Thỉnh. Khổ thơ mở đầu bài thơ đã để lại cho người đọc những cảm nhận sâu sắc:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”.

Từ “bỗng” đã thể hiện được sự ngạc nhiên, bất ngờ của tác giả. Chữ “bỗng” được tác giả đặt ở đầu bài thơ như để đánh động mọi giác quan, mọi cảm nhận của độc giả để nhận ra sự chuyển mình của trời đất. Và vào khoảnh khắc ấy hương ổi vừa ngọt ngào vừa nồng nàn đã đánh thức giác quan của thi nhân. Ổi phải chín đến nhường nào, thơm ngon đến nhường nào thì mùi hương của nó mới đủ “phả vào trong gió se”.

Mùi hương ấy đã lan tỏa trong cái rét nhè nhẹ của đất trời, tạo nên một hương ổi ngọt ngào, thanh mát. Nhận ra hương ổi giống như một sự phát hiện nhưng ở đây là phát hiện ra mùi hương vẫn vương vấn mà bấy lâu nay con người hờ hững. Chính vì sự phát hiện ra cái gần gũi xung quanh mình cho nên con người mới có cảm giác ngỡ ngàng đôi chút bối rối ấy.

Phân tích khổ thơ đầu tiên trong bài thơ Sang thu của Hữu ThỉnhTiếp nối những tín hiệu của mùa thu là hình ảnh: “sương chùng chình qua ngõ”. Sương trong câu thơ của Hữu Thỉnh được cảm nhận như một thực thể hữu hình có sự vận động chậm rãi. Từ láy “chùng chình” khiến người đọc liên tưởng đến sự thong thả, yên bình trong cái tĩnh lặng của thiên nhiên. Hình ảnh sương chùng chình qua ngõ cùng với hương ổi phả vào trong gió se là những hình ảnh mùa thu ở thôn quê êm ả thanh bình.

Như vậy, thu đến đã được cảm nhận bằng cả khứu giác và thị giác. Câu hỏi có vẻ dè dặt: “Hình như thu đã về” nhưng thật ra là một lời thông báo rất nhẹ nhàng rằng thu đã đến với tất cả chúng ta. Câu thơ không phải là một lời khẳng định hay một tiếng reo vui mà nó mang chút gì đó thâm trầm, kín đáo của người dân thôn quê.

Chỉ bốn câu thơ nhưng lại để trong lòng người đọc biết bao rung động. Bốn câu thơ còn chứa đựng trong đó là bức tranh thiên nhiên thôn quê khi thu về. Điều này đã khiến đoạn thơ càng trở nên gần gũi, thân thuộc.

Bằng nét vẽ gợi tả, Hữu Thỉnh đã giúp người đọc cảm nhận được sự chuyển mình của mùa thu. Đồng thời qua đây người đọc cũng thấy được khả năng quan sát tinh tế, ngòi bút miêu tả độc đáo của tác giả. Chính điều đó đã góp phần làm nên thành công và tạo chỗ đứng trong lòng độc giả.

Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” số 5

Hữu Thỉnh là một nhà thơ viết nhiều và hay viết nhiều về con người và cuộc sống thiên nhiên. “Sang thu” là một tác phẩm tiêu biểu viết về mùa thu của ông. Bài thơ không chỉ có hình ảnh thiên nhiên sang thu mà còn có bóng dáng con người trước mùa thu cuộc đời.

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”.

Sự biến đổi đất trời lúc sang thu hoặc tín hiệu sang thu (làn gió se) mang theo “hương ổi” nhà thơ ngỡ ngàng bâng khuâng xao xuyến trước vẻ đẹp của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa (“bỗng”, “hình như”).

Những biến chuyển trong không gian lúc sang thu được nhà thơ cảm nhận bằng nhiều giác quan và sự rung động tinh tế. “Hương ổi” lan vào không gian phả vào gió se, động từ “phả” là nét đặc sắc của hương ổi, mùi hương ổi lan tỏa vào trong gió với một không gian rộng. “Sương đầu thu” giăng mắc nhẹ nhàng chuyển động chầm chậm nơi ngõ xóm, tác giả đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa rất đặc sắc qua động từ “chùng chình”. “Dòng sông” trôi thanh thản gợi vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên; những cánh chim bắt đầu vội vã, tác giả đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa kết hợp với nghệ thuật đối và các từ láy đã mở ra một không gian cao rộng, khoáng đãng.

Cảm giác giao mùa được diễn tả thú vị qua đám mây mùa hạ “vắt nửa mình sang thu” đây là hình ảnh sáng tạo, độc đáo và tạo nét riêng cho tác phẩm. Có lẽ mùa thu đang đến ngõ xóm báo hiệu mùa thu đang đến rất gần. Nắng cuối hạ vẫn còn nồng, còn sáng nhưng nhạt dần. Những cơn mưa cũng vơi bớt, tiếng sấm cũng không còn bất ngờ. Tác giả sử dụng từ ngữ vô cùng tinh tế qua từ “vẫn còn bao nhiêu”, “vơi dần”, “cũng bớt”. Hình ảnh sương thu chùng chình nơi ngõ xóm gợi liên tưởng con người bâng khuâng xao xuyến bịn rịn trước mùa thu của cuộc đời.

Lúc sang thu bớt đi tiếng sấm bất ngờ. Cũng có thể hiểu hình ảnh hàng cây đứng tuổi không bị bất ngờ, giật mình bởi tiếng sấm nữa. Với hình ảnh có giá trị tả thực về hình tượng thiên nhiên này nhà thơ muốn gửi gắm suy ngẫm của mình: Khi con người đã từng trải thì cũng vững vàng hơn trước những vang động của cuộc đời.

Với cách sử dụng từ ngữ độc đáo, cảm nhận tinh tế sâu sắc, hình ảnh thơ đẹp, ngôn ngữ tinh tế giọng thơ êm đềm. Sang thu thể hiện cảm nhận tinh tế của những chuyển biến nhẹ nhàng của khoảnh khắc giao mùa từ hạ sang thu của miền Bắc. Qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên gắn bó với quê hương của tác giả và triết lí về con người và cuộc đời.

Sang thu là một bài thơ đặc sắc viết về thời điểm chuyển mùa từ cuối hạ sang đầu thu. Bài thơ vừa thể hiện tài năng sự cảm nhận tinh tế của tình yêu đồng thời thể hiện tình cảm của nhà thơ với thiên nhiên mùa thu. Đọc bài thơ chúng ta càng yêu hơn mùa thu thiết tha nồng hậu của quê nhà.

Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” số 6

Mùa thu một trong bốn mùa trong năm, đã đi vào rất nhiều tác phẩm thi ca nổi tiếng. Được các thi nhân ưu ái đặt cho biệt danh nàng thu. Trong đó có nhà thơ Hữu Thỉnh. Bằng cái nhìn mộc mạc chân thực của mình Hữu Thỉnh đã tạo nên một Sang thu đầy bất ngờ và quyến rũ. Trong đó có khổ thơ đầu tiên:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”

Mùa thu được biết đến là một trong những mùa đẹp nhất trong năm. Nó không có cái nắng oi ả của mùa hẹ, cái ẩm ướt của mùa đông hay đỏng đảnh của mùa xuân, mùa thu bình dị và thân quen đến lạ. Có rất nhiều thi nhân đã tìm đến mùa thu như một điểm gặp mặt tuy nhiên hay nhất và gần gũi nhất thì không thể không nhắc đến Sang thu của nhà thơ Hữu Thỉnh.

Từ “Bỗng” mở ra ở đầu bài thơ như một cái giật mình đầy bất ngờ. Sở dĩ tác giả đặt từ bỗng ngay đầu bài là có dụng ý nghệ thuật khác. Trong cái chuyển mình của trời đất mọi giác quan đều phải nghiêng mình đánh động. Đó là mùi hương ổi nhẹ nhàng và tinh tế. Mùa thu đến không phải đến từ không gian mà bắt đầu từ khứu giác. Không biết hương ổi đã ủ chín từ bao giờ lặng lẽ tỏa hương tự bao giờ nhưng vào khoảnh khắc này nó đã vươn mình đánh thức sự chuyển mình của không gian và giác quan của thi nhân. Hương thơm ấy mạnh đến nỗi nó trở nên ngào ngạt phả vào gió se. Thứ hương thơm đó quyến rũ, nồng nàn đến nhường nào mới đủ sức lan tỏa trong một khoảng không gian rộng lớn đến vậy.

Gió se ở đây là gió se lạng heo may mỗi dịp đầu thu đến nó khiến gai gai nơi cánh tay. Nếu như nhà thơ Xuân Diệu đã từng có những câu từ mạnh mẽ để miêu tả luồng gió se “Những luồng run rẩy rung rinh lá”. Thì gió thu trong thơ Hữu Thỉnh lại rất đỗi êm ái dịu dàng. Để miêu tả về những làn sương thu nhà thơ cũng dùng những câu chữ vô cùng tinh tế:

“Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”

Từ láy “chùng chình” mang nét gợi hình đầy cảm xúc. Chùng chình ở đây nghĩa là chậm chạp, nhà thơ đã khéo léo nhân hóa hình ảnh sương như những đứa trẻ tinh nghịch náu mình trong ngõ, chùng chình chẳng muốn lộ diện.

Bằng ấy thứ cảm nhận đã mang nhà thơ đến với một nhận định mơ hồ “hình như thu đã về”. Từ hình như là một câu khẳng định mơ hồ không dám chắc. Nhà thơ cũng cảm thấy giật mình trước sự thay đổi ngỡ ngàng của thời gian và không gian. Giữa cái khoảnh khắc giao hòa chuyển mình vĩ đại ấy thi nhân vẫn còn đang lâng lâng huyền ảo.

Có thể nói khổ thơ đầu tiên của bài Sang thu là một cảm nhận vô cùng tinh tế của nhà thơ về sự chuyển biến của đất trời. Khổ thơ đã tạo nên một điểm nhấn một nét chấm phá độc đáo trong những vần thơ diễn tả về thu tinh tế và đẹp nhất.

Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” số 7

Khổ thơ đầu tiên của bài thơ “Sang thu” đặc biệt dịu dàng tinh tế, nó diễn tả những biến đổi tinh vi của đất trời và lòng người trong thời khác giao mùa được chờ đợi rất nhiều trong năm.

“Sang thu” là một áng thơ xinh xắn dâng tặng Nàng Thu của một thi nhân – một thi nhân yêu quý mùa thu như bao thi nhân khác – Hữu Thỉnh. Bài thơ có khổ thơ mở đầu thật hay:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”.

Những câu thơ mở đầu bài thơ giản dị đến bất ngờ:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se”.

“Bỗng” là bỗng nhiên, là bất ngờ, bất chợt. Đặt chữ “bỗng” ở đầu khổ thơ, đầu bài thơ để tất cả giác quan của ta được đánh động, phải giật mình mà chú ý đón nhận mọi biến đổi của đất trời. Biến đổi đầu tiên thu hút sự chú ý của nhà thơ là mùi hương nồng nàn của trái ổi chín thơm lừng. Ổi đã bắt đầu ủ mình để chín tự bao giờ và cũng lặng lẽ toả hương tự bao giờ nhưng vào khoảnh khắc này hương ổi mới đủ nồng nàn đánh thức giác quan của thi nhân. Hương thơm ấy rất mạnh, rất nồng nàn, ngào ngạt có vậy mới “phả vào trong gió se”. Ổi phải chín đến nhường nào, thơm ngon đến nhường nào hương thơm của nó mới đủ mạnh để tạo ra một sự lan toả như vậy trong không gian.

Thứ hương thơm ấy lại lan toả trong làn gió se nhè nhẹ ren rét. “Gió se” là gió heo may, chúng đến với nhân gian vào mỗi dịp đầu thu làm tẽ tê, gai gai những cánh tay trần mềm mại. Trước Cách mạng, Xuân Diệu đã từng mang gió se đến cho người đọc với những thoáng rùng mình ớn lạnh: “Những luồng run rẩy rung rinh lá”. Nhưng câu thơ của Hữu Thình lại dắt mùa thu đến bên ta êm ái, dịu dàng biết bao. Viết về những làn sương mùa thu, nhà thợ cũng có cách viết thật duyên dáng: “Sương chùng chình qua ngõ”. “Chùng chình” là cố ý làm chậm lại. Thủ pháp nhân hoá đã biến sương thành những cô bé, cậu bé nghịch ngợm đung đưa náu mình trong ngõ xóm, chùng chình chẳng muốn tan đi.

Làng quê yêu mến dìu bước chân thi nhân đi từ hương ổi đến gió se… Rồi khi lạc giữa làn mây sớm chùng chình thì nhà thơ không nén nổi niềm xúc động, ông khe khẽ thì thầm: “Hình như thu đã về”. Từ “hình như” diễn tả tâm trạng ngỡ ngàng băn khoăn rất tinh tế của nhà thơ khi ngỡ ngàng nhận ra “thu đã về”.

Khổ thơ đầu tiên của bài thơ “Sang thu” đặc biệt dịu dàng tinh tế, nó diễn tả những biến đổi tinh vi của đất trời và lòng người trong thời khắc giao mùa được chờ đợi rất nhiều trong năm: từ hạ chuyển sang thu. Khổ thơ đã góp phần quan trọng tạo nên bài thơ “Sang thu”, một áng thơ thu duyên dáng và tài tình trong thi đề mùa thu quen thuộc của văn học Việt Nam.

Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” số 8

Là người con của quê hương Vĩnh Phúc, Hữu Thỉnh đã ghi tạc vào lòng người những vần thơ thiết tha, rung động tâm hồn bao người với đề tài mùa thu quen thuộc. Tuy nhiên, giữa ông và các nhà thơ khác vẫn có những nét riêng biệt. Đó là cách cảm nhận đầy tinh tế về sự chuyển mình của đất trời khi bước sang thu qua bài thơ “Sang thu” được sáng tác năm 1977. Dòng cảm xúc đầu tiên được tái hiện sắc nét qua khổ thơ thứ nhất:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về.”

Đây có thể được coi là khổ thơ hay và để lại dấu ấn sâu đậm cho mỗi ai khi đọc “Sang thu”. Đất trời chuyển mình, mỗi năm có bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông. Mùa nào cũng đã từng một lần được đặt chân đến mảnh đất của thơ ca Việt Nam. Ấy vậy mà thi nhân vẫn luôn dành sự ưu ái cho mùa thu dịu nhẹ. Nhà thơ Nguyễn Khuyến đã từng khẳng định tên tuổi của mình với ba bài thơ: “Thu vịnh”, “Thu điếu” và “Thu ẩm”. Hay ông hoàng thơ tình – Xuân Diệu cũng đã từng gửi gắm tình cảm của mình qua “Đây mùa thu tới” và còn cả Lưu Trọng Lư với “Tiếng thu”. Mỗi sáng tác lại là một cảm nhận, một cách nhìn riêng biệt. Với Hữu Thỉnh mùa thu của ông được hé mở cùng những nét vẽ đậm sắc màu của vùng đồng bằng Bắc Bộ:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se”

Hương ổi có lẽ đã quá thân quen với những người con của làng quê Việt Nam. Thân quen là thế nhưng rồi vô tình người ta lại vô tình lãng quên nó để rồi trong khoảnh khắc giao mùa mới bất giác nhận ra. “Bỗng” rồi “phả”, hai động từ được đặt trực tiếp ở đầu câu như một sự kết hợp hoàn hảo, cùng nhau viết lên tâm trạng của nhà thơ. Phải chăng đó là sự ngỡ ngàng, bối rối khi bất chợt nhận ra tín hiệu của mùa thu? Động từ “phả” dường như đang tập trung làm bật lên hương thơm nồng nàn từ vườn ổi chín lan tỏa rộng khắp, hòa cùng gió se – gió hơi lạnh và khô, chạm tới khứu giác của nhà thơ. Ông như đang mở rộng lòng mình để kịp đón nhận và tận hưởng hết sự bắt đầu nhẹ nhàng của một mùa thu nơi đồng bằng Bắc Bộ. Không chỉ có hương ổi hay gió thu mà trong dòng cảm nhận về những tín hiệu đầu tiên còn là sương thu:

“Sương chùng chình qua ngõ”

Câu thơ như khoác trên mình một diện mạo mới qua nghệ thuật nhân hóa “chùng chình”. Đọc đến đây ta mới cảm nhận hết được cái đẹp của tiết trời chớm thu. Sương vẫn chuyển động chậm rãi, từ từ như cô gái còn rụt rè, e ngại điều gì đó. Đường làng được bao quanh bởi một màn sương mờ ảo, cảnh vật yên tĩnh không thấy ở đâu bất kì một “vết nứt” nào. Từ đó gợi mở về một làng quê trong cuộc sống bình yên, tĩnh lặng, cảnh vật thì lung linh, huyền ảo và cũng thật dân dã.

Có hương ổi, có gió se, có sương thế nhưng tất cả đang trong sự vận động vô cùng chậm rãi. Mọi thứ cứ mơ hồ như vậy khiến lòng người cũng dấy lên một chút gì đó mơ hồ, lưỡng lự:

“Hình như thu đã về”

Dường như câu thơ lại là một câu hỏi tác giả tự đặt ra để chất vấn lòng mình: thu đã về hay chưa? Thu về từ bao giờ, từ đâu? Ông đang rơi vào lòng hoài nghi. Đó chính là một chút bối rối đậm chất thi sĩ khi cảm nhận thời khắc đất trời chuyển mình sang thu.

Khác với Hữu Thỉnh, Xuân Diệu lại có cái nhìn rất mạnh mẽ trước sự khởi đầu của mùa thu: “Đây mùa thu tới, mùa thu tới”. Tuy không mạnh mẽ như Xuân Diệu nhưng cái do dự, ngập ngừng của Hữu Thỉnh lại rất hay bởi cảm nhận của ông là cảm nhận thâm trầm và kín đáo vô cùng. Từ cảm nhận tinh tế ấy, phải chăng hương ổi, gió se, sương thu đã trở thành cái riêng biệt của mùa thu? Tuy đã cảm được nhưng vẫn không hề chắc chắn và có lẽ thu đang đến rồi nhưng chưa hoàn toàn rõ nét.

Khổ thơ với kết cấu ngắn gọn chỉ với hai mươi chữ nhưng đã để lại sâu đậm trong lòng bạn đọc biết bao rung cảm về một hồn quê nơi đồng bằng Bắc Bộ đã làm ấm lòng người. Qua đây còn là một phát hiện về những tín hiệu tiêu biểu và đặc trưng khi mới chớm mùa thu cùng tâm trạng ngỡ ngàng bối rối rất thi sĩ của nhà thơ.

Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” số 9

Trong dòng thơ ca cách mạng Việt Nam, Hữu Thỉnh là một tiếng thơ khá độc đáo. Ông sinh ra ở vùng quê Vĩnh Phúc, gia nhập quân đội năm 1963 rồi trở thành một cán bộ văn hóa, tuyên huấn trong quân đội. Sáng tác của ông phần nhiều viết về cuộc sống nông thôn, về mùa thu quê hương. Trong đó, bài thơ Sang thu được ông viết vào năm 1977, in trong tập thơ “Từ chiến hào đến thành phố”. Bài thơ đã diễn tả thật tinh tế sự biến đổi của đất trời từ cuối hạ sang đầu thu, từ đó, bộc lộ trái tim yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước sâu đậm của tác giả. Khổ đầu bài thơ mở ra một không gian bình dị mà huyền ảo của buổi giao mùa:

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về…”

Khổ thơ đầu tiên này nằm trong chỉnh thể bài thơ làm theo thể thơ 5 chữ, gồm ba khổ thơ ngắn gọn, như ba bức tranh chọn lọc về khoảnh khắc sang thu. Trong đó, bức tranh đầu tiên là những xao xuyến rung động tinh khôi nhất của lòng người trước những vẻ đẹp thiên nhiên giao mùa.

“Bỗng nhận ra hương ổi”- Câu thơ như một lời thốt lên đầy cảm xúc và bất ngờ của người nghệ sĩ trước một phát hiện mà ông cảm thấy vô cùng thú vị.Phát hiện đó được cảm nhận bằng khứu giác. Đó là một mùi hương thoảng trong không gian, “hương ổi”! Tuổi thơ của tác giả hẳn gắn liền với mùi hương ngọt ngào này. Khi thu đến cũng là mùa ổi chín, trên khắp những khu vườn ổi của quê hương Vĩnh Phúc, quả bắt đầu chín ngọt ngào, hương bay lan tỏa khiến lòng người rộn ràng hơn. Viết về mùa thu thì có nhiều tác phẩm thơ khác nhau, với những cảm nhận khác nhau, và với Hữu Thỉnh, ông đem vào thơ mình những điều rất thật, rất đẹp của quê hương. Trong nốt nhạc mở đầu của bài ca Sang thu này, từ “bỗng” cũng đóng một vai trò quan trọng. Từ này mở đầu câu thơ, cũng là từ thể hiện sự đột ngột, như reo vui, như chào đón hương ổi thân thương đang trở lại cùng nàng thu… Chỉ với câu thơ ngắn gọn, thi nhân đã đem đến một không gian bâng khuâng thơm ngát và những cảm xúc xao xuyến nao nức đầu tiên.

Bút pháp thơ tài hoa của Hữu Thình trong khổ thơ đầu còn được bộc lộ trong cách dùng từ của ông: “Phả vào trong gió se”. Động từ phảxuất hiện để tả mùi hương ổi chín đang chiếm lấy không gian.Phảcó nghĩa là nồng nàn, là đậm đà khi mùi hương đặc trưng của mùa thu ùa đến. Qua động từ này, người đọc cảm nhận được một cách rõ nét hương ổi.Đặc biệt khi nó quấn quýt với ngọn “gió se”. Đến đây thì phong cảnh thiên nhiên lại được chuyển qua cảm nhận bằng một giác quan khác, là xúc giác: khí trời mát mẻ, ngọn gió heo may đem cái se sắt từ đâu về đây. Thời tiết dịu đi sẽ khiến tâm hồn con người lắng đọng mà thưởng thức hương thu. Và ta như thầm hỏi rằng: hương ổi đem ngọn gió se lạnh về, hay là gió thu giục ổi mau chin thơm trên cành. Hữu Thỉnh đã vừa đặc tả được hương thơm, vừa gợi ra biến chuyển thời tiết, đó là tính đa nghĩa và biểu cảm trong thơ ông, một nhà thơ rất thành công khi viết về những nét đẹp làng quê. Nói đến thu sang, thì dấu hiệu của đất trời còn ở những làn sương nhẹ nhàng:

Sương chùng chình qua ngõ.

Mỗi buổi sáng sớm, hay khi chiều buông, phong cảnh xóm làng đột nhiên trở nên mờ ảo, bời đó là lúc sương mù bao phủ, giăng mắc trên những khu vườn, những hàng rào, cánh đồng hay dòng sông, tạo nên vẻ đẹp huyền diệu tuyệt vời, lay động lòng người với bao suy tư, xúc cảm. Từ láy “chùng chình” ít khi thấy xuất hiện trong thơ để tả cảnh vật. Thì ở đây nhà thơ đã đặt nó vào ngữ cảnh câu thơ tả thu sang, để nhân hóa màn sương kia. Sương như ngập ngừng, chậm rãi, nửa muốn đến, nửa không, giống như những bước chân đầu tiên của nàng thu ngập ngừng, e thẹn. Thử liên hệ trong thơ ca Việt Nam, khoảnh khắc giao mùa từ hạ sang thu cũng từng được nhiều nhà thơ miêu tả. Trong đó, nhà thơ Xuân Diệu cũng từng viết:

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ

Non xa khởi sự nhạt sương mờ…

(Đây mùa thu tới)

Hai nhà thơ gặp nhau trong cảm xúc thu, với áng sương mờ bắt đầu giăng phủ lên cảnh vật, khiến tâm hồn thi sĩ tràn đầy những ưu tư man mác. Bởi mùa thu vốn là mùa của thơ ca, mùa của nhớ nhung và hoài cảm. Và bức tranh thu đẹp từng khoảnh khắc trong những nét bút của người nghệ sĩ yêu thiên nhiên. Thế đấy, với hương ổi, với gió se, với sương mờ… nhà thơ đã khắc họa những biến chuyển tinh tế nhất của bức tranh thiên nhiên trong thời khắc chuyển mùa. Và trong niềm xao xuyến, ông lại hạ xuống một câu hỏi tu từ như đoán định:

Hình như thu đã về…

Đã gọi là câu hỏi tu từ thi chẳng cần câu trả lời, bởi bản thân câu hỏi đã là lời khẳng định, là tiếng trả lời.Sự tinh tế của Hữu Thỉnh thể hiện trong cách dùng từ “Hình như”, bởi vì thu chưa hẳn đã đến đâu. Đây chỉ là những dấu hiệu đầu tiên. Mùa hạ vẫn đang hiện diện, nhưng dấu chân mùa thu thì dần rõ nét. Nhấn mạnh cái ý chuyển mùa này, nhà thơ giúp cho người đọc hiểu sâu thêm ý thơ vốn rất đẹp của ông.

Bài thơ Sang thu nói chung và khổ thơ đầu nói riêng đã dùng thể thơ năm chữ với một lối viết rất hàm súc và chọn lọc kỹ đến từng từ ngữ. Hình ảnh thơ vô cùng bình dị nhưng lại mang một vẻ đẹp rung động lòng người. Bức tranh phong cảnh đã được nhà thơ vẽ lên bằng một nghệ thuật ngôn từ điêu luyện, để từ đó, chúng ta thêm yêu mến cảnh sắc quê hương khi mùa thu sắp về.

Khổ thơ đầu của bài thơ Sang thu vốn là một khúc nhạc dạo đầu cho cả một bản tình ca mùa thu. Khúc dạo đầu ấy thật ngắn gọn nhưng thật độc đáo: Hữu Thỉnh đã đi từ sự chuyển biến của đất trời báo hiệu thu sang, mà bộc lộ sự ngỡ ngàng, cảm xúc bâng khuâng trong khoảnh khắc giao mùa. Sự tinh tế trong cảm nhận và sự nồng nàn trong tình yêu thiên nhiên không chỉ bộc lộ trong khổ thơ đầu, mà nó cũng là màu sắc chủ đạo của cả bài Sang thu tuyệt hay này.

Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” số 10

Sang thu là bài thơ cảm nhận đầy tinh tế sự chuyển mình của thiên nhiên từ mùa hạ sang mùa thu. Sự nhộn nhịp, sôi động nhường chỗ cho nàng thu nhẹ nhàng, êm ái.

Bài thơ Sang thu chỉ gồm 3 khổ thơ ngắn nhưng Hữu Thỉnh giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tự nhiên trong thời khắc chuyển mùa.

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về”.

Động từ “bỗng” được sử dụng ngay từ đầu câu cho thấy sự đột ngột, bất ngờ làm cho người ta phải giật mình chú ý mùa thu đang đến rất gần. Lan tỏa trong không khí là mùi ổi chín, ổi chín từ khi nào mà phả mạnh vào trong gió se. “Phả” là động từ mạnh thể hiện hương thơm ngào ngạt , tác giả giúp cho người đọc cảm nhận được nhiều giác quan hơn về sắc thái của ổi như hương thơm, màu vàng, kết hợp với cái se lạnh nhè nhẹ của mùa thu, tất cả khiến lòng người bồi hồi, xao xuyến.

Bắt đầu vào mùa thu nên sương xuất hiện nhiều hơn, nhưng sương của tác giả không phải bình thường khi “chùng chình qua ngõ”, từ chùng chình đã được tác giả nhân hóa thể hiện dáng vẻ của con người đó là sự chậm rãi, khoan thai chứ không hề vội vã.

Từ cảm giác giật mình khi “bỗng” nhận ra thu đang về đến cảm giác “hình như”, tác giả thể hiện sự phán đoán mơ hồ về mùa thu đang về. Nếu như trong khổ đầu tiên chỉ là cảm giác mơ hồ về mùa thu thì trong khổ thơ thứ 2 Hữu Thỉnh đã có sự cảm nhận rõ ràng hơn về sự chuyển biến của đất trời từ hạ sang thu.

Chỉ với một khổ thơ ngắn gọn đã làm cho người đọc có biết bao rung cảm về cảnh vật thiên nhiên trong thời khắc chuyển mùa, đó là những hình ảnh gần gũi, thân quen của vùng quê.

Mùa thu lặng lẽ trôi thật nhẹ nhàng và gần gũi. Hình ảnh bức tranh thiên nhiên tươi đẹp được tác giả cảm nhận bằng nhiều giác quan càng khiến cho mùa thu của Hữu Thỉnh thật độc đáo và nhiều sắc màu.

Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” số 11

Xuân, hạ, thu, đông – bốn mùa trôi qua đã trở thành đề tài quen thuộc cho biết bao tác phẩm văn thơ và cũng là nguồn thi cảm vô tận của nhiều thi nhân. Đặc biệt là mùa thu với những nét buồn man mác, với nắng vàng và hương thơm dịu dàng cùng gió, cùng hoa… Chúng ta đã gặp thu trong Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, trong Thu của Chế Lan Viên hay Chiều thu của Thái Can,… Nhưng Hữu Thỉnh lại đem đến cho bạn đọc một nét riêng biệt của mùa thu, đó là thời khắc giao hoà của cuối hạ với đầu thu. Bài thơ Sang thu của ông đã gợi lên một cảm xúc bồi hồi, bâng khuâng của những rung động ngọt ngào và tinh tế.

Đọc thơ mà ta thấy quen đến kì lạ. Những hình ảnh không hề cao sang mà vẫn gần gũi. Những cảm xúc hình như ta đã có, đã bắt gặp ở đầu rồi. Y như khi ta đột ngột nhận ra cái gì mà rất lâu mình không nhớ, không để ý tới. Có phải đó là khi thiên nhiên chuyển mình, là khi thời gian nhẹ nhàng bước những bước khẽ khàng, kín đáo :

Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về.

Tác giả dùng từ “bỗng” thật khéo, câu thơ không kéo dài mà trở nên đầy thú vị, bất ngờ. Nó như cái giật mình nhẹ, lôi ta ra khỏi những công việc thường ngày. Đọc câu thơ khiến ta nhớ đến một đoạn văn mà nhà văn nào đó đã viết : “Ngày và đêm theo nhau qua đi trên trái đất này” giữa bao mối lo và công việc, giữa bao nỗi buồn và niềm vui “Chúng ta quên đi rất nhiều điều mà lẽ ra không được quên”. Thế thì chính cái giật mình ấy đã kéo ta ra khỏi sự quên lãng bấy lâu nay, để lại hoà mình với thiên nhiên, thấy được từng vẻ đẹp li ti nhất của nó. Mà “chợt” cũng như một phát hiện thật mới mẻ, một tiếng kêu vang thích thú, một khoảnh khắc nhanh chóng qua đi mà để lại biết bao cảm xúc. Kìa ! Mùa hạ đã sắp qua, hình như mùa thu đã đến ! – Trái tim nhà thơ sau khoảnh khắc ấy đã tự nhủ thầm như vậy.

Tác giả đã cảm thấy gì đầu tiên ? Giống như tiếng tu hú đã đánh thức nỗi khao khát tự do trong bài thơ của Tố Hữu, thì chính hương thơm của ổi chín đã tác động mạnh mẽ tới tâm hồn nhà thơ Hữu Thỉnh :

Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se.

Đọc câu thơ mà ta biết mùa hè chưa qua hẳn. Bởi hình ảnh những chùm ổi chín vàng ruộm, trĩu cành dưới cái nắng gay gắt đã trở thành hình ảnh của mùa hạ. Nhưng qua câu thơ, ta biết mùa thu đã về. Mùa thu đặt những bước chân nhẹ nhàng, buông mình về theo những cơn gió se – thứ gió khô và lạnh đặc trưng của khí thu. Và hương ổi cũng hết sức đặc biệt, nó không “thoảng”, không “bay”, không nhẹ dịu như ổi khi vừa chín mà đậm đặc, mà ngào ngạt thơm nồng. Đó là hương thơm của ổi cuối mùa. Hương thơm ngọt ngào ấy mạnh đến mức có thể “phả” vào từng cơn gió, đánh thức khứu giác của cả những người vốn vô cảm với thiên nhiên. Khi Hữu Thỉnh cảm được cái lạ lùng ấy của hương ổi bằng khứu giác và cảm nhận được bằng da thịt (xúc giác) cơn gió thu đủ làm ông vừa bối rối lại vừa vui mừng. Có lẽ, ông còn nghi ngờ, sợ rằng mình nói ra thì cái cảm giác ấy sẽ bay mất, sẽ tan biến mất.

Câu thơ thứ ba như khẳng định mùa thu về rõ ràng hơn: Sương chùng chình qua ngõ. Lần này thu được nhìn bằng mắt qua cái vẻ dùng dằng nửa đi nửa ở của sương thu. Từ “chùng chình” thật đặc biệt. Nó là từ láy của thanh bằng, tạo nên một cảm giác êm ả, dịu dàng. Nhà thơ đã nhân hoá màn sương để nó trở nên có hồn, sống động bởi từ láy chỉ hành động lưỡng lự, lưu luyến trong động thái của con người. Sương như muốn ở lại để ngắm nhìn khoảnh khắc giao mùa. Điểm thú vị là với từ “chùng chình” sương thu trở nên gợi tả vô cùng.

Đọc thơ ta lại nhớ đến đoạn văn Pau-tốp-xki viết trong Một mình với mùa thu về “mơ-ga”. Đó là một làn khói lam nhàn nhạt bao phủ trên mặt sông Ô-ka. Nó “khi thì sẫm màu tụ lại, khi thì bàng bạc tan ra” ; “Khi ấy qua màn sương nhẹ nhàng mỏng như tấm kính mờ mờ, ẩn hiện bóng dáng hàng liễu rủ bên sông, những bãi chăn thả cằn khô và những cánh đồng mơn mởn màu xanh”. Chúng ta như cảm được sương ở giữa hai mùa tụ lại thành từng đám mây trong suốt màu bạc “chùng chình” chắn cả con ngõ nhỏ chứ không tan loãng vào không gian.

Mỗi bước đến của mùa thu thật bất ngờ. Thu đến vội vã mà thật nhẹ nhàng, không ồn ào. Chỉ cần quan sát và cảm nhận thiên nhiên bằng tất cả sự tinh tế của các giác quan là ai trong chúng ta cũng có thể thấy được. Đối với nhà thơ Hữu Thỉnh, đó cũng là những phát hiện liên tiếp, nối nhau mà mỗi phát hiện lại đem đến một cảm xúc riêng tư, tinh mới. Sự vội vã ấy được thể hiện qua cách ngắt nhịp tài tình:

Bỗng / nhận ra hương ổi

Phả / vào trong gió se.

Sương / chùng chình qua ngõ

Cái nhịp điệu vội vàng ấy cứ như nhịp điệu của mùa hạ, khi mọi thứ đắm chìm trong cái nắng rực rỡ, khi cây trái vội vàng ra hoa, ra quả. Và đó cũng là nhịp điệu của những cái giật mình liên tiếp. Cái cảm giác bất ngờ còn chưa đi hẳn. Nhưng đến câu cuối cùng, nhịp ngắt 2/3 lại trở nên dàn trải, nhẹ nhàng như khoảnh khắc mùa thu, như một niềm vui mơ hồ mà mãnh liệt, hoặc như một nụ cười kín đáo: Hình như thu đã về.

Không khẳng định, mà chỉ “hình như”. Bởi thu đến nhẹ quá, mơ hồ quá. Tác giả thấy thu, nhưng vẫn còn bâng khuâng lo ngại. Trong lòng tác giả như có một băn khoăn, da diết như một câu hỏi : “Thu đã về rồi đấy” hay là “Không, thu chưa về đâu !”. Trong tâm tư tác giả vẫn còn cái nắng chói của mùa hè nhưng lại có cảm giác phảng phất, như một cánh bướm nhẹ chạm vào tà áo mỏng manh của tiết thu ? Chính niềm vui bối rối, bâng khuâng, lúc khẳng đình, lúc nghi ngờ đã làm nên cái duyên dáng của Sang thu.

Dù chỉ là một khổ thơ đầu, nhưng cái rung cảm tinh tế trong tâm hồn Hữu Thỉnh với thiên nhiên khiến độc giả càng thêm yêu mùa thu, càng thêm yêu bài thơ. Nó làm ta chợt nhớ tới câu thơ của Trần Đăng Khoa:

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.

Nhờ tâm hồn nhạy cảm và tình yêu thiên nhiên tha thiết nhà thơ đã cho ta thấy được những bước đi nhẹ nhàng, duyên dáng của thời gian. Sự chuyển tiếp lúc rất mềm mại, uyển chuyển lúc lại như tinh nghịch, vui đùa. Và một bài thơ đầy cảm xúc, đầy rung cảm ra đời từ chính cảm nhận ấy…

Bài văn phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” số 12

Thiên nhiên đi vào thi ca đã từ lâu và trong bốn mùa, có lẽ thu được chú ý hơn cả. Phải chăng bởi nó gợi ra nỗi buồn nhẹ nhàng, kín đáo với nhiều dư âm khó gọi thành tên ? Hình như cảnh trong thơ càng trầm buồn lại càng thi vị, tha thiết. Nói đến thu ta vẫn nhắc đến Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu, Nguyễn Bính – những ngòi bút xuất sắc của thi ca Việt Nam. Ớ đó, thu hiện lên bằng những vẻ đẹp muôn hình, muôn sắc, muôn thanh âm của thiên nhiên. Nhưng với người yêu thơ và yêu mùa thu hẳn sẽ ngạc nhiên, bất ngờ lắm khi thu tới với họ qua Sang thu của Hữu Thỉnh. Mà khổ thơ thứ nhất chính là khúc nhạc dạo đầu cho bản hoà ca tràn đầy cảm xúc này.

Chỉ với bốn câu thơ ngắn thôi nhưng như thế cũng là quá đủ để phác lên một bức tranh vô hình của thời gian : khúc giao mùa hạ – thu. Bức tranh ấy được vẽ lên bởi giác quan đa dạng của người hoạ sĩ, vẽ thu bằng ngôn từ. Bắt đầu bằng khứu giác và xúc giác với mùi hương ổi “phả vào trong gió se”. Câu thơ có cái ấm nồng nàn của hoa trái mùa hạ, lại có cái lạnh se se của mùa thu. Sự giao hoà kì diệu ấy khơi gợi kí ức tuổi thơ và thức dậy kỉ niệm xa lắc…

Dòng xúc cảm tự nhiên đến, đầy bất ngờ, vì thế ngay ở đầu câu, tác giả đã đặt vào đó từ “bỗng”. Đột ngột, mùi hương “phả” mạnh mẽ, nên lại thấy vị thơm mát, ngọt ngào ? Hai câu thơ như thoáng chút bâng khuâng, xao xuyến. Mạch cảm xúc tiếp tục tràn xuống câu sau với sự đón nhận của thị giác :

Sương chùng chình qua ngõ

Giữa bầu trời quang đãng, trong xanh, tác giả chợt bắt gặp một màn sương mờ ảo. Mỏng manh thôi nhưng cũng là nét gì đó báo hiệu thu sắp về. Sương đi qua, “chùng chình” như cố ý chậm lại. Nó đang đón chờ ai hay đang luyến tiếc điều gì ? Có lẽ đó là sự luyến tiếc, bịn rịn, không muốn rời xa, khi hạ sắp sửa bước đi, nhường chỗ lại cho thu với những màn sương sớm, với những cơn gió heo may, diu mát. Cái cảm giác mơ hồ, hư hư thực thực ấy đã gợi nên một thời điểm nhạy cảm, rất khó xác định :

Hình như thu đã về.

Hạ vẫn còn đó nhưng trong không gian phải chăng mùa thu đang về ? Trước những tín hiệu của thiên nhiên, của đất trời, làm cho lòng người băn khoăn, rạo rực những tình cảm khó tả. Rõ ràng là thu đấy mà cũng chẳng phải đâu ! Mọi thứ cứ chuyển động không ngừng, có cái gì gấp gáp, mãnh liệt nhưng cũng có cái gì đó chậm rãi, nhẹ nhàng. Khung cảnh hiện lên vừa đậm nét, vừa mơ hồ. Vì thế, thu đến với tác giả trong một sự cảm nhận rụt rè, kín đáo. Một làn gió nhẹ thoảng qua đưa theo cùng thứ hương vị cỏ cây hay một màn sương êm ái, khẽ lướt đi cũng vương vấn lại sợi dây cảm xúc rung lên thứ nhạc điệu kì diệu mà chỉ có những tâm hồn nhạy cảm, những trái tim biết rung động trước thiên nhiên mới có.

Khổ thơ mang cái man mác buồn lắng nhưng ngọt ngào thi vị của mùa thu. Từ đây cũng cho thấy con người của thi ca đến với thiên nhiên bằng sự khám phá từng nét nhỏ nhất, tinh xảo nhất của vũ trụ bao la. cảm nhận mùa thu của Hữu Thỉnh không có lá rụng, không phải một màu vàng úa héo của không gian mà được tiếp nhận bằng những bước chuyển mình của trời đất. Rất mới lạ và độc đáo. Đó cũng là cái hay tạo nên sự riêng biệt cho Sang thu mà ngay ở bốn câu đầu ta đã thấy.

Thành công của khổ thơ này bên cạnh việc tả cảnh còn là bởi sự cảm nhận tinh tế về một thứ trừu tường như thời gian. Và hai mươi chữ cô đọng, súc tích đã tạo nên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp – đẹp từ chính những bước đi lặng lẽ, thầm thì của nó hay đẹp ở tâm hồn của thi nhân.

Hi vọng bài viết trên giúp bạn hiểu thêm vẻ đẹp của mùa thu cũng như tài năng của tác giả. Chúc các bạn học tốt và tiếp tục theo dõi các bài văn hay trên phongnguyet.info.

Loạn Trung Biệt Hữu (Chia Tay Bạn Trong Lúc Loạn)

Loạn Trung Biệt Hữu (Chia Tay Bạn Trong Lúc Loạn)

Loạn Trung Biệt Hữu (Chia Tay Bạn Trong Lúc Loạn, Vũ Hoàng Chương)

Đối diện tằng xưng thiên lãi văn
Kim chiêu biệt hỹ, bút ưng phần!
Đông tây mộng quải tam canh nguyệt
Nam bắc tình khiên vạn lý vân
Trọc tửu cô đăng sầu bất ngữ
Hoàng sam thanh nhãn ý hà vân?
Thu phong sạ khởi tiêu hồn cực
Hổ khiếu viên đề hoảng hốt văn

Từng khen tuyệt tác ấy văn trời
Tạm biệt từ đây bẻ bút thôi!
Giấc mộng đông tây vầng nguyệt lửng
Tơ tình nam bắc đám mây trôi
Tỉnh say một cuộc đành không bạn
Hào hiệp ngàn xưa dễ mấy người?
Chợt nổi gió thu lòng héo hắt
Đâu đây hổ thét vượn than dài
(Vũ Hoàng Chương)

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Loạn Trung Biệt Hữu (Chia Tay Bạn Trong Lúc Loạn)” của tác giả Vũ Hoàng Chương. Thuộc tập Hoa Đăng (1959), danh mục Thơ Vũ Hoàng Chương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Mơ Hoa

Mơ Hoa

Mơ Hoa (Hàn Mặc Tử)

Khói trầm lan nhẹ ngấm không gian
Giây phút buồn lây đến mộng vàng
Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá
Dám ôm hồn cúc ở trong sương

Hãy tưới lên hoa giọt lệ nồng,
Đếm từng cánh một mấy lần thương
Hãy chôn những mảnh xuân tàn tạ,
Và hãy chôn sâu tận đáy lòng.

Bóng người thục nữ ẩn trong mơ
Trong lá, trong hoa khói bụi mờ
Xin chớ làm thinh mà biểu lộ
Những tình ý lạ, những lời thơ.

Hãy quỳ nán lại: tiếng sao rơi
Khua ánh trăng xanh động khí trời
Gió thở hay là hoa thở nhỉ ?
Ô hay người ngọc biến ra hơi.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Mơ Hoa” của tác giả Nguyễn Trọng Trí. Thuộc tập Đau Thương (Thơ Điên, 1937) > Phần 1: Hương Thơm, danh mục Thơ Hàn Mặc Tử trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Thư của cha

Thư của cha

Tác giả: Nguyên Hương

Giấy báo con đậu đại học
Mẹ mừng quýnh vấp bờ nương
Cha mừng buông rơi cán cuốc
Vùng kinh tế mới tưng bừng

Vội bán non hai sào đậu
Cho con hành trang lên đường
“Thị thành xa hoa rực rỡ
Mình nghèo ráng học nghe con”

Con đi việc nhà dồn lại
Vai mẹ thêm gầy mẹ ơi!
Bầy em vẫn còn thơ dại
Mình cha cặm cụi trên đồi

Thư cha đến giữa giảng đường
Con đọc quên nghe thầy giảng
Lá thư còn đọng mùi hương
Cỏ rơm, đất bùn, mưa nắng…

“Việt đồng dạo này bận quá
Nhớ con không biết làm xao
Con hãy dữ dìng sứt khỏe
À nhà vừa bán con heo…”

Thư viết đầy lỗi chính tả
Con bật khóc giữa giảng đường
Vòng tay nuôi con khôn lớn
Lần đầu cầm bút rưng rưng…

Nhà thơ Phan Huyền Thư và những bài thơ đi cùng năm tháng (Tiếp)

Nhà thơ Phan Huyền Thư không theo nghiệp cầm ca của cha mẹ, nhưng Thư cũng chẳng thể sống một cuộc đời bình lặng như những người khác, dẫu đôi khi, đó là cả một mơ ước. Thư khởi nghiệp chữ nghĩa, chọn câu từ làm bè bạn, chọn ý tưởng làm tri kỷ. Học Tổng hợp Văn như một sự khẳng định với gia đình cũng như người quen rằng, Phan Huyền Thư là một cá tính sáng tạo.

Nội Dung

Tập thơ Rỗng Ngực là một trong những tập thơ nổi tiếng của nữ nhà thơ Phan Huyền Thư được xuất bản năm 2005

Mệt
những đầu ngón chân dâng nhanh
lũ quét
Bóng đè
Chìm xuồng
Phó thác
Mắt mỏi
Tay buông
Gối chùn
Đầu gục
Dòng thác
ngôn từ cạnh tranh lĩnh xướng
chợ đố kị
họp chính phiên
Hội đồng thầu tổng cốc
Tâng bốc
Vùi dập
Đơm đặt
Hả hê
Mệt
mênh mông những bất động
âm
Thả đỉa ba ba
đổ niêu cứt gà
đổ phải nhà nào
nhà nấy phải chịu
Mệt
đình màn sót lại
mẩu chân chuồn chuồn buộc sợi chỉ dài
Mệt
đùa dai.

Có khi
ý nghĩ nhảy múa
gối chăn còn phảng phất
mùi ái ân tẻ nhạt
Ý nghĩ
bẻ đôi chiếc bánh đêm
hai miếng không đều
sao rơi những hạt vừng
Đêm thơm
không ai muốn thức
Ý nghĩ
đàn ông bất lực
căm ghét hoan lạc
mộng du
Ý nghĩ cầm tù
ái ân bà già hiềm khích
hoang tưởng phong
danh tiết hạnh. “Bất khả thi”
Ý nghĩ viết trả phong bì
trò chơi ảo giác
Gửi: Ngày hôm qua.
Yêu
tiếp tục trò chơi ma
Ý nghĩ
con mèo già
cô độc. Mắt quá sáng.
Buồn
vạch khóc vào đêm.

25-5-03

Anh rơi trong em
Rơi không chiều rơi huyễn hoặc
nắng rơi chiều chợt nắng quái xưa
Anh rơi cùng em
Rơi cùng sương đêm mơ rơi tuyệt vọng
Tình yêu rơi trái rơi buồn.
Ngoài em
Ngoài anh
Ngoài… tuổi
Rơi dài.

Danh ngôn

Trong đen đêm con kiến
đen lang thang đen
phiến huyền cẩm thạch.
Khi thức dậy
Thượng Đế nhìn con kiến
phiến cẩm thạch thấy Người
con kiến thấy đêm.

Đêm trườn dần vào sông Hương
tiếng hò vỡ dưới gầm Tràng Tiền
Khúc Nam Ai những cung phi goá bụa
chèo thuyền vớt xác mình trên sông
Nhất dạ quân vương đất thần kinh
người đi đi, làm thơ cho Huế tím
Tự phá vỡ đối xứng
bằng nón nghiêng
quang gánh lệch
mắt nhìn ngang
Huế như nàng tiên câm
khóc thầm không nói.
Muốn thì thầm vuốt ve Huế thật khẽ
lại sợ chạm vào nơi nhạy cảm trên cơ thể Việt Nam.

1997

Sóng sánh cà phê bạc hà khói thuốc
Tuấn Ngọc
trong quần nhợt nhạt nỗi hoang dâm
bầy sẻ cũng hom hem
đêm sương con dế buồn tự vẫn
Đành như chiếc que diêm
Tuấn Ngọc
cháy một cõi riêng
Nằm sấp úp mình lên
Tuấn Ngọc
thấy thiếu nỗi trên lưng
Nằm ngửa khép đùi khít
Tuấn Ngọc
thấy vắng khoảng trong cùng
Thôi uống sương con dế chẳng còn buồn
bầy sẻ cũ đã qua đời lặng lẽ
buổi sáng Tuấn Ngọc vào rất khẽ
như là chẳng ra.

11-97

Nhắm mắt lại
nhìn mặt trời
quả bóng tenít xanh trên sân đất nén hồng
vũ trụ đồ chơi của bé

Nhắm mắt
lại nhìn mặt trời
cuộn len tím lăn trên thảm nâu nhạt
mẹ ngồi đan

Nhắm mắt lại
nhìn
mặt trời âm bản
trăng sao không ngủ ngày

Nhắm mắt nhìn đêm
mặt trời thức
trái đất nghiêng nên loài người bất lực

Tập đứng thẳng
nhìn mặt trời

Nhắm mắt lại nhìn mặt
nhìn
mở không thấy

nhắm mắt
đi mơ

mắt mở mù loà
du mộng.

Em thở dài
buốt mùa đông rỗng ngực
buồn xa xa thương cũng xa xa

Thoát xác vọt lên trần nhà
nhìn thi thể co ro
góc giường than khóc

Ngoài đường cái quan
xe rác chạy rầm rập
đống lửa bao nilon đựng rác
đôi tình nhân khét lẹt
chàng thương binh ngực đầy huân chương
vẫn hô một hai hành quân không chịu nghỉ
nàng thất tình
hoa mướp bồng áo bông
ru hời
Thoại Khanh – Châu Tuấn
đun nấu sụt sùi đứt ruột ống bơ.

Ngõ hẻm
trăng rông
mấy nàng xì ke chưa chồng vật thuốc
khóc rưng rức
tóc em sợi vàng sợi bạc
sợi nâu sợi tím sợi hồng sợi xanh
ánh trăng nằm nhễ nhại sầu đong

Mái hiên tây mấy chú nhóc
xa tuổi thơ
gối lên sách tướng số ôm nhau
ngủ say sưa tiếng mèo gào
hiện thực

Lãng mạn nào!
Một hai ba
cùng bay lên cao.

Rỗng ngực.

Hai nghìn năm trước sinh nhật tôi
nhiều nghìn năm trước sinh nhật loài người
Người
người
đi
tương
lai…

cần có niềm tin để đeo lời hứa
Tôi
vùi sâu lòng đất bên trên không cỏ
không con dế buồn không cả giọt sương
Người
người
đi
tương
lai…

Trang sức: ác và đói
nghèo và ngu
Tôi nằm đây đợi loài người trở lại
để
nói
về
sự
đi

24.12.99

Em u mê từ thuở
theo gió đi chăn mây.
Ngồi trên đỉnh ngày
nhắm mắt gọi không tên tuổi
thề thốt yêu không lời nói
phụ tình đêm bằng sương mai
Khoảng cách
chỉ là khoảng cách thôi
đong bằng chiếc đấu im lặng
Đừng tìm cách đổ
tình mất sóng tim ngông
điểm chỉ một cái nhìn đấy nhé
kẻo mai lại chối
phải lòng
Ngủ mê suốt mùa lũ
tỉnh dậy cũng sông
cột buồm đã gẫy
biển đa đoan cần lầm lỗi
để viện cớ trở về.
Em xanh xao từ thuở
không dạy bảo được tim.

14-2-03

Lũ kiến bất an bẩm sinh
loay hoay
vùng áp thấp
Mặt trời rồi cũng về nhà sum họp
bỏ lại góc vườn lá mục
những bồn chồn ăn mòn đêm.
Kinh kệ sám hối
tiết điệu âm u
Ràng buộc
bao giờ cũng vô hình.Đức hạnh
bao giờ chẳng đói khát.Ham muốn
có khi nào không bất lực
Vùng tuyệt mù
hiển nhiên chói chang.
Bài ca
cùn mòn
bật vỡ thành tiếng cười
lạ
Ánh mắt sáng bằng nụ hôn
ứng xử. Niềm kiêu hãnh
đã ngủ vùi
bởi lời ru lâm li.
Em chỉ dám giữ anh bằng ánh mắt van nài
bàn tay do dự.
Góc vườn ngái ngủ
Biết thế nào cũng sẽ rụng
lá úa
liều mình
nhắm mắt chọn điểm rơi.

17-03-03

Hạnh phúc vỡ ra những bụi sao
đầm đìa câm nín
câu chữ thơm mùi vụng trộm
ánh mắt căng dọi sợi đau
Ngượng ngập dìm chết em
Xác đức hạnh trôi trên dòng sông
đam mê
tam đoạn luận.
Nụ hôn gióng căng ngực miền trắc ẩn
Mây đi
Sương về
Hạ độc bình minh
Ngủ vùi trong anh
nhịp tim còn lảnh lót
đòi gỡ. Đòi buộc
Đòi tỉnh dậy.Đòi
do dự
miên man.

03-03-27

Bài toán khó không muốn tìm cách giải
ly cốc không lanh canh
giấc ngủ dài nguyên khuôn
sau một đêm nhào nặn.

Xanh da trời đi vắng
lũ chim non nhốn nháo đến giờ ăn
Chậm chạp bắt đầu
những thói quen
êm dịu nghẹt thở

Tia nắng chói chang bên cửa sổ
đảo lộn múi thời gian
ý nghĩ bắt đầu luyện thanh
và nỗi nhớ tập thể hình
một hai
nhịp nhàng trong ngực

Ngày chủ nhật
cửa tủ mở toang
lục đục tìm chỗ cất
những cảm xúc thừa
còn lâu mới được phép gỡ ra.

Chủ Nhật 16-03-03

Ngày ngày thất hứa
anh dũa nỗi buồn em mịn màng vô vọng
Thôi chẳng chờ
lấp lánh hạnh phúc
dưới cát nóng buổi trưa
Con chuồn chuồn lửng lơ
nhớ mưa trên rào thưa mỏi cánh
Chiều nay nhiều ráng
những nàng Tô Thị bê- tông
trong thành phố ngột ngạt chờ chồng
dệt mộng lông ngỗng lao đao cửa sổ
giăng mắc gì với gió
ướt đẫm nỗi hồng nhan.
Kìa trăng mải chơi
xanh xao về gõ cửa
Em trở mình
Từng nhát búa
gò lại
ý nghĩ tử tế về nhau.

6-6-02

Ở trong khô và nhẹ thịt da
cơ thể muốn bay lên vàng óng
gió
da diết vòm xanh
nuốt vào những thì thầm
ghìm nén yếu đuối
nhếch môi
Anh ở kia
ở ngay đây
khoảng cách ngàn tiếng gọi
vô thanh
Ra phố,
mua hoa cúc vàng
đặt bên cửa sổ
héo lại mùa thu
Ngực vỡ ra tổ ong vò vẽ
bay vụt đi trăm ngả
đốt sưng trời đêm
những ký tự buồn

14-10-02

Giữa cánh đồng tình ái mùa gặt
giọt mồ hôi đú đởn
nỗi buồn lợm giọng
chỉ có đêm hiểu
nỗi đau tôi.
Giữa cơn mưa châu chấu
thiên địch sinh tồn
của thiên giả địa
của nghĩa giả nhân
Tôi còn đau
bọn trẻ hoang
mùi nắng dại
Buồn nỗi vó bè
lơ lửng thương đêm
Thiếu phụ chong đèn
khâu đợi chờ thành tấm chăn
ủ men ái tình hương cốm
Tôi khóc
trăng tà biết
giọt nước mắt vô nghĩa
giọt mồ hôi đú đởn
và nỗi buồn lợm giọng
Có một nụ cười
ba mươi sáu vạn năm ánh sáng
vụt loé ngang trời
chia sẻ cùng tôi.

6.9.04

Thức dậy. Trong vũng mơ của mình. Mở mắt
giữa đầm lầy nắng. Nỗi buồn
kiêu hãnh. Chào buổi sáng
những nông cạn
ngây ngây. Mùi học đòi.
Thức dậy. Bên nhau trong vườn điạ đàng
hai bông hoa si tình giả vờ
trao nhau ham muốn. Đồ hàng. Gió.
thuốc những lời yêu đương. Độc dược.
Lang loáng lưỡi dao.
Adam hăng hái. Chia. Quả táo ra nhiều phần nhỏ.
Eva cười
nụ cười ngụ ngôn bỏ dở
“Không cắn trộm
miếng táo sẽ chẳng vừa nổi miệng ai.”

8-9-04

Biết ơn là trí nhớ của trái tim
tình yêu bẩm sinh đãng trí
tắm gội nỗi buồn
em nằm nghiêng nhẹ
hoá thân
nhầm trăng sao.
Ngồi cạnh ký ức của anh
hạt sương nhân ảnh
ban mai sợ hãi
va vào giấc mơ
giấc mơ lùi lại
nhường đường tuổi
phát động trò đùa
thợ săn
Dịu dàng nhé anh
mơ rất dễ tan,
sương rất dễ vỡ
gió rất dễ đổ
Tình thường hay tận
người vẫn thường đau
Ngược nắng
những ngọn cỏ lau
đợi gió đùa
em loay hoay với dây đàn đã đứt
đàn rướn mãi lên
nước mắt giấu sâu thớ gỗ
nỗi đau vĩ thanh
âm bỏ giở
Đàn say nốt lặng
lẩm nhẩm nguyện cầu
đợi ngày lễ
Tạ ơn.

11.9.04

Ta lỡ để tuột tay khỏi gió
nên chẳng biết cùng ai
lang thang nốt buổi chiều
Rồi trở về trăng gác lạnh cửa sổ
ngắm thiên thạch phóng vọt phiêu diêu.
Cũ nát rồi buồn thương cũng méo mó
biết đang nợ mình một cuộc dấn thân
biết đang quỵt mình một phép ẩn dụ
biết đang lừa mình hạnh phúc tội nợ
biết để hèn
biết để biết
vu vơ.
Ta đã lỡ để tuột tay khỏi gió
lang thang mãi cũng không hết được chiều
ta đã lỡ chạm tay vào gió
để bây giờ trốn chạy khắp nẻo yêu.

Chép nguẩy
ngã ba sông nỗi hai chồng
Táo bà mòn răng
còn nghiến

Âm u sương hoang mang
gió nỗi được yêu

Em khóc úng chiều
mân mê những toan tính bằng tóc
ngồi gần một ái ân im lặng
hoá vàng cho năm

Bới lại ba trăm sáu mươi xác ngày
tìm tàn tro những ham muốn có thật
về nhau

Bay lên theo sớ
tố điêu tâm chính chuyên
cám dỗ Táo bà
nhường chồng
sẻ lửa.

Cá chép của em
bơi theo dấu anh sông biền biệt
vượt vũ môn không hoá rồng
hoá lộn chồng
lộn kiếp

Hai mươi ba tháng chạp
về giời
định tu thêm chín kiếp
cho tròn nhân quả

Nhưng chỉ vì
gió
đã tố cáo
tội yêu.

23.1.03

Tiếng cười nhẹ trong
tròng trành nhung nhớ
nắng lảo đảo
mái hiên say nghiêng ngả

Thung lũng nhốt buồn
lứa sương vô cảm đi xiên

Không cần ngoái nhìn
ánh mắt giưong cung
bắn vào mùa hạ
con sáo mỏ vàng thất thanh
mách kẻ lạ
lưỡi chưa lột
nói dối chẳng qua

Tháng tư bi ai
khóc bằng ham muốn
dịu dàng hạt sương cứng
nụ loa kèn ngọc thạch
bướng bỉnh đau

Tỉnh dậy
tháng Tư
ngượng ngùng lưỡi dao
pha những thớ buồn ba chỉ

Bàn tay đuổi nhau
ngã dưới vạt đồi âu yếm
dắt về mùa hạ trầy sước đồng thau

Tìm thấy nhau
tiêu điều hồn nhiên
trẻ bạc đầu

Dung dăng dung dẻ
Đi bộ trên mây

1-4-03

Đại lộ tím phong trào
Bằng lăng vô tư xôm xốp
không cách nào giản thanh được
hội đồng thẩm định
ve kim.

Tháng Sáu, em
ảo tưởng trùng tu
từng mảnh nhỏ, ký ức đã vôi hoá
về anh.

Tháng Sáu làm đau em,tia nắng
xuyên qua lá bàng
xâu qua lỗ thủng
hằn vào trang giấy trắng
tung toé tuổi dậy thì
ướt đạn súng cao su.

Chưa bao giờ viết cho anh một câu, chưa khi nào rơi
vì anh một giọt
khóc
và ngày nào cũng khắc
tên anh lên mặt mọi đàn ông.

Tháng Sáu, giả vờ đăm chiêu
nguỵ trang những dịu dàng tẻ nhạt

Diêm dúa đến tội nghiệp
ký ức kiên nhẫn ngồi
đợi
trận sở khanh cuồng phong tháng Bảy
vô tình tràn qua.

1.6.04

Đàn bà thích tự làm ra
mùa. Tôi
tự dưng huyết áp tụt. Tự dưng
nhịp tim lạc. Tôi
bỗng nhiên lạnh
toàn phần. Vùng áp thấp
muốn làm cách mạng. Muốn
lật đổ chính chuyên. Muốn
tranh vợ cướp chồng. Muốn
giật bồ thông dâm. Muốn
đặt bom tượng đài. Muốn
gia nhập làng chơi. Muốn
tham gia hành trình văn hoá. Muốn
líu lo diễn thuyết về mình trong cuộc họp. Muốn
dậu đổ bìm leo. Muốn
nước cao hơn thuyền. Muốn
cơn bão số 3 đi qua đảo Hải Nam. Muốn
cơn bão số 4 đừng đổ bộ vào Hồng công. Muốn
say trong mưa. Muốn yêu
người cô độc. Muốn
cấm khẩu. Muốn
bất tỉnh.Muốn
đặt bùa mê. Muốn
lú.
Nhưng Tháng Tám. Mùa thu
cười rất nhạt. Tiếng cười khẩy trên cao.

1-8-03

Va chạm hồ nghi mắt anh
khoan vào chiều vương vãi
những tàn lửa

Đã từng dịu dàng như một lời hứa
mặc định trầm cảm
tổn thương trên cao.

Nắng tê tái
mộng du con sẻ già
xù lông ẩn ức
gục vào hờn ghen
hờn ghen độ lượng.

Chuyến tàu hoang tưởng
chầm chậm rời ga.

Rồi sẽ về nhà
ngôi nhà biến anh thành lữ hành cô độc
biến anh thành tay thợ đào những khoảng trống
những khoảng trống đựng đầy khoảng trống
đựng đầy thất vọng
đầy hơi thở
em.

Rồi cũng phải về nhà
thiền định trên chiếc giường
quá giang căn phòng
giăng giăng khoảng trống.

Chiếc giường dậy anh cách yêu em bằng tưởng tượng
bên cạnh những khoảng trống rong rêu.

Rồi sẽ về đến nhà
dù là đường của trăng hay của hoa
dù là sợi dây đứt của con diều nhỏ
em ngoan hiền ru
khoảng trống màu cỏ
à ơi!

Uống nốt ngụm mây
à ơi,
em sụp đổ.

Quá nhẹ
hạt sương vỡ.

À ơi,
chỉ thế thôi
mà gió
tan tành cả ngụ ngôn.

10.03.04

Như một cách trò chuyện với T.

1.
Bốc hơi từ tham vọng ẩm ướt
chỉ mồi chài được
thực dụng hư vô.

2.
Tiếng cựa mầm cây lá nhọn
hom hem mùa đông
căm căm cúi đầu nhịn rét
bừng mở vòng tay
vồng ngực rừng lá thấp
ngành Quyết
mở màn thuyết trường sinh.

Giấc mơ tầm thường làm kén
hoá ngài trăm trứng
giấc mơ nổi loạn bươm bướm
loè loẹt cám dỗ bóng đêm
giấc mơ cao siêu
không khiến tình yêu bất tử.

3.
Mùa cổ điển gọi Chí Hoan
ngông nghênh mảnh gương xanh
bầu trời tròn xoe
gương cầu lồi mắt ếch

Giăng quanh đầm lầy mạng nhện bát quái
luân hồi hoá giải
lũ sâu đục thân nhâm nhi
nỗi buồn trưởng giả
thớ gỗ học đòi
cọt kẹt ẩn ức
tham vọng siêu thoát
nứt nẻ vỏ cây.

4.
Tia nắng đầu tiên là sợi chỉ dài
khâu hai mảnh ngày và đêm
thành áo choàng kiêu sa
tuổi dậy thì trong suốt
chẳng là gì
nếu
thời gian không cào lên mặt đầm lầy
vết xước
nhận thức cuộc sẹo truân chuyên.

Một ngày qua đời
đầm lầy vô cảm
cái chết phục sinh ngày mới
mặt trời biến thế gian thành một cõi
nhàm chán
đơn điệu đến nỗi
mỗi ngày tự tìm
một cách quyên sinh.

5.
Mạch nước nhỏ
len lỏi rừng sâu
tìm đường truy hoan
rụt rè đâm vào đầm lầy
nổ toang màng bong bóng cá.

Mặt trời bắc bếp
đặt lên chiếc bình
pha trà
hồng hào ham muốn
vật chất lên men
tế bào mục ruỗng
cuộc sinh tồn bắt nhịp
tia cực tím mộng trưởng thành
lão hoá
vô vi.

6.
Áp suất
không khí ấm dần lên
lũ bùn non phát sinh
những tranh giành tanh tưởi
bọn thuỷ-tức-a-míp-đơn-bào
bắt giọng hoà nhịp
bọn địa-y-hạt-trần-hạt-kín-lá-kim-lá-kép
đồng ca đón nhận
ban mai.

7.
Những hoa xoan
nhẹ dạ
lửng lơ xoay
không lượng gió
mưa phùn đông lạnh
không tuyết băng

Đầm lầy cựa mình
từng đốm lập loè
ánh sáng xanh đánh dấu
chuyển động thị giác

Đom đóm về
tiết điệu hạt mưa

Đầm lầy xáo động
lật ngược dải ngân hà
vòng xoáy lỗ đen vũ trụ
cơn gió chập chờn
nghi ngờ cam chịu
đầy bụi sao bay

8.
Những cây ngủ đông
mộng du trên cao
không chịu nổi giấc mơ
rùng mình
trút xuống đầm lầy
nghẹn ngào chùm hạt rớt
bing boong
bing boong

Tiếng chuông pha lê
vỡ tan mặt nước
đầm lầy tổn thương tiền sử
tiếng gõ cửa dịu dàng
tiếng gõ cửa
mùa xuân.

9.
Thanh
âm của gió
là khí quyển của chim
loài lông vũ
có thói quen nhảy múa

Độc diễn cô đơn
biên đạo không khí
vũ điệu bầy đàn
vũ điệu của cam chịu
vũ điệu sáng tạo
vũ điệu lầm than.

Đầm lầy chật chội hơn
những âm thanh hỗn loạn
vô luân bon chen ghanh ghét
thế giới của loài
chim nằm
không gian đứng
chia cắt rung động hạt
ma sát vụn nhỏ
từ trường không bền vững
hiệu ứng cách bướm
thực hành chuyển động
lý thuyết dây.

10.
Bất ổn
và khó tin
trong cả rừng âm thanh
đầy chặt vòm cây
đầy chặt cành lá
nêm kín những khe hở
đầm lầy đậy nắp hầm
tiếng chim.

Vẳng từ thẳm sâu
một con hoảng hốt
“Bắt cô trói cột”
rừng cánh loạn xạ nháo nhác
cơn lốc hót vụt bay.

11.
Yên tĩnh trả lại đầm lầy
rừng sâu bay về đơn độc
bắt cô trói cột
bắt người trói yêu.

Xước xát mặt nước
đầm lầy râm ran
ếch nhái vocal
“bắt nhau
trói buộc
bắt nhau
cô độc
bắt nhau
tuyệt vọng
bắt mình
bắt nhau…”

12.
Sâu trong thớ gỗ
mọt nghiến
răng báo động mùa trở dạ
những phục sinh
mùa hồng màu hạ
nháy mắt làm duyên.

Thiên thần cầm cây cung
Viết Xuân giương tên
nhằm thẳng mặt trời
bắn.

Mặt trời
vỡ ra thành trăm ngàn mảnh
vương vãi khắp đầm lầy
nhũ thiên nhiên
rũ bỏ xiêm y
theo tiết tấu uy quyền
sấm quyến rũ
tỏ tình mùa
Hạ
rơi.

13.
Mưa rào phi đầy tên nhọn
xuống đầm lầy
những chiếc kim hoan lạc
sự sống đội bùn
chống lên những mầm cây
hoang tưởng
Cộng sinh

14.
Nước
chưa bao giờ là kẻ chung tình
mà luôn yêu say đắm
“Lưu thuỷ hành vân”
triết lý cuộc sống
một chảy một trôi

Mây ở cuối trời
nước ly hương
lưu vong
lang thang xin visa mạch ngầm
tìm đường về thăm mẹ

Nước
chẳng tội gì chung tình
yêu bằng ảo giác
mềm
chạy bằng ảo giác
thoát
mềm buộc chưa chặt
không trói nổi tiếng chim.

15.
Mưa sữa
gió ru ngủ
chim
đứng giữa trời không thèm bay nữa
giang cánh tự tử
trong mây ở cữ
nước không còn đóng băng thành sữa
quê hương không là mẹ
quê hương chỉ là hương

16.
Tự ru khúc vĩ cuồng nứt nẻ
bằng ảo giác
mòn
chảy bằng ảo giác
bay

Về nhà thăm em
về quê thăm bố

Nước
đã nhiều lần băng
sương đã nhiều lần khói
phóng lên trời say
trắng bay êm ái
xám cười vụng dại
hạt rơi buồn
mưa có giống ta không.

31-12-2004

Lời giới thiệu (bìa sau sách)

Sẹo độc lập chứa đựng một thứ ngôn từ tự do đôi lúc cực đoan, chì chiết và liều lĩnh nhưng chính xác, thống nhất và ám ảnh. Một cảm xúc đa mang, đắm đuối, ruồng bỏ nhưng nghiệt ngã. Để từ đó, một thế giới u tối, hung hãn, phi luân, rối loạn được dựng lên.

Nhưng trong thế giới ấy, lúc nào cũng vọng lên một tiếng như lời trăn trối: Chúng ta, ai cũng phải về Ngôi nhà mang tên chính mình. Tiếng ấy là tiếng của tỉnh thức. Và đó chính là một sự thật nhân văn tối thượng.

Xin hãy lắng nghe thật bình tĩnh và ý thức cái tiếng kia.

(Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều)

Ngày mười
chín tháng
hai năm nhâm

tôi
được độc lập
với mẹ
bằng sợi dây
rốn
cắt đứt cơ thể
vết
sẹo làm người.

Vết sẹo
tôi
cái rốn
độc
lập Phan Huyền

…Thơ

19-2-2004

Gửi K.

Con chim ít hót nhất trong cả dân tộc chim hay hót
làm sao có thể nghe được tiếng mình?

Con chim ít hót nhất trong cả dân tộc chim hay hót
làm sao có thể nghe được tiếng một con chim hay hót ?

Con chim ít hót nhất trong cả dân tộc chim hay hót
làm sao có thể nghe được tiếng một con
chim ít hót khác?

Những con chim hay hót
làm sao có thể nghe tiếng hót khác mình?

Những con chim
hay hót làm sao có thể nghe
tiếng hót tự mình?

Những con
chim hay hót làm sao có thể nghe…?

Một dân tộc chim hay hót…
những con chim đã quên mất giọng hót chính mình
những con chim đã không thể hót giọng hót chính mình
những con chim đã không thể nghe thấy giọng hót loài…

những con chim đã không thể bay bằng tiếng hót
những con chim đã không thể im lặng
những con chim đã…

Một dân tộc….
…tranh nhau hót
Không thể
….bay lên
….những tiến hoá
….lặng im.

20-3-2008

Than thở với Phạm Tường Vân)

Tôi đầy một bụng dao găm. Có lúc
muốn phi như mưa vào bộ mặt thảng thốt
buồn phiền nhu nhược. Có lúc
muốn gí sâu từng chút vào cổ niềm vui đần độn
đặc quánh mật. Ướp xác lũ ruồi nhặng
bu chặt hư danh. Có lúc
muốn song phi vào ánh mắt
đã nhiều lần làm tôi khóc. Có lúc
muốn cạo cho nhẵn ghen tuông
mặt con chuột
cháy nhà.
Tôi còn nhiều. Dao
thọc từ phía sau biến tôi thành con nhím
trầm uất.”Buồn vương hai thế kỷ”. Ngồi tỉ mẩn
gỡ ra từng chiếc. Nhổ nước bọt vào lau
sáng loáng. Tôi lên kế hoạch trả thù. Tôi
còn nhiều dao mà!

Mỗi ngày, những lưỡi dao lại gầy hơn
vì buồn. Thật khủng khiếp vì không biết
làm gì với một bụng dao găm
đã được lau chùi sáng bóng
bằng nước bọt và miếng giẻ xơ mướp
được mang tên Nghĩa Tình.
Rồi một hôm. Không chịu nổi
nụ cười mỉa mai
kiểu Đạo đức đã quá lứa,
đòi động dục. Tôi quyết định
mang một lưỡi dao ra rèn luyện. Thử
cứa vào tay mình để ngồi xem máu chảy. Tôi
cố tìm lưỡi dao đã đâm tôi sâu nhất. Lưỡi dao
mềm, trong suốt và buốt lạnh như nước. Bất lực
tôi ngửa dao lên và đi trên lưỡi dao
như một người làm xiếc bịt mắt
thăng bằng trên dây. Đến chuôi dao
chân tôi dẫm phải một dẫy số. Nỗi đau
đã được mã hoá: 19021972.
Định mệnh
đã an bài. Tôi sinh ra
vốn không thể trả thù ai cả! Vì thế
rút dao ra. Tôi chỉ còn là
một lỗ hổng
không khác gì bức tường thủng.
Kể từ đó. Mọi người thậm chí có thể
làm tình với nhau qua lỗ thủng là tôi!
Namô a di đà!
Dao găm bụng tôi!

2005

Đêm nay lạnh, trăng tròn
và thiếp nằm đáy sông
khoả thân bắt sáng
đàn cá uốn lượn
vũ điệu minh hoạ
si tình.

Đên nay lạnh, và thiếp
nằm đáy sông Tiền Đường
nghe tiếng chàng tha thiết
thanh minh cùng phu nhân
nghĩa tình liêm khiết
minh bạch trò chơi
ái tình
cay nghiệt…

Đêm nay lạnh, đáy sông
lấp lánh nhục thể đạo đức
thiếp ngắm trăng
trăng ngắm thiếp
nước mắt chảy dưới đất thành sông
nước mắt trôi trên trời thành mây.

Đêm nào lạnh, chàng giả say
thêu cô đơn dệt truân chuyên
mua danh bán phẩm
thiếp luỵ tình
không liếp lụa che thân
thương Lý Bạch say trăng.

Đêm nào lạnh, tình người
ba xu một mớ, bảy xu một đời…

Đêm nay thiếp lạnh,
Thúc Sinh ơi.

Kẻ trộm vào nhà.
Uống một ngụm rượu trong ly rượu uống dở
Ăn miếng bít tết bé xíu và mấy cọng rau mùi
Ngắm ngọn nến cháy…
Nghe trộm lời yêu đương
Nhìn trộm mắt đam mê
Và ăn cắp khoảng trời tự do
trong vòng mười lăm phút.
Kẻ trộm bỏ đi.
Để lại một vết răng trên thân thể đoạ đầy
Trong bồn tắm oải hương ngất ngây…
Chủ nhà phát hiện dấu ấn “kẻ cắp”
Ẩn chứa trong nguyên vẹn
(Kể cả sự bất ổn…hiện trường)
Nến cháy thâu đêm
Mắt thức thâu đêm

Kẻ trộm vào nhà
Hay kẻ trộm vào giấc mơ…?
Mọi thứ tưởng như không có gì thay đổi
Chỉ có một điều không thể tìm lại nổi
Bên cạnh ngọn nến
Bên cạnh ly rượu
Bên cạnh ánh mắt
Bên cạnh lời nói
Bên cạnh oải hương ngất ngây vụng dại
Tuổi trẻ
vừa trút bỏ xiêm y
nằm thiêm thiếp trên giường…
Đã không cánh mà bay…!!!

Ngủ với định mệnh trên giường
thấy định mệnh gầy gò những bất lực.
Thức dậy với nỗi buồn trên giường
thấy nỗi buồn đầu bạc
thì mang nỗi buồn đi nhuộm
đen lại màu ham muốn thanh xuân.

Ngồi trò chuyện với một que diêm
que diêm không thể tự cháy
que diêm kể về giấc mơ màu lửa
lửa
triền miên mất ngủ
đêm
triền miên gầy…

Khảo dị:
Đêm ngàn lẻ …mơ
que diêm tự cháy
định mệnh hoá thân
mầm cây lá bạc
hoa lửa nở đỏ
thơm mùi diêm sinh.
Happy endding.

(Độc ẩm với Lã Bất Vy)

Những gương mặt người
quen mà không quen

Từng giọt sương nén trong veo câm nín
tiếng chim khua vỡ buổi sáng lạnh
em một mình
ngồi khuấy loãng thời gian

Buổi sáng muốn ôm anh
nắng nói lời mê ngủ
buổi sáng muốn gọi anh
mây tái mặt thẫn thờ

Quàng nỗi nhớ lên gối chăn bỏ ngỏ
bản Blues jazz đêm qua lẩn khuất phím dương cầm
người thiên di cung bậc cuối cùng
nụ hôn nửa vời
trái tim không cửa

Bóng ai hờ hững xéo trên lá cỏ
điềm tĩnh ngồi chờ gió
về tan cùng tàn thu
buổi sáng
một mình
quen mà không quen…

Lục lọi trí nhớ một hình nhân đêm
quấn quýt trùng căng kén ngà, tơ lạ
nuốt vào chầm chậm như loài lông vũ
vừa bay vừa thảng thốt… âm u

Buồn ngại ngần níu vạt ngu ngơ
chậm mất nhau cuối mùa
bão giông đã nửa đời lạc nhịp
cơn đau da lươn lên men vân gốm
buổi sáng mị tình…
nốc cạn
một tứ thơ.

Bạch lộ: sương trắng. Tiết cuối thu, gió Nam mang mùi tanh, vị cay, âm thương – ứng với Thái âm, màu tế tự đen và trắng, vật tế tự thường dâng gan – ứng với loài thú có lông… (ngộ theo Lã thị Xuân Thu).

Bài thơ này được cho là được sửa từ bài Buổi sáng (in trong tập Đếm cát, NXB Văn học, 2003) của Phan Ngọc Thường Đoan vì có nhiều điểm giống nhau.

Thư gửi nhà thơ Nguyễn Việt Chiến)

Nếu tôi chết
hãy đem tôi ra biển
vì tôi là hạt muối buồn
kết tủa từ cô đơn
tự ăn mòn mình bằng mơ mộng

Nếu tôi chết
hãy ném tôi vào sóng
cào đến xước mặt hoàng hôn
nàng tiên cá hát ru con
mê hoặc đêm trăng những chàng thuỷ thủ
trôi theo dòng hải lưu tình sử
giam hồn mình dương liễu Quán Thế Âm

Nếu tôi chết
xin gió hãy hồn nhiên
cuốn tôi về phương trời trống rỗng
một mình tôi sẽ làm cả cơn dông
xoáy vào đại dương nỗi đau bất tận
lặng câm đã muối thành lời

Nhưng vì chưa chết,
tôi sẽ là ai?

Là ai nếu nhạt nhẽo
Là ai nếu giả tạo
Là ai nếu bon chen
Là ai nếu đớn hèn
Là ai nếu ngu dốt
Là ai nếu dị hợm
Là ai nếu…

Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn?

Giữa biển đời hạn hán tình thương
bạc thếch nỗi niềm
ươn nhờn ngộ nhận
mỏng như vết máu khô loang sa mạc
chờ tín hiệu được giải thoát
từ cảnh giới màu xanh

Tình âm u
ảo giác thuỷ triều lờ nhờ
tuôn bầu ngực trăng
căng lỗ thủng
dòng sữa đen đặc quánh
nuôi nấng lỗi lầm

Có lẽ đã chết
vẫn tốt hơn!

Hoang vu mắt
người đàn ông tiền kiếp của tôi
linh hồn ngậm sợi cỏ buồn mằn mặn
hạt muối lưu lạc cánh rừng u uẩn
tiếng vọng tình nghìn năm

Có lẽ
đã chết vẫn tốt hơn!

Tôi đã gói ghém xác thân
niêm phong dấu môi, thuyền giấy ảo vọng
sẵn sàng hải trình yêu bằng hải lưu nước mắt

Triệu triệu
xô dạt
triệu triệu
va đập
triệu triệu dòng
trắng
điên cuồng
sóng
tung toé dấu vết một cuộc đời.

Để viết lên mặt biển
bài thơ một cuộc …người

Đã chết
có lẽ vẫn tốt hơn…

15.10.2008

Tác giả cho biết thêm, sau khi đăng bài thơ này trên trang cá nhân vào tháng 10/2015, một số người cho chị biết về bài thơ Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển của Du Tử Lê, đã được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc. Vì sự tình cờ đó, tác giả sẽ in nghiêng câu thơ “Nếu tôi chết, hãy đem tôi ra biển” của mình để bày tỏ lòng kính trọng với nhà thơ Du Tử Lê.

Có người đàn ông đang lau khô nước
trên khuôn mặt của mưa…
Phập phồng bao diêm trong túi ngực
hô hấp cho cõi chết tạm của lửa
Tiếng còi tầu cứa lên không trung một xa vắng
Nhan sắc nén dưới những thanh tà vẹt
Tuổi xuân mất trí nhẫn nại lao đi trên thép lạnh
nối thời gian thành vô định hành trình

Đêm sân ga
Có người đàn ông đi tìm nhan sắc của chữ
trong những nguyên âm buồn
Tìm bóng dáng ái tình trong son phấn mùi đêm
Tìm tiếng vọng tiền sử trong ngọn gió lang thang
Đã hong khô hoài niệm về vết thương nhỏ máu
Những giọt lạc thú của ngôn từ hoá thành hổ phách
Đã vá lại những vết rách của tấm voan nhẹ dạ
thành rèm cửa ngăn tạm vách tim

Đêm sân ga
Có người viết ngụ ngôn bằng nước mưa
đọng trong vũng buồn lạc lõng
Ngồi soi gương thấy bóng chàng Narisce với đôi cánh ngộ nhận
Nàng thơ không giới tính
đang loay hoay nhập thiền

Đêm sân ga
Có người lạc mất hành trình
từ quá khứ
Có người đợi một chuyến tàu
có lẽ sẽ đến muộn
Có người đợi một chuyến tàu
mà biết chắc không bao giờ kịp đến
Có người xuống nhầm bến
Có người muốn ở lại cùng tương lai

Đêm sân ga
Có người đánh dấu một nụ hôn gió
lên khuôn mặt của mưa…không nhan sắc
Có người ngồi nghe tiếng con tàu bất lực
không xác định được ngày về

Đêm sân ga
có một ngọn lửa vừa đứng chết
và câu thơ khóc tiếng chào đời
bằng mưa.

29/7/2013

Trên đây là những bài thơ hay nhất của nữ nhà thơ Phan Huyền Thư, được chúng tôi tổng hợp đầy đủ hi vọng sẽ mang đến những giây phút thư giãn bổ ích nhất cho quý độc giả yêu thơ.

Yêu nhau vượt núi vượt sôngCó duyên gặp gỡ vợ chồng trăm năm…CHỐN BÌNH YÊN

Yêu nhau vượt núi vượt sôngCó duyên gặp gỡ vợ chồng trăm năm…CHỐN BÌNH YÊN

Mời anh về thăm mảnh đất quê em
Có cát trắng trải dài ven bờ biển
Mình cùng ngắm chú hải âu chao liệng
Thả tâm hồn nghe biển hát dịu êm

Rồi đêm về.. ngắm những ánh sao đêm
Nghe con dế ,kêu bạn tình mình đến
Nghe con cuốc.. than sầu khi đêm đến
Em tựa vai anh .. đón gió Thu về

Dấu yêu à , một cuộc sống ở quê
Nó đơn giản không cầu kỳ như phố
Có đôi lúc ăn uống còn kham khổ
Và suốt ngày lao động với chân tay

Cũng có khi, đầu phơi nắng cả ngày
Bàn chân nứt nẻ.. tay thì đen xạm
Đau..chảy nước mắt rơi vào tâm khảm
Để trở mình phấn đấu có tương lai

Gái ở quê ..không phải gái trang đài
Giản dị với…mái tóc dài đen mượt
Chỉ mặc áo dài ..dáng người tha thướt
Tính hiền lành , chăm chỉ với nhà nông

Dấu yêu ơi? anh có chịu làm chồng
Dù cuộc sống gánh gồng trên vai nặng
Lúc gian khổ mình cùng nhau cố gắng
Nghĩa đồng tâm hảo hợp đến trọn đời.

Dấu yêu à có chịu …không người ơi?

Bình Định ngày 13/7/2021

Tác giả: Thu Thảo