The daffodils – Bài thơ đặc sắc nhất của nhà thơ William Wordsworth

I wandered lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills,
When all at once I saw a crow
A host, of golden daffodils;
Beside the lake, beneath the trees,
Fluttering and dancing in the breeze.
Continuous as the stars that shine
And twinkle on the milky way,
They stretched in never-ending line
Along the margin of a bay:
Ten thousand saw I at a glance,
Tossing their heads in sprightly dance.
The waves beside them danced; but they
Out-did the sparkling waves in glee:
A poet could not but be gay,
In such a jocund company:
I gazed–and gazed–but little thought
What wealth the show to me had brought:
For oft, when on my couch I lie
In vacant or in pensive mood,
They flash upon that inward eye
Which is the bliss of solitude;
And then my heart with pleasure fills,
And dances with the daffodils.

Dịch

Là đám mây tôi lang thang phiêu bạt
Trôi bềnh bồng trên thung lũng đồi nương
Rồi bất chợt một loài hoa hiển hiện
Thuỷ tiên vàng, ôi từng đoá yêu thương
Dưới hàng cây bên cạnh hồ soi bóng
Gió nhẹ rung trong điệu múa nghê thường
Vẫn triền miên như sao trời lấp lánh
Và lung linh trên dải sáng Ngân Hà
Ngàn hoa kia phơi mình đến ngút mắt
Quanh mặt hồ bên bờ nước bao la
Chỉ một thoáng muôn ngàn hoa trỗi dậy
Ngẩng cao đầu theo nhịp điệu hoan ca
Sóng nhấp nhô cùng hoa chung nhịp bước
Nhưng đâu bằng sự rạng rỡ hân hoan
Là thi sĩ lẽ nào tôi quên được
Hoà niềm vui để kết nghĩa bạn vàng
Tôi miên man ngắm ngàn hoa vời vợi
Cảnh trí này là sản nghiệp trời ban
Có nhiều khi trên chiếc giường ngơi nghỉ
Tâm hồn tôi trống rỗng hoặc triền miên
Chợt loé lên trong thẳm sâu ký ức
Niềm hân hoan cô quạnh lẫn ưu phiền
Và trái tim bỗng tràn trề hạnh phúc
Bước chân hoà theo điệu múa thuỷ tiên.

The daffodils là một bài thơ hấp dẫn được nhiều độc giả yêu thích và mến mộ của nhà thơ ngoại quốc William Wordsworth. Những lời thơ nhẹ nhàng như đang gõ cửa tâm hồn bạn đọc. Qua bài thơ ta hiểu hơn về phong cách thơ của ông. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi nhé!

Kiếp nào có yêu nhau – Niềm tiếc nuối khi tình yêu dang dở của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh

Anh đừng nhìn em nữa
Hoa xanh đã phai rồi
Còn nhìn em chi nữa
Xót lòng nhau mà thôi
Người đã quên ta rồi
Quên ta rồi hẳn chứ
Trăng mùa thu gãy đôi
Chim nào bay về xứ
Chim ơi có gặp người
Nhắn giùm ta vẫn nhớ
Hoa đời phai sắc tươi
Đêm gối sầu nức nở
Kiếp nào có yêu nhau
Nhớ tìm khi chưa nở
Hoa xanh tận nghìn sau
Tình xanh không lo sợ
Lệ nhoà trên gối trắng
Anh đâu, anh đâu rồi
Rượu yêu nồng cay đắng
Sao cạn mình em thôi

Năm 1943, Phạm Duy theo gánh hát Đức Huy tới Huế vào một ngày êm đẹp. Cảm xúc ngày ấy như vẫn ngọt lịm trên từng giác quan người nhạc sĩ. Ông mơ màng hồi tưởng: “Ai tới Huế lần đầu tiên cũng đều cảm thấy như vừa gặp một nơi để biết ái tình ở dòng sông Hương… vì những bầy ‘Huế nữ’ không những đẹp thôi, ăn nói lại mặn mà có duyên. Tôi may mắn được quen biết mấy chị em trong một gia đình quyền quý và được mời tới dinh thự Hương Trang ở Nam Giao chơi… Trong số đó có một cô gái rất trẻ tên là Võ Tá Hoài Trinh. Cô này còn làm thơ nữa, lấy bút danh Minh Đức Hoài Trinh… Nói rằng tôi biết ái tình ở dòng sông Hương là thế, nhưng lúc quen nhau rồi thì cũng phải xa nhau. Tôi tiếp tục sống đời giang hồ, người mới quen dần trôi vào dĩ vãng…”

Cuộc đời Phạm Duy, không ít những cuộc gặp đầy lưu luyến, song phần lớn chỉ là đôi ba khoảnh khắc ngắn ngủi rồi muôn trùng cách biệt. Trường hợp của nữ sĩ Hoài Trinh có thể gói trọn trong một chữ “duyên”. Năm 1948, nơi không gian nhỏ hẹp là khu vực của làng văn nghệ Quần Tín (tỉnh Thanh Hóa) vào thời gian mà cuộc toàn quốc kháng chiến đã gần đi vào năm thứ hai. Phạm Duy kể: “Tôi bấy giờ đang là quân nhân… bỗng gặp lại Minh Đức Hoài Trinh lúc đó được mười bảy tuổi từ thành phố Huế thơ mộng chạy ra với kháng chiến. Nàng còn đem theo đôi gót chân đỏ như son và đôi mắt sáng như đèn pha ô tô. Từ tướng Tư lệnh Nguyễn Sơn cho tới các văn nghệ sĩ, già hay trẻ, độc thân hay đã có vợ con… ai cũng đều mê mẩn cô bé này. Phạm Ngọc Thạch từ Trung ương đi bộ xuống vùng trung du để vào Nam bộ, khi ghé qua Thanh Hóa, cũng phải tới Trường Văn hóa để xem mặt Hoài Trinh. Hồi đó, Minh Đức Hoài Trinh đã được Đặng Thái Mai coi như là con nuôi và hết lòng nâng đỡ”.

Con tạo xoay vần. Họ lại chia tay nhau. Nhưng, Phạm Duy tiếp tục câu chuyện về nữ sĩ Hoài Trinh: “Năm 1954, tôi gặp Minh Đức Hoài Trinh lần thứ ba khi tôi tới Paris ở khoảng hai năm. Nàng đã rời Việt Nam, đang sống với một người em trai trong một căn phòng nhỏ hẹp. Ba lần gặp nhau là rất hy hữu, tôi bèn giao lưu với nàng và soạn được hai bài ca bất hủ”.

Minh Đức Hoài Trinh, trong ký ức của Phạm Duy là một người phụ nữ có tính cách mạnh mẽ pha chút “bạt mạng”. Thói đời thích ban cho người đàn bà đẹp cuộc sống trắc trở. Có lẽ vì thế mà đằng sau mỗi nhan sắc yêu kiều thường là tâm hồn cứng cỏi vượt lên mọi nghịch cảnh. Cuộc giao duyên thơ – nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy và nữ sĩ Hoài Trinh đã kịp cho ra đời hai bản tình: Kiếp nào có yêu nhau và Đừng bỏ em một mình.

“Nhạc tình của tôi trong loại nhạc tình cảm tính, nhạc của lứa đôi, nên tôi rất chú trọng tới chữ “nhau”: Cho nhau, Đừng xa nhau… Một bài thơ cũng ở trong chữ ”nhau” của Hoài Trinh đã nói lên mối tình xanh vẫn còn lo sợ… Bài thơ nhan đề Kiếp nào có yêu nhau…

Anh đừng nhìn em nữa
Hoa xanh đã phai rồi
Còn nhìn em chi nữa
Xót lòng nhau mà thôi

Cả bài thơ là một sự nức nở, nghẹn ngào, tiếc nuối… để có thể làm cho người đọc thấy trong lòng buốt giá, tái tê, chết lặng.

Chắc bạn đọc cũng thấy bài thơ phổ nhạc được tôi thêm câu, thêm chữ. Phổ nhạc là chấp cánh cho thơ bay cao. Bài thơ ngắn ngủi, cô đọng này, vì có thêm chữ nên không còn tiết vần đều đều, bằng phẳng nữa. Bây giờ nó quay cuồng theo nét nhạc, câu nhạc. Giai điệu của câu “đừng nhìn em nữa anh ơi” chuyển rất đột ngột, đi từ nốt trầm lên nốt cao nhất với hai “nhẩy bực” quãng 5 để diễn tả sự tột độ của tình cảm. Cái syncope sau câu “đừng nhìn em” làm cho mọi người thấy được sự nghẹn ngào của bài thơ và bài hát…

Nói thêm cho rõ: ca khúc gồm 154 chữ, dài gấp rưỡi bản gốc. Bản gốc là thơ năm chữ theo luật thi, nhịp lẻ; ca từ nhịp chẵn 6-10 theo sườn lục bát vần lưng kết hợp với vần chân; hai câu ngũ ngôn trở thành bát cú (hémistiche) cho câu 10 từ với vần giữa câu. Như vậy, chỉ về âm luật thôi, bài hát đã khác bài thơ. Những câu, những từ, những âm (đừng… đã) luyến láy tạo ý nghĩa mới cho lời thơ – chưa kể nhạc thuật phong phú, tha thiết mang chất bi kịch

Kiếp nào có yêu nhau chính là một câu chuyện đau lòng của nhà thơ. Tác phẩm mang đậm chất trữ tình cùng âm hưởng sầu mặc làm cho bạn đọc cảm nhận được một nỗi buồn man mác của nữ thi sĩ . Đây là một thi phẩm vang danh được nhiều bạn đọc yêu thích. Hy vọng sẽ làm hài lòng quý vị độc giả. Cảm ơn đã theo dõi bài viết của chúng tôi!

Nhà thơ Viên Sùng Hoán và những thi phẩm vang danh đi cùng năm tháng

五載離家別路悠,
送君寒浸寶刀頭。
欲知肺腑同生死,
何用安危問去留?
策杖只因圖雪恥,
橫戈原不為封侯。
故園親侶如相問,
愧我邊塵尚未收。

Biên trung tống biệt

Ngũ tái ly gia biệt lộ du,
Tống quân hàn tẩm bảo đao đầu.
Dục tri phế phủ đồng sinh tử,
Hà dụng an nguy vấn khứ lưu?
Sách trượng chỉ nhân đồ tuyết sỉ,
Hoành qua nguyên bất vị phong hầu.
Cố viên thân lữ như tương vấn,
Quý ngã biên trần thượng vị thu.

天上月分明,
看來感舊情。
當年馳萬馬,
半夜出長城。
鋒鏑曾求死,
囹囚敢望生。
心中無限事,
宵柝擊來驚。

Ngục trung đối nguyệt

Thiên thượng nguyệt phân minh,
Khán lai cảm cựu tình.
Đương niên trì vạn mã,
Bán dạ xuất Trường Thành.
Phong đích tằng cầu tử,
Linh tù cảm vọng sinh.
Tâm trung vô hạn sự,
Tiêu thác kích lai kinh.

一生事業總成空,
半世功名在夢中。
死後不愁無勇將,
忠魂依舊守遼東。

Tuyệt mệnh thi – Lâm hình khẩu chiếm

Nhất sinh sự nghiệp tổng thành không,
Bán thế công danh tại mộng trung.
Tử hậu bất sầu vô dũng tướng,
Trung hồn y cựu thủ Liêu Đông.

Viên Sùng Hoán không chỉ là một nhà thơ mà còn là một vị tướng giỏi có công lao lớn thời kỳ nhà Minh ( Trung Quốc ). Tuy là một người thanh liêm nhưng ông bị vụ oan là bán nước. Nỗi oan của ông chỉ được giải vào hơn 100 năm sau, khi vua Càn Long nhà Thanh xuống chiếu minh oan . Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Nhà thơ Nam Trân cùng những bài thơ hấp dẫn nhất mọi thời đại

桃李芳園勝卉多,
小心培壅二年過。
如今無力傳春色,
長向秋風嘆一嗟。

Ký đệ tử thi

Đào lý phương viên thắng huỷ đa,
Tiểu tâm bồi ủng nhị niên qua.
Như kim vô lực truyền xuân sắc,
Trường hướng thu phong thán nhất ta.

Dịch nghĩa

Các cây đào cây lý trong vườn thơm rất tốt tươi,
Tôi đem lòng bồi đắp hai năm qua.
Nhưng đến nay không còn tâm lực để truyền sắc xuân cho vườn cây ấy nữa,
Đành đứng trước gió thu than một tiếng than.

Ai thổi sáo gọi trâu đây đó
Chiều in nghiêng trên mảng núi xa
Con trâu trắng dẫn đàn lên núi
Vểnh đôi tai nghe sáo trở về
Trâu đực chạy rầm rầm như hổ
Trâu thiến dong từng bước hiền lành
Cổ lừng lững như chum, như vại
Móng hến hằn in mép cỏ xanh
Nhưng chú nghé lông tơ mũm mĩm
Mũi phập phồng dính cánh hoa mua
Cổng trại mở trâu vào chen chúc
Chiều rộn ràng trong tiếng nghé ơ

Năm Tân Vị qua rằm tháng tám,
Vẻ trời thanh càng ngắm càng cao,
Ngân hà một giải trắng phau.
Ai dun dủi cho ta vào động bích?
Vào cửa động tứ bề tĩnh mịch.
Ngọn đuốc soi tự tích nghìn xưa.
Ngẫm xem Ngự Chế đề thơ
Lòng mơ ước đến bây giờ mới thấy.
Thấp thoáng xa xa hang một dãy,
Tiếng nước gieo như gảy đàn cầm
Thấp cao đủ điệu bát âm
Lúc bổng bổng lúc trầm trầm êm ái.
Nhẹ nhẹ, đường meo, lần bước mãi,
Mở mắt xem chốn đại kỳ quan
Đá to nằm dọc, nằm ngang
Ai khéo tạc nên long bàng hổ cứ
Tiền bạc gạo mỗi kho mỗi thứ
Chẳng ai nom, hầu thử người pham
Hang sâu xuống đất tối om
Tay hoa đuốc, cúi mặt dòm: thăm thẳm
Trèo cụm đá cheo leo đứng ngắm.
Lên càng cao càng lắm vẽ xinh.
Lửa lập loè, động rung rinh,
Nấm vú đá sát bên mình lố nhố.
Rêu phong động mọc dài như cỏ
Chỗ rêu vàng, chỗ đỏ, chỗ xanh
Lên một mình, xuống một mình,
Gõ bộng đá tiếng rền rền kêu mãi.
Vừa đến sập của ông Đào Thái…
Nghĩ trí cao cảm khái bồi bồi.
Trước ta e chỉ có Ngài
Lúc nhàn rỗi lẻn vào chơi tiên cảnh,
Dưới ngọn đuốc khúc đường lóng lánh.
Mắt nhìn lui, đủng đỉnh bước ra.
Trời thu trông giải Ngân hà.
Vẻ ngân phai nhạt đã ba bốn phần.

Nam Trân là một ngòi bút sáng tác xuất sắc của nền thơ ca Việt Nam. Những bài thơ của ông như đánh thức tâm hồn bạn đọc. Thơ ông gợi lên một bức tranh phong cảnh tuyệt mỹ tạo sự gần gũi đối với người đọc. Qua bài viết này chúng ta thêm phần ngưỡng mộ sự tài hoa của ông trong sáng tác thơ. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Nam Trân cùng tập thơ Huế, Đẹp Và Thơ nổi tiếng nhất phần 1

(Kính tặng ông và bà Thiollier)
Kim Luông nhiều ả mỹ miều
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi.
Vua Thành Thái
Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng,
Cô gái Kim Luông yểu điệu chèo.
Tôi xuống thuyền cô, cô chẳng biết
Rằng Thơ thấy Đẹp phải tìm theo.
Thuyền qua đến bến; cô lui lại,
Vẩy chiếc chèo ngang: giọt nước gieo.
Đăm đăm mắt mỏi vì chèo,
Chèo cô quấy nước trong veo giữa dòng.
Biết không? Cô hỡi, biết không?
Chèo cô còn quấy, sóng lòng còn xao!

(Kính tặng ông và bà Phan Đình Chi)
Khách du vớt được mảnh giấy nhỏ
Bình bồng trên mặt nước Hương Giang;
Bức thư tuyệt tình; lòng ai oán,
Thiếu nữ vô danh khóc duyên tàn
Nửa năm về trước, một đêm thanh,
Sóng nước Hương Giang dợn sóng tình.
Câu chuyện nước non thừa gắn bó…
Trước thuyền trăng bạc rọi đầu xanh.
Thơ tàn một bức mong manh,
Nước chao nhưng nét mực xanh chưa loà.
Duyên xưa sao khéo đượm đà!
Mà nay tình lại phôi pha cõi lòng?
Ai gieo thơ xuống mặt sông?
Phó cho gió đẩy với giòng nước đưa?
Biết ai mà hỏi bây giờ?
Dải Trường Giang vẫn lờ đờ về Đông…
Nếu ta hiểu được giòng Hương thuỷ,
Tâm sự còn bao khúc não nùng!
Tọc mạch, trăng non mò đáy nước,
Mỉa mai dòm tận mặt tình chung.

Tặng Tạ Quang Bửu
Cô gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau
(Ca dao)
Trung thu: cô độc quả trăng tròn…
Chỉ có sân Trời vắng trẻ con.
Ánh lướt da cau phơi vẻ trắng:
Thoạt trông còn ngỡ chiếc đùi non.

(Tặng Hà Xuân Tế)
Lửa hạ bừng bừng cháy,
Làn ma trốt trốt bay.
Tiếng ve rè rè mãi
Đánh đổ giấc ngủ ngày.
Đường sá ít người đi,
Bụi cây lắm kẻ núp,
Xơ xác quán nước chè,
Ra vào người tấp nập.
Phe phẩy chiếc quạt tre,
Chú nài ngồi đầu voi
Thỉnh thoảng giơ tay bẻ
Năm ba chùm nhãn còi.
Huê phượng như giọt huyết,
Giỏ xuống phủ lề đường.
Mặt trời gay gay đỏ
Nhuộm đỏ góc sông Hương.

Trời nóng băm bốn độ.
Đèn, sao khắp đế đô,
Mặt trăng vàng, trỏn trẻn
Nấp sau nhánh phượng khô.
Ba dịp cầu Trường Tiền
Đứng dày người hóng mát;
Ngọn gió Thuận An lên,
Áo quần kêu sột sạt.
Đủng đỉnh chiếc thuyền nan
Qua, lại bến sông Hương…
Tiếng đờn chen tiếng hát,
Thánh thót điệu Nam Bường.
Hai tay xách hai vịm,
Một vài mụ le te,
Tiếng non rao lảnh lói:
Chốc chốc: “Ai ăn chè?”

Tặng Nguyễn Lân
Đã quá nửa tháng rồi
Mà mưa, mưa chẳng dứt.
Lúng túng cảnh nhà pha,
Ai ai xem cũng bực.
Rải rác, chú phu xe
Co ro thân mèo ướt,
Lóng ngóng các ngã ba,
Lù xù như gà xước.
Con bạc họp tứ tung
Tha hồ xe, pháo, mã.
Rét mướt đánh càng hay:
Được tiền mua áo dạ.
Đạo đức các cụ ta
Giở chuyện cũ ra bàn.
Dưới nhà, cô nổi lửa:
Lốp – đốp nhả ngô rang.

(Thơ gửi cho một ông bạn Nam Kỳ)
Anh đã đến Huế rồi,
Anh đã biết Huế chưa?
Ví đã biết Huế rồi
Thì đã hiểu Huế chưa?
Hiểu rồi cũng ngỡ là chưa,
Mà chưa nào biết rằng chưa hay rồi.
Ra đi lòng những bồi hồi,
Biết chăng? Chẳng biết rằng rồi hay chưa.
Huế tôi, cảnh đẹp như mơ.
Đế đô là một bài thơ muôn vần.
Tay tiên dù nắn bút thần
Cũng đành bỏ lắm những phần thanh tao.
Ngự Bình như thấp, như cao,
Nhạt màu mây móc, đượm màu cỏ hoa.
Gió đờn, thông dịp, chim ca,
Hoạ vần thoang thoảng một vài khúc tiêu.
Hương Giang: cô gái mỹ miều,
Tấm thân bay bướm láy chìu nhởn nhơ,
Trời xuân rải bóng dương tà:
Dưới hoa óng ả một vài tiểu thơ.
Đêm thu trăng tỏ nước mờ,
Chiếc thuyền bé tí bên bờ cỏ hoen;
Điệu đờn vút tận cung tiên,
Ung dung tỏa nhẹ xuống miền nhân gian
Ru hồn một giấc mang mang
Êm như mặt nước mơ màng biếng trôi.
Anh tìm cảnh lịch đến chơi
Thì anh đã hiểu Huế rồi hay chưa?

(Phỏng theo điệu bài “Đằng Vương các” của Vương Bột)

Êm êm dòng nước Hương Giang chảy,
Xúm xít thuyền con chỗ ba, bảy.
Tiếng hát ngư ông đẫm bóng cây
Như luồng khói nhẹ, lên, lên mãi.
Tháp cao dòm nước: vết meo trôi.
Đồi thấp sừng trăng dõi dõi soi.
Mờ ớ, xa xa gà gáy sáng…
Trong chùa cảnh cảnh tiếng chuông hồi.

(Tặng em Ngọc Lê)
Cánh cửa mở ra rồi khép lại,
Chờ anh mà chẳng thấy anh về.
Bóng em mờ, tỏ đi rồi đứng
Trước ngọn đèn chong. Trống điểm khuya.
Đi đâu? Đi mãi đến bây giờ?
Cảnh tượng đìu hiu dễ chán chưa!
Con trẻ nhác chơi còn ú-ớ,
Vú già mất ngủ vẫn: “ờ-ơ…”
Trăng lên xóa đốm sao mờ.
Sông Hương thuyền đậu còn chờ khách xuân;
Khách xuân lải rải xuống thuyền…
Gió êm ru tiếng độc huyền, não thay!
Đi đâu? Hay đến chốn này?
Riêng, chung với khách đêm, ngày điểm trang,
Chiếm lòng mượn những phố đàn
Bắt tâm hồn phải mơ màng, tê mê?
Cánh cửa mở ra rồi khép lại.
Chờ anh mà chẳng thấy anh về.
Bóng em mờ, tỏ đi rồi đứng
Trước ngọn đèn chong. Trống điểm khuya.

(Tặng Đào Duy Anh)
Lá bàng
Như lá vàng
Rụng.
Ôi! đìu hiu
Cảnh chiều
Đông!
Ruộng ngập: mênh mông
Nước phẳng.
Cò bay, yên lặng,
Quanh đồng.
Thi tứ viễn vông:
Thần Tưởng tượng
Như đàn có đói lượn
Đồng không.

Tặng Nguyễn Xuân Nghị
Bốn cặp xôn xao nhảy,
(Một cô nũng nịu cười)
Trẻ, già đông như hội
Đến xem gái tân thời.
Quanh phòng chen đứng chật
Nào phu lít, phu xe.
Nào thầy thông, thầy phán,
Mụ bán đậu, bán chè.
Miệng nhai trầu bỏm bẻm,
Bà lão vỗ vai chồng:
“Này ông, sao họ thích
“Chơi ngón lạ thế ông?”
Bác đồ sành xỏ ngọt
Giảng: “Thọ, thọ bất thân
Nghĩa nôm là trai gái
Phải ăn chung ngồi gần”.
Dăm ba thằng mách qué
Dắt nhau ra sân ngoài,
Giang may mà nhảy nhót
Như nhưng cặp choi choi.
Trong phòng kèn máy rú.
Cô, cậu vẫn vin nhau
Tới, lui chẳng đúng dịp:
Khi chậm lại khi mau.
Dân ta, dân chủ cựu,
Thấy mới tất nhiên chê.
Xưa kia bao người nói:
“Hớt tóc để bợ Tây”.
Này phong trào Khiêu vũ
Lan rộng khắp nơi nơi.
Lắm ông khè khà phán:
“Ôi! Phong hoá suy đồi!”

Trả lời Hán Thu
Bạn ơi! Chớ ngại đường xa,
Đường xa nhưng cũng có ta cùng mình.
Cám ơn bạn tặng bức hình
Với thơ một mảnh đượm tình chi lan.
Đồng thanh tương ứng,
Vì xa xôi nên luống những nhớ nhung.
Bước chân đi xin chớ ngại ngùng
Thì muôn dặm, nghìn trùng xem cũng ngắn.
Khách Hương. Thuỷ đá ai đó đắn,
Trời Thần kinh cười tớ hững hờ.
Vắng chi âm cạn sạch nguồn thơ.
Đờn Bá tử còn chờ Chung tri kỷ.
Chí quả quyết, trèo non là sự dễ.
Cứ vào đi! Đi! Cứ vào đi!
Thênh thênh đường cái…. lo gì?

(Tặng Thân Trọng Khôi)
I
Trên núi Ngự Bình
Bông sim đua nở,
Bông trang chen nở,
Một cô thiếu nữ
Ngồi hát một mình.
-Hỡi cô ngồi hát một mình,
Vì ai cô hát đưa tình, hỡi cô?
-Trên núi Ngự -Bình
Chim cười, gió hát.
Gió xui em hát,
Chim giục em cười.
Hỡi chàng công tử kia ơi!
Lòng em khao khát những lời ái ân.
II
Trên núi Ngự Bình
Gió chiều hiu hắt,
Nhạc thông díu dắt
Như khúc phong cầm
Cô em vừa tuổi cài trâm
Nẻo sim lững thững đi tìm xác hoa.
Ngây thơ đâu nữa mà vờ!

Tặng Trần Đằng
Đừng kể nữa những mảnh tình tan tác.
Hãy đứng lên, Nhạc sỹ, với tôi, đi!
Tôi ghét anh mê giọng hát sầu bi
Và tung mãi tâm hồn thừa truỵ lạc.
Hãy đứng dậy! Vứt chiếc cầm ảo não!
Tôi cần nghe những khúc nhạc rất hùng
-Thét ngựa lòng phi mãi chẳng chồn chân –
Sáng như gươm tuốt, mạnh như luồng bão.
Ôi nhạc sĩ, thật anh người thậm tệ:
Quan hoài chi những lối hát mê ly,
Những câu ca không Đẹp lại không Thi
Của kỹ nữ vọc cuộc đời ê chệ?
Hãy cung kính nhượng các ngài tuổi tác
Những bản đờn, dịp hát thiếu tinh thần.
Hãy ra nghe sóng vỗ, ngắm mây vần
Rồi sáng chế cho tôi vài điệu khác

Tặng Đào Đăng Vỹ
Trên mặt hồ thu
Chuồn chuồn đạp nước.
Con sau, con trước
Vẽ bức hồi văn.
Lững chững Chị Hằng
Sắp rơi xuống nước.
Lướt mặt hồ thu,
Chuồn chuồn đạp nước,
Bay xuôi, bay ngược,
Dệt bức hồi văn
Quyết đỡ Chị Hằng
Khỏi rơi xuống nước.
Nhưng Chị Hằng trên điện Quảng Hàn
Thong dong dạo gót lối mây ngàn,
Hững hờ nào biết chuồn chuồn đã
Vì Chị cho nên nhọc cánh vàng.

Tặng Phạm Phú Dõng
“Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”
(Trương Kế)
Theo trăng bóng vạc về rừng,
Sương thu phủ kín mấy từng thành xưa.
Bến sông thuyền ngủ lưa thưa,
Tiếng chuông Diệu Đế gió đưa lại gần.

Tặng các bạn đồng sự toà Khâm sứ Huế
Trời không lạnh. Trăng không mờ.
Lòng em lạnh vì ngây thơ.
Không khí ái tình em chửa tắm
Em nhìn vũ trụ vẫn tiêu sơ.
Biết đâu chú Cuội mỉa mai
Rằng: “Người chừng ấy còn cài khoá xuân!”
Chàng Ngưu trên bãi sông Ngân
Cười rằng: “Chừng ấy, khoá xuân còn cài!”
Tuổi em tính đã hăm hai
Thân em. Chiếc bách dặm khơi bập bềnh.
Tim ta như sợi đời tranh
Trời sinh ra để đồng thanh với trời,
Với mây, với nước, với đời.
Những người phận hẩm là người ta yêu.

Nam Trân là một ngòi bút xuất sắc của làng thơ Việt Nam. Ông chuyên viết thơ phong cảnh về xứ Huế nơi ông đã có những tháng năm gắn bó. Ý thơ nhẹ nhàng, điệu thơ uyển chuyển. Ta nên để ý bài thơ này sáu câu trên thất ngôn mà bốn câu dưới lục bát. Thất ngôn tả vẻ thản nhiên của người đẹp, lục bát tả chút xao động trong lòng người thơ. một cảnh hai tình, nên thơ cũng một bài hai điệu. Hy vọng các bạn sẽ yêu thích bài viết này của chúng tôi. Cảm ơn các bạn rất nhiều!

Nam Trân cùng tập thơ Huế, Đẹp Và Thơ nổi tiếng nhất phần 2

Tặng Trương Xuân Mai
Phơi phới cặp áo màu
Đua cười với gió đông.
Cô Hồng thong dong hái
Một, hai, ba đoá hồng.
Bóng người lẫn bóng hoa
Hoa tươi, người thêm tươi.
Hoa đẹp, người đẹp hái,
Lòng đau miệng vẫn cười.
Thi sĩ với cô Hồng.
Cô Hồng với đoá hoa,
Gắn bó dây thân ái.
Đố ai dằng cho ra.

Sai hẹn em chẳng đến
Để anh xuôi, ngược trông.
Trông em nào có thấy,
Chỉ thấy cặp chim hồng.
Chim hồng lững thững bay,
Bay thấp rồi bay cao,
Bốn cánh liền như chắp,
Thân mật đã xiết bao!
Thấy hồng! Không thấy Hồng.
Ai gặp Hồng bảo cho
Rằng: “Trông Hồng chẳng thấy,
“Tấc dạ rối tơ vò.”

Tặng Vũ Kiều Hồng
Hôm qua em đến nhà anh,
Em ngồi em ngắm bức tranh, em cười.
Tranh tài thuốc vẽ thật tươi,
Hôm nay tranh nhạt cái cười độc chưa?
Khuynh thành, khuynh quốc,
Cười Tây Thi đánh đổ nước Ngô xưa.
Ai pha men mà quá say sưa
Khiến những khách tài hoa thừa ngơ ngẩn.
Sấn bước đường đời, lòng phấn chấn,
Theo làn môi thắm, dạ bâng khuâng.
Giết nhau chi độc vậy? Hỡi tình nhân?
Mượn sợi ái, dây ân cười lại trói.
Hỏi những đấng trượng phu trong ngũ hải:
“Nụ cười tình ai giỏi bỏ qua?”
Em cười, cá lặn, chim sa!

“Auention à la peinture!”
Tặng Mộng Trường Phạm Ngọc Bút
Trong một bức tranh: Người thiếu nữ
Chúm chím cười hoa, hoa ướm nở.
Hoạ sĩ đã thu biết bao thần
Vào tấm vải sơn. Dưới có chữ:
“Sơn còn ướt. Xin đứng xa
“Xem người cỡi hoa!”
Từ khi hoạ sĩ gởi tặng tôi,
Lạ hay! Đến nay sơn vẫn ướt!
Đứng xa, tôi ngắm nét đan thanh:
Áng tóc cô xanh dợn như nước.
Từ đó tôi nuôi một mối tình,
Mỗi khi nhàn hạ lại xem tranh.
Có khi vô ý đứng lại gần
Sực nhớ. Sơn ướt nên cẩn thận…
Biết bao mỹ nữ đẹp như tranh,
Như những bức tranh sơn còn ướt.

(Tặng anh tôi, Nguyễn Đình Nhiếp)
Khao khát đồng chiêm uống giọt sương,
Sương pha màu sữa dưới trăng mờ.
Lều tranh xám xịt bâu sườn núi
Sau dãy rào tre khúc rậm, sưa.
Gò cao. Vòi trúc, uốn thành cung,
Bắn… ồ cò non khóc lạnh lùng…
Khúc khuỷu, cánh giơi, dường mắc cửi,
Đưa qua, đưa lại khoảng không trung.
Như đứa trẻ con nhọc ngủ mê,
Làng ta yên lặng dưới trăng khuya,
Ấy giờ thần Mộng thông tin tức:
Những sự vui mừng, sự gớm ghê

Tặng Đoàn Phú Tứ
Mưa phùn bay xứ xứ
Pha lẫn đất, nước, trời.
Trông qua: hồ Lăng Bạc
Lồng lộng tựa bể khơi.
Ngọn gió lạnh, như roi.
Quấy mạnh vào hàng cây.
Trơ trơ đền Trần Quốc,
Lơ láo mấy ông thầy.
Hoảng hốt, một thân chim
Va ngay vào cánh cửa.
Nhà thắp đèn sáng choang,
Hẳn chim đi tìm lửa.
Lướt mướt trên lề đường,
Người lại với kẻ qua,
Miệng câm. Môi tê tái,
Lạnh ngắt một đàn ma.

Tặng Hoàng Khôi
Hát bài hát ngô nghê và êm ái,
Bên sườn non, mục tử cỡi trâu về,
Nắng chiều rây vàng bột xuống dân quê,
Lúa chín đỏ theo gió nồm sắp mái.
Trên suối nhỏ, chiếc cầu treo hẻo lánh
Tốp người qua, lẩy bẩy vịn thanh ngang
Lũ trẻ con sung sướng nổ cười vang
Đùa với bóng chảy theo giòng nước lạnh.
Dãy núi tím bỗng thay mầu xanh ngắt
Rồi ố làn trong giây khắc nhá nhem.
Âm thầm cảnh vật vào Đêm:
Vết ráng đỏ, tiếng còi xa cũng tắt.

Tặng thi sĩ Thế Lữ

Điếu thuốc đốt xong, anh để cháy,
Khói thơm lên nhẹ giữa phòng không.
Thản nhiên thuốc cháy vì anh bận
Nghĩ chuyện bâng quơ, chuyện viển vông.

Cửa hé thoảng đưa cơn gió mát,
Lửa loe. Hoảng hốt khói bay tung.
Trải qua phút ấm, bình tro lại
Quạnh quẽ chìm trong cảnh lạnh lùng.

Quay lại, mắt anh còn đắm đuối
Nào hay thuốc đã cháy bao giờ!

Em son, em đẹp, Anh lơ đễnh
Quên cuộc tình duyên, chỉ vẩn vơ.

Tặng Nguyễn Ân

Dù nắng, dù mưa, tôi cũng vẫn
Đem thân ra trước vũ đài.
Bước cao, bước thấp, dẵm bùn, gai
Bến sâu, từ từ lội,
Vực thẳm tiến rài rài.
Một chiếc lưới thần, tay bủa nhẹ:
Cá, tôm đua mắc, không sai!
Vợ tôi, lớn bé khen tôi tài.

Không tại sao giữ được
Thân thế một anh chài?
Nó còn ngồi đó, xin ông hỏi
Một trự chưa từng mượn đến ai!

Tặng các anh em hội viên hội “Quảng Tri” Huế
Trên chiếc máy bay đùa với gió.
Phi công đã vượt khỏi từng mây.
Cúi mặt xem: Những bể sóng, rừng cây
Chỉ thoảng thoảng vết xanh, đen, vàng, đỏ…
Nghĩ. “Trên mặt đất, cõi xa xăm đó,
“Đương chạy xuôi, chạy ngược biết bao người.”
Rồi cặp môi nhúm nửa nụ cười!
Xa địa giới ngẫm nhân gian nhiều việc nhỏ.
Rồi ngài để máy chặt mây, chém gió,
Hát vài câu như riêng ngỏ với trời.
Hát rằng:
“Nhắp cánh chim bay.
“Cỡi mây ta bay,
“Bay cao cho quá,
“Quá chín từng mây.
“Từng mây mạo hiểm xa bay
“Ta bay ta lánh người say mồi tiền.
“Bay cao cho thoả chí nguyền
“Nào ta có muốn để tên với đời.”
Máy kêu như sấm vang trời.
Hoá công nhường đã hiểu lời Phi công.

Tặng Phạm Phú Hàm
Muốn ngỏ ý cùng tình nhân vừa quen biết,
Thi sĩ non mài miệt với bài thơ.
Nào bằng, nào trắc, nào phá, nào thừa…
Mắt mơ mộng, chàng ngồi chờ Yên sĩ
Chờ Yên sĩ…! có phải đâu sự dễ:
Nàng thơ nào như các chị em xoàng!
Nàng vui chơi Bích thuỷ, Lam san
Để mặc khách bàn hoàn thơ với… thẩn.
Chàng nghĩ mãi, mồ hôi sa, chí phẫn,
Nõi nhớ nhung càng lận đận khôn khuây.
Mãi sau chỉ được câu này:
“Từ hôm kỳ ngộ đêm, ngày nhớ em”!

Tặng Trần Ngọc Liễn
“Lấy vợ không nên lấy vợ nhiều,
Một bà thôi cũng đủ thương yêu”
(Giòng nước ngược)
E m bảo rằng: “Anh có vợ rồi,
Một bà thôi cũng đủ… yêu. Thôi”
Ô hay! Quan niệm đã eo hẹp!
Chẳng biết tình anh tựa bể khơi.
Ai cấm ta yêu cả đất trời?
Yêu cơn gió mát, đoá hoa tươi?
Yêu sừng trăng bạc treo đầu núi?
Yêu cặp môi son điểm nụ cười
Viện tình do bước đến nơi:
Truy hoan chung cuộc, gặp người tình chung.
Về đi! Về với anh cùng.
Vườn xuân thêm được khóm hồng thêm xuê!
Thì cứ về đi! Ngại nỗi chi? cho
Đứng lên, ngồi xuống, mệt chưa tề!
Có đâu chẳng được phần âu yếm
Mà sợ về sau tiếng bấc, chì?
Ái tình: một mối huyễn vi.
Công đâu thị thị, phi phi nhọc lòng.
Trăng khuya ngấn bạc mây lồng,
Về đi! Kẻo chị ngồi trông canh chầy.

Tặng Trần Thanh Mại
Bỏ quách lối thơ xưa
Vì nó chẳng hợp thời.
Luật Đường xin gói lại
Đem trả chú con trời.
Ở thế giới cạnh tranh
Quốc văn cần giải phóng.
Khuôn khổ vứt đi, thôi!
Hoạt động dành lấy sống.
Chữ ít, ý tưởng nhiều,
Nhạc luật tuỳ tác giả.
Người hát cũng như chim:
Lắm điều hay và lạ.
Ta có sẵn ao ta.
Sao tắm mãi ao người?
Ta có nhiều vật liệu
Phong cảnh đẹp và tươi.
Chớ vịnh hồ Động Đình.
Chớ đề thơ núi Thái,
Chớ tả cảnh đâu đâu
Mắt ta chưa từng thấy.
Tính tình người An Nam
An nam còn ù tịt.
Các cụ, muốn loè đời,
Viết pho tâm sự chệch!
Bệu bạo khóc Tây Thi
Nghênh ngang cười Thái Bạch.
Ngũ Đế với Tam Hoàng.
Ý nghĩa! Ôi! Rỗng tuếch.
Theo mãi lối thơ Đường
Hỏng, hỏng đã thấy chưa?
Nhả ra, đừng nhai nữa
Những bà cặn còn lưa.

Tặng Phạm Hữu Khánh
Ai eng chè đậu doáng?
Ai eng đậu hảu không?
Ai eng hột dịt lộn?
Bánh ít ngọt? Xôi hông…?
Đến Faifao, khách lạ,
Ai nấy cũng dửng dưng:
Quảng Nam đất văn vật
Sao lắm bợm “eng hung”?
Eng hung và uống nhiều.
Thần Dạ dày muôn tuổi!
Đặc điểm có gì đâu?
Chè ngọt gia tí… muối.
Vì thế nên ngày xưa,
Thí sinh ra đất Huế,
Môn chữ càng được khen,
Môn “eng” càng bị chê.

Tặng Đoàn Nẫm
Nhiều duyên, em bán đông, đoài
Nhiều văn anh bán cho ai bây giờ!
Hôm nay, túi bạc xác vờ.
Đem văn anh đến đổi nhờ duyên em.
Hồn vơi phải buổi khát. thèm…
Tơ đồng rỉ tiếng trong đêm mơ mòng.
Khúc ca thấm tận đáy lòng:
Nát bàn âu cũng trong vòng Ái Ân.
Lấy chi báo đáp ân nhân?
Tiện đây xin tặng mấy vần thi ca.
Mai sau em đến tuổi già.
Bên đèn hãy lựa hát vài bốn câu:
Đũa tiên gạt đổ thành Sầu
Hăm người kỹ nữ nhạt mầu phấn hương.

Tặng Nguyễn Khoa Toàn
Ô mặt cầm trăng dạo khúc xưa
Thế mà bạn cũ vẫn thờ ơ,
Vẫn không hiểu thấu tình vô hạn
Của tiếng lòng tôi hoạ tiếng tơ.
Cầu bạn tôi dâng một quyển thơ
E rồi bạn cũng vẫn thờ ơ,
Vẫn không hiểu thấu tình âu yếm
Chan chứa lòng tôi, toả bến bờ.
Giòng chữ phải dâu gương phản chiếu
Tâm hồn Thi sĩ phút say sưa.
Chẳng qua phảng phất? Làn mây bạc
Một buổi hoàng hôn dưới nước mờ.

Kính tặng Lương Thúc Kỳ tiên sinh
I
Thuyền. Sóng cả.
Bá, Thúc:
Trúc.
Châu, Y:
Đi.
Vinh hoa,
Nhục nhã
Gì gì
Thuyền. Sóng cả.
Chiếc lá:
Đời người.
khóc?
Cóc
Cười!
II
Trầm – Trầm
Về đất đen,
Cùng đèn sáng.
Mối
Mây.
Ai quá hay?
Ai bợp tai?
Ai sáng? ư?
Thanh tư.
Tư thủ.
Hủ!

Tặng Trịnh Thống
Trong một ổ cây xanh và cỏ mướt:
Làng tôi mà đã mấy năm trời
Tôi chưa từng thấy lại và tôi
Muốn trở lại sống như ngày trước.
Hoặc những ngày trơn, không ký ức,
Buổi mai, trưa, chiều tối và khuya
Gần những người mộc mạc và chia
Với họ thú vui không chừng mực;
Hoặc những ngày đầy giọng ca, tiếng hát
Của gái quê lẫn khuất dưới ngàn dâu,
Của mục đồng sung sướng cỡi bầy trâu
Theo bờ suối buổi trời êm và mát;
Hoặc những ngày nặng nề, (nhưng may thay
Phần ít!) Người nhà nông tiều tụy ngắm mây xa,
Van vái trời cho nồm thổi, mưa sa
Để thoát nạn đồng khô và cỏ cháy,
Mỗi khi nhắc đến làng tôi, tôi nhớ
Cảnh êm đềm của cuộc dân sinh:
Trăng rằm lên, những cô gái xinh xinh
Vai gánh nước, miệng nhai trầu, lòng hớn hở.
Phải những phút hoàng hôn, buồn, tôi nhớ
Đến làng tôi và đến nhà tôi
Tôi ước mong sao được suốt đời
Nơi quê ấy với dân quê cùng ở.
Nhưng có lúc ta muốn ra đi, đi xa, đi mãi,
Đi, -không bao giờ trở lại-,
Trên đường đời dù khấp khểnh chông gai,
Dưới gầm trời mặc mưa dầu, nắng dãi.
Đi để đi, không mục đích,
Miễn là không thấy lại hai lần
Những cửa nhà, đồng ruộng, đám nhân dân
Quá điềm tĩnh, quá ư tịch mịch.
Ta muốn ra đi, vừa đi vừa hát
Như người điên. Nhưng nào có điên!
Chí hướng ta, nếu ta có, là sống liên miên
Trên quả đất hẹp, dưới bầu trời to tát.
Bạn ta, vì gia đình mạt sát,
Sống tầm thường giữa mẹ, vợ và con.
Tẩm bổ thân bằng thức ngọt, thức ngon…
Tinh thần lấm vì dăm pho sách nát.
Ta muốn lôi bạn ta đi, đi mãi,
Băng núi, vượt sông, không sợ hãi,
Không quan tâm đến sự sống ngày mai:
Cứng lý rằng trời sinh cỏ để nuôi voi.
Lắm lúc ta giận bạn ta u mê quá ngán:
Thích mặc áo hoa, ăn cơm sang, đi đường phẳng
Và nuôi to những nguyện vọng tầm thường,
Sát đất. Ôi! Nghĩ đến bạn, ta thương
Và khinh bỉ. Phải, ta thương và khinh bỉ
Bạn ta: Suốt một đời chỉ
Đọc những sách thường và biết
Đâu sách Tạo vật nhiệm mầu! Ta, ta quyết
Quên những bài ta học từ xưa
Những câu mà ngày trước ta say sưa…
Ta quên hẳn đi để màn óc ta mới mẻ,
Cổi lớp quặng xưa, trở nên trong và trẻ
Dễ đồng thanh với cảnh trí bầu trời:
Rừng sâu, bể thẳm, cây đẹp, hoa tươi.
Ta sẽ đứng đỉnh núi cao quanh năm tuyết phủ,
Hoặc gành đá xa quanh năm sóng vỗ,
Hát bài vô tư lự, bài ca tụng đấng Chí Linh
Mà gió khẽ đưa lên tận khoảng mông Mênh.
Tạo hóa sinh Ta. Ta sống vui cùng Tạo hóa.
Vật chất: Hư vô. Chẳng cóc gì quí cả
Ngoại linh hồn sáng suốt và trẻ trung
Bỏ Thời gian mà sống mãi với Vô cùng.

Tặng hương hồn Y sĩ Nguyễn Công Hoan
Kìa nay xuân khí một bầu,
Trăm hoa dệt gấm, cướp mầu tiên cung.
Hồn ra xúc cảm vô cùng
Dường nghe có tiếng hoa Hồng gọi ai:
Anh có yêu Hoa đứng lại đây
“Để cho Hoa tỏ mối can tràng
“Kẻo mai Hoa héo rồi Hoa rụng
“Anh có yêu Hoa cũng nhỡ nhàng.
“Thân Hoa: chút phấn, chút hương,
“Đời Hoa, ngày nắng đêm sương dãi dầu.
“Yêu Hoa nào có ai đâu?
“Ghét Hoa thế tục gán câu phong tình.
” Tủi lòng. Hoa phải làm thinh.
“Thế gian không kẻ biết mình. nói chi?
“Hoa là đẹp
“Đẹp là thi.
“Xin anh xét anh suy trong vu trụ:
“Nếu không Hoa vũ trụ có ra gì.
“Khoảng mênh mông rúng động sóng hồn thi;
“Hoa xếp cánh, hồn thi dần tiêu tán.
“Mạch thi ráo, mực thi hầu cạn,
“Phường thi gia ngao ngán nỗi sầu tây.
“Nếu anh yêu đoá Hoa này
“Thì anh chớ để đến ngày Hoa phai
Hương. Hồng sợ gió bay,
Cành. Hồng sợ gió lay,
Sắc Hồng như ủ dột
Trông từ ấy phải châu mày.
Biết Hồng có ta đây.
Yêu Hồng, Hồng nào biết
Xét đến tấm hình này.
Than thở xớt hay!
Gặp gỡ duyên may!
Xin rước Hồng về
Cùng ở hiên tây.
Hiên tây ta cắm đoá hoa Hồng.
Dưới bóng đêm khuya nghểnh mặt trông.
Thoang thoảng hương êm cùng sắc ấm
Thu về thư viện sóng thi hồn.
Hoa tàn nâng lấy đem chôn
Mượn lòng quyển sách giữ hồn cánh hoa.
Quyển vàng đến lúc giở ra,
Mùi hương sẽ gợi lòng ta mối tình

Năm xưa vui thú Sầm Sơn
Năm nay mới biết Sầm Sơn là buồn:
Bể trào, gió thét, mây tuôn,
Mảnh trăng tan tác, màn sương lờ mờ.
Nhớ năm nọ cùng ai lững thững
Tay bắt tay, lòng những dặn lòng.
Trời khuya, một chiếc trăng trong
Mây xa phơi phới bóng lồng thướt tha.
Cành sa mộc là là trước gió
Cái dã tràng mất tổ tìm quanh
Hai ta lòng nặng vì tình
Trót lời hải thệ, sơn mình đã nhiều.
Khách: nhan sắc mĩ miều, diễm lệ,
Vốn con dòng thì lễ trâm anh.
Phúc nhà bẩm tính thông minh,
Đã tinh nét hoạ lại sành câu thơ.
Tuổi hăm mốt, đào tơ đương mởn;
Anh trái xoan, dợn dợn sóng tình.
Nước thu, cặp mắt long lanh.
Đôi mày vòng nguyệt, núi xanh pha mầu.
Lại phong nhã, thanh cao tuyệt diệu.
Bậc ngũ âm đã chịu những ai?
Luật Đường là ngón đặc tài:
Có vài vịnh nguyệt, có vài vịnh hoa.
Đứng ngắm cảnh Yên ba Sầm hải:
Sóng bạch đầu qua, lại, xa, gần.
Hồn thơ lai láng bội phần
Phút đâu ứng khẩu mấy vần cổ thi.
Khiếp thay nhẽ! Sinh tri dường ấy
Khiếp mình quân nghe thấy kinh hoàng.
Nghĩ thầm: “Phát lộ dung quang
“Càng tài hoa lắm, càng oan trái nhiều.
Đầu núi đã đìu hiu gio thốc
Sư nhà chùa lần lượt chầu kinh.
Thoảng nghe mấy tiếng chày kềnh
Nam vô thâm niệm cho mình với ai.
Nỗi tâm sự tình dài, đêm vắng:
Sao đầu non, chiếc lặng, chiếc mờ.
Xuân tàm vướng chặt mối tơ
Keo sơn dường ấy bao giờ gỡ xong.
Rằng: “Nay được như lòng sở nguyện
“Gặp tình quân tại bến Sầm Sơn.
“Đục trong đã rõ nguồn cơn
“Câu thơ kim, cổ, khúc đờn cổ kim.
“Đường tri kỷ em tìm bước tới
“Ý trung nhân nay mới thấy đây.
Trời cho gặp buổi hôm nay
“Thân này kiếp trước tu đày lắm sao!
“Xin đất thấp, trời cao chứng thệ
“Với non xanh, với bể sóng cồn.
“Xin nguyền gửi mảnh linh hồn
“Cho người quân tử bảo tồn trăm năm.
“Nhớ từ mẫu ruột tằm đau quăn
“Nợ ái ân còn nặng bên vai!
“Hôm nay tạm rẽ đường mây
“Năm sau xin hẹn chốn này gặp nhau.”
Nghe lời nói như dao cắt ruột.
Ngọn gió hiu lạnh buốt đến xương.
Đếm làng hồi mõ tan sương,
Bác chài đẩy mạnh chiếc lườn ra khơi.
“Xin bái phục mấy lời tâm lý
“Đấng nam nhi hổ thỉ tang bồng
“Giã nhà theo cuộc đỉnh chung
“Lạ thay bãi bể là rừng đào nguyên.
“Chúc ngọc thể bình yên khương thái
“Cùng mẫu tử trọn lễ thần hôn.
“Đường xa gởi tặng mảnh hồn…
“Chút duyên nguyện với càn khôn lâu bền.
“Bạch tư mã bên thuyền ly phụ
“Bến Tầm Dương sương phủ ngàn lau…
“Mặt hoa càng tỏ nét sầu
“Lệ càng chan chứa ố màu áo xanh.
“Người kim, cổ nhưng tình vẫn một
“Cùng tài hoa khí cốt tinh anh.
“Ngẫu nhiên gặp bạn đồng thanh
“Lời quê khôn ta chút tình vấn vương.
“Sầm Sơn với Tầm dương dù khác,
“Nhưng vì hoa mới giạt cõi này
“Nghìn vàng há trị hôm nay
“Những lời tri kỷ biết ngày nào quê!”
Nay mới biết rằng duyên rằng phận
Nỗi biệt ly để bận lòng này.
Tâm riêng trường hận ai hay?
Mắt xanh mòn mỏi ngày dài hơn năm.
Sao vội dứt bóg, tăm, chim, cá?
Mối tình trường nấn ná bấy lâu.
Áng mây che dịp Lam Kiều
Trông trời chỉ thấy một màu bao la.
Đêm năm trước mười ba tháng bảy
Đêm hôm nay tháng bảy mười ba.
Trông quanh ta thấy bóng ta
Với làn sóng bạc như xa như gần.
Năm xưa vui thú Sầm Sơn
Năm nay mới biết Sầm Sơn là buồn:
Bể trào, gió thét, mây tuôn
Mảnh trăng tan tác, màn sương lờ mờ.

Qua bài viết này chúng ta cảm nhận được Nam Trân là một nhà thơ yêu Huế và ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng nơi đây. Thiết tưởng vị tình láng giềng đất Quảng Nam không thể gửi ra xứ Huế món quà nào quý hơn nữa: lần thứ nhất những vẻ đẹp xứ này được diễn ra thơ. Những bài thơ của ông để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc nhất là những người con xứ Huế thân thương. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Xem Thêm:

Nhà thơ Nam Trân và trọn bộ những bài thơ dịch đặc sắc nhất phần 1

勝日尋芳泗水濱,
無邊光景一時新。
等閒識得東風面,
萬紫千紅總是春。

Xuân nhật

Thắng nhật tầm phương Tứ thuỷ tân,
Vô biên quang cảnh nhất thời tân.
Đẳng nhàn thức đắc đông phong diện,
Vạn tử thiên hồng tổng thị xuân.

Dịch nghĩa

Ngày đẹp trời đi tìm hoa thơm cỏ lạ đến bến sông Tứ,
Quang cảnh lớn rộng đâu đâu bây giờ cũng mới mẻ.
Có thảnh thơi mới nhận thức được mặt gió đông,
Vạn tía ngàn hồng gộp lại làm mùa xuân.

洞房昨夜停紅燭,
待曉堂前拜舅姑。
妝罷低聲問夫婿,
畫眉深淺入時無?

Khuê ý – Cận thí thướng Trương thuỷ bộ

Động phòng tạc dạ đình hồng chúc,
Đãi hiểu đường tiền bái cữu cô.
Trang bãi đê thanh vấn phu tế:
“Hoạ mi thâm thiển, nhập thì vô?”

Dịch nghĩa

Đêm trước khi động phòng, tắt ngọn nến hồng
Đợi đến sáng lên nhà chào mẹ cha
Trang điểm xong quay lại hỏi nhỏ chồng:
“Tô lông mày thế này đậm hay nhạt?”

Dịch

Phòng hoa vừa tắt ngọn đèn hồng,
Chờ sáng lên thăm bố mẹ chồng.
Mày kẻ vừa xong, khe khẽ hỏi:
“Anh xem sẫm nhạt, hợp thời không ?”


万里奇游,饥寒之国。
闻说道:“胡天八月雪”,
可也只萧萧秋意,依依寒色;
只有那赤都云影,掩没了我“东方月”。

月圆月缺人离别,
人离别,长相忆。
万古“中秋”,未入欧人诗思词说。
原万族共“婵娟”,但愿“婵娟”年千亿。

又何必,人相念,月相望,细问太阴历?
欧亚梦影,灯前不堪回忆,
独恨那凝云俺映,希冀一线俱绝。

秋原黄叶,才领略别离滋味,
怎知道,有灾〓流乱,更饥寒万时里。
只听那琐碎的蹄声,凄凉的雨意,
催嫦娥强现半面,掩云幕,永诀矣!

Dịch

1
Chuyến đi vạn dặm li kỳ
Nước này đói rét
Nghe nói “Trời xứ Hồ
Tháng tám đầy tuyết”
Nhưng đó mới ý thu buồn
một màu lạnh ngắt
Chỉ ở Xích đô này
mây che mất “đông phương nguyệt”
2
Trăng tròn, trăng khuyết
người li biệt
Người li biệt
nhớ nhung khôn xiết
Muôn thuở “trung thu”
Tứ thơ này, người Âu chưa biết
Muôn dân tộc đều “thuyền quyên”
chỉ ước “thuyền quyên” trẻ mãi
3
Người nhớ trăng, trăng nhớ người
cần gì giở xem âm lịch
Âu, Á, Hoa, Nga
trời tình thắm thiết
Mộng tưởng sum vầy
dưới đèn nghĩ càng da diết
Chỉ giận mây che ánh sáng
một tia trông vời biền biệt
4
Thu có nhuốm vàng
mới có màu li biệt
Sao biết có tai nạn lưu li
dặm nghìn đói rét
Chỉ nghe tiếng vó ngựa rã rời
tiếng mưa rả rích
Giục gương nga ló nửa vành
cùng đám mây mùa vĩnh biệt

Les vagues furieuses de la liberté
Claquent sur la Bête affolée
De l’esclave d’hier un combattant est né
Et le docker de Suez et le coolie d’Hanoï
Tous ceux qu’on intoxique de fatalité
Lancent leur chant immense au milieu des vagues
Les vagues furieuses de la liberté
Qui claquent sur la Bête affolée.

Dịch

Những làn sóng Tự do đang sục sôi, nhào lộn
Xoắn lấy nhau, bổ đầu lũ thú dữ điên cuồng
Những nô lệ đã vùng lên thành chiến sĩ anh hùng!
Nào người khuân vác ở Xuy-ê
Nào người công nhân ở Hà Nội
Những người trước đây bị đầu độc, sống cầu an
Họ thân ái hát lên bài ca vĩ đại
Và đắc thắng, lời ca trên sóng trào, lượn mãi
Và làn sóng Tự do cứ sục sôi, nhào lộn
Xoắn lấy nhau, bổ vào đầu lũ thú dữ điên cuồng.

Nhe hàm răng trắng như ngà
Ông anh nhoẻn nụ cười giả đạo đức
Kính ông anh đeo gọng vàng sáng rực
Và vì nói tiếng Tây, tiếng của chủ mình
Mắt ông anh cũng hoá ra xanh
Ông anh mặc áo xa-tanh
May kiểu đuôi xẻ
Ngồi ung dung trong xa-lông đẹp đẽ
Vênh vênh váo váo ra vẻ hợm mình
Này, chúng tao biết mi thật đáng thương
Và biết rằng vầng Thái-dương
Của Tổ quốc không rọi lên mi ánh sáng
Mà trùm lên mi một bóng đen hắc ám
Giá nghĩ bà mi đang chui rúc trong lều
Ắt hẳn mặt mi sẽ bừng bừng đỏ
Nhưng vì bao năm sống phục tùng không biết hổ
Người mi đã hoá thằng Tây
Khi nào đã ngấy lời rỗng không, vô bổ
(Nó vang lên như chiếc trống giữa hai vai)
Khi nào đi trên đất nước khổ đau
Của Châu Phi màu đỏ
Mi sẽ đi những bước bồi hồi
Chân bước đi, mồm cứ lặp hoài:
“Ôi, thân ta thật là đơn độc!
“Ở đây ta thật là đơn độc!

長安回望繡成堆,
山頂千門次第開。
一騎紅塵妃子笑,
無人知是荔枝來。

Quá Hoa Thanh cung kỳ 1

Trường An hồi vọng tú thành đồi,
Sơn đính thiên môn thứ đệ khai.
Nhất kỵ hồng trần phi tử tiếu,
Vô nhân tri thị lệ chi lai!

Dịch nghĩa

Quay lại trông Trường An như gò thêu gấm
Trên đỉnh núi, nghìn cửa lần lượt mở ra
Một người cỡi ngựa tung bụi hồng, Quý Phi mỉm cười
Không ai biết ấy là quả vải đã tiến về cung.

Dịch

Ngoảnh lại Trường An tựa gấm thêu
Đầu non nghìn cửa mở liền nhau
Bụi hồng ngựa ruổi, phi cười nụ
Vải tiến mang về ai biết đâu.

新豐綠樹起黃埃,
數騎漁陽探使迴。
霓裳一曲千峰上,
舞破中原始下來。

Quá Hoa Thanh cung kỳ 2

Tân Phong lục thụ khởi hoàng ai,
Sổ kỵ Ngư Dương thám sứ hồi.
“Nghê thường” nhất khúc thiên phong thượng,
Vũ phá trung nguyên thuỷ há lai.

Dịch nghĩa

Bụi vàng tung bay trên đường cây xanh ở Tân Phong,
Do ngựa của quân thám báo từ Ngư Dương chạy hoả tốc về.
Vũ khúc “Nghê thường” vẫn đang được múa trên đỉnh núi cao.
Ca múa giúp giặc bắt đầu tràn xuống chiếm đóng trung nguyên.

萬國笙歌醉太平,
倚天樓殿月分明。
雲中亂拍祿山舞,
風過重巒下笑聲。

Quá Hoa Thanh cung kỳ 3

Vạn quốc sinh ca tuý thái bình,
Ỷ thiên lâu điện nguyệt phân minh.
Vân trung loạn phách Lộc Sơn vũ,
Phong quá trùng loan hạ tiếu thanh.

Dịch nghĩa

Cả nước say đàn ca vui hưởng thái bình,
Trăng sáng soi cung điện được ơn trời phù hộ.
Trong mây mọi người cuồng nhiệt vỗ tay cho Lộc Sơn múa,
Gió đưa tiếng cười đùa xuống tới chân núi.

遠上寒山石徑斜,
白雲生處有人家。
停車坐愛楓林晚,
霜葉紅於二月花。

Sơn hành

Viễn thướng hàn sơn thạch kính tà,
Bạch vân sinh xứ hữu nhân gia.
Đình xa toạ ái phong lâm vãn,
Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa.

Dịch nghĩa

Lên ngọn núi, đường đá chênh chênh,
Giữa nơi lửng lơ mây trắng có nhà người ở.
Dừng xe vì yêu cảnh rừng phong buổi chiều,
Lá gặp sương thu, mầu đỏ hơn cả hoa tháng hai.

多情卻似總無情,
唯覺樽前笑不成。
蠟燭有心還惜別,
替人垂淚到天明。

Tặng biệt kỳ 2

Đa tình khước tự tổng vô tình,
Duy giác tôn tiền tiếu bất thành.
Lạp chúc hữu tâm hoàn tích biệt,
Thế nhân thuỳ lệ đáo thiên minh.

Dịch nghĩa

Đa tình mà lại giống như vô tình,
Chỉ cảm thấy trước chén rượu muốn cười mà không được.
Ngọn nến có lòng thương tiếc lúc chia tay,
Nên thay người nhỏ lệ đến tận sáng.

Dịch

Đa tình mà lại giống vô tình,
Đâu dễ khuây nguôi trước chén quỳnh.
Ngọn nến có lòng còn luyến tiếc,
Thay người nhỏ lệ suốt năm canh.

清明時節雨紛紛,
路上行人欲斷魂。
借問酒家何處有?
牧童遙指杏花村。

Thanh minh

Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu?
Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.

Dịch nghĩa

Tiết thanh minh mưa rơi lất phất
Người đi trên đường buồn tan nát cả tấm lòng
Ướm hỏi nơi nào có quán rượu
Trẻ chăn trâu chỉ xóm Hoa Hạnh ở đằng xa

Dịch

Thanh minh lất phất mưa phùn
Khách đi đường thấm nỗi buồn xót xa
Hỏi thăm quán rượu đâu à?
Mục đồng chỉ lối Hạnh Hoa thôn ngoài.

折戟沉沙鐵未銷,
自將磨洗認前朝。
東風不與周郎便,
銅雀春深鎖二喬。

Xích Bích hoài cổ

Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu,
Tự tương ma tẩy nhận tiền triều.
Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều.

Dịch nghĩa

Mũi kích gãy nằm trong cát, sắt chưa mòn hết,
Tự tay mình mài rũa, đã nhận thấy dấu vết triều đại vừa qua.
Gió đông ví không thuận tiện cho chàng Chu Du,
Thì cảnh xuân thâm nghiêm của đài Đồng Tước đã khoá chặt hai nàng Kiều

Dịch

Cát vùi lưỡi kích còn trơ,
Rũa mài nhận dấu triều xưa rõ ràng
Gió đông ví phụ Chu Lang
Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều

去歲曾經此縣城,
縣民無口不冤聲;
今來縣宰加朱紱,
便是生靈血染成。

Tái kinh Hồ Thành huyện

Khứ tuế tằng kinh thử huyện thành,
Huyện dân vô khẩu bất oan thanh.
Kim lai huyện tể gia chu phất,
Tiện thị sinh linh huyết nhiễm thành.

Dịch nghĩa

Năm ngoái ta từng đi qua huyện này
Không miệng người dân nào không cất tiếng kêu oan
Năm nay quan huyện lại được thưởng dây tua đỏ
Hẳn là do máu dân lành nhuộm nên

Dịch

Năm ngoái ta đi khắp huyện này,
Tiếng oan dậy đất não nùng thay.
Nay quan được thưởng dây tua đỏ,
Chính máu dân lành nhuộm đỏ dây.

勸君莫惜金縷衣,
勸君惜取少年時。
花開堪折直須折,
莫待無花空折枝。

Kim lũ y

Khuyến quân mạc tích kim lũ y,
Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì.
Hoa khai kham chiết trực tu chiết,
Mạc đãi vô hoa không chiết chi.

Dịch nghĩa

Khuyên anh đừng tiếc áo thêu vàng,
Khuyên anh hãy tiếc thời niên thiếu:
Hoa nở đáng bẻ thì bẻ ngay,
Đừng chờ hoa rụng bẻ cành không.

雞唱三聲天欲明,
安排飯碗與茶瓶。
良人猶怒催耕早,
自扯蓬窗看曉星。

Điền gia

Kê xướng tam thanh thiên dục minh,
An bài phạn uyển dữ trà bình.
Lương nhân do nộ thôi canh tảo,
Tự xả bồng song khan hiểu tinh.

法本如無法,
非有亦非空。
若人知此法,
眾生與佛同。

Đáp Lý Thái Tông tâm nguyện chi vấn kỳ 1

Pháp bản như vô pháp,
Phi hữu diệc phi không.
Nhược nhân tri thử pháp,
Chúng sinh dữ Phật đồng.

Dịch nghĩa

Thế giới hiện tượng vốn như không có,
Chẳng phải là có, cũng chẳng phải là không.
Nếu người ta hiểu được cái nguyên lý ấy,
Thì chúng sinh cũng đồng nhất với Phật.

寂寂棱伽月,
空空渡海舟。
知空空覺有,
三昧任通週。

Đáp Lý Thái Tông tâm nguyện chi vấn kỳ 2

Tịch tịch Lăng Già nguyệt,
Không không độ hải chu
Tri không, không giác hữu,
Tam muội nhậm thông chu.

Dịch nghĩa

Lặng lẽ như vầng trăng trên núi Lăng Già,
Hư không như con thuyền vượt biển.
Biết đúng cái không thì cái không hoá ra cái có,
Và sẽ mặc ý mà đi suốt và đi khắp tam muội.

Dịch

Lặng như vầng nguyệt núi Lăng Già,
Hư tựa con thuyền vượt sóng ra.
Biết cả lẽ “không” và lẽ “có”,
Lại dùng “tam muội” hiểu sâu xa.

萬里清江萬里天,
一村桑柘一村煙。
漁翁睡著無人喚,
過午醒來雪滿船。

Ngư nhàn

Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên,
Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên.
Ngư ông thuỵ trước, vô nhân hoán,
Quá ngọ tỉnh lai, tuyết mãn thuyền.

Dịch nghĩa

Sông xanh muôn dặm, trời muôn dặm,
Một xóm dâu gai, xóm khói mây.
Ông chài ngủ say tít không ai gọi,
Quá trưa tỉnh dậy, tuyết xuống đầy thuyền.

Dịch

Vạn dặm sông xanh, trời vạn dặm,
Từng miền dâu ruối, khói quanh miền.
Ông chài ngon giấc không ai gọi,
Tỉnh dậy sau trưa, tuyết ngậm thuyền.

唧唧復唧唧,
木蘭當戶織,
不聞機杼聲,
惟聞女歎息。
問女何所思,
問女何所憶。
女亦無所思,
女亦無所憶。
昨夜見軍帖,
可汗大點兵;
軍書十二卷,
卷卷有爺名。
阿爺無大兒,
木蘭無長兄,
願為市鞍馬,
從此替爺征。
東市買駿馬,
西市買鞍韉,
南市買轡頭,
北市買長鞭。
旦辭爺孃去,
暮宿黃河邊,
不聞爺孃喚女聲,
但聞黃河流水聲濺濺。
旦辭爺孃去,
暮宿黑山頭,
不聞爺孃喚女聲,
但聞燕山胡騎聲啾啾。
萬里赴戎機,
關山度若飛,
朔氣傳金柝,
寒光照鐵衣。
將軍百戰死,
壯士十年歸。
歸來見天子,
天子坐明堂,
策勳十二轉,
賞賜百千強。
可汗問所欲,
「木蘭不用尚書郎,
願借明駝千里足,
送兒還故鄉。」
爺孃聞女來,
出郭相扶將;
阿姊聞妹來,
當戶理紅妝;
小弟聞姊來,
磨刀霍霍向豬羊。
開我東閣門,
坐我西閣床;
脫我戰時袍,
著我舊時裳;
當窗理雲鬢,
對鏡貼花黃。
出門看伙伴,
伙伴皆驚惶:
同行十二年,
不知木蘭是女郎!
雄兔腳撲朔,
雌兔眼迷離,
兩兔傍地走,
安能辨我是雄雌?

Mộc Lan từ

Tức tức phục tức tức,
Mộc Lan đương hộ chức,
Bất văn cơ trữ thanh,
Duy văn nữ thán tức.
Vấn nữ hà sở tư,
Vấn nữ hà sở ức.
Nữ diệc vô sở tư,
Nữ diệc vô sở ức.
Tạc dạ kiến quân thiếp,
Khả hãn đại điểm binh;
Quân thư thập nhị quyển,
Quyển quyển hữu gia danh.
A gia vô đại nhi,
Mộc Lan vô trưởng huynh,
Nguyện vi thị yên mã,
Tòng thử thế gia chinh.
Đông thị mãi tuấn mã,
Tây thị mãi yên tiên,
Nam thị mãi bí đầu,
Bắc thị mãi trường tiên.
Đán từ gia nương khứ,
Mộ túc Hoàng hà biên,
Bất văn gia nương hoán nữ thanh,
Đãn văn Hoàng hà lưu thuỷ thanh tiễn tiễn.
Đán từ gia nương khứ,
Mộ túc Hắc sơn đầu,
Bất văn gia nương hoán nữ thanh,
Đãn văn Yên sơn Hồ kỵ thanh thu thu.
Vạn lý phó nhung cơ,
Quan sơn độ nhược phi,
Sóc khí truyền kim thác,
Hàn quang chiếu thiết y.
Tướng quân bách chiến tử,
Tráng sĩ thập niên quy.
Quy lai kiến thiên tử,
Thiên tử toạ minh đường,
Sách huân thập nhị chuyển,
Thưởng tứ bách thiên cường.
Khả hãn vấn sở dục,
“Mộc Lan bất dụng thượng thư lang,
Nguyện tá minh đà thiên lý túc,
Tống nhi hoàn cố hương.”
Gia nương văn nữ lai,
Xuất quách tương phù tương;
A tỷ văn muội lai,
Đương hộ lý hồng trang;
Tiểu đệ văn tỷ lai,
Ma đao hoắc hoắc hướng trư dương.
Khai ngã đông các môn,
Toạ ngã tây các sàng;
Thoát ngã chiến thì bào,
Trước ngã cựu thì thường;
Đương song lý vân mấn,
Đối kính thiếp hoa hoàng.
Xuất môn khán hoả bạn,
Hoả bạn giai kinh hoàng:
Đồng hành thập nhị niên,
Bất tri Mộc Lan thị nữ lang!
Hùng thố cước phác sóc,
Thư thố nhãn mê ly,
Lưỡng thố bàng địa tẩu,
An năng biện ngã thị hùng thư?

Dịch

Than thở lại thở than,
Mộc Lan dệt bên cửa.
Không nghe tiếng thoi đưa
Chỉ nghe cô than thở.
Phải chăng buồn vì lo,
Phải chăng buồn vì nhớ?
Không phải buồn vì lo,
Không phải buồn vì nhớ.
Đêm qua nhìn quân thiếp
Biết có lệnh trưng binh.
Danh sách mười hai tập,
Đều ghi tên bố mình.
Bố không con trai lớn,
Mộc Lan không có anh.
Cô quyết mua yên ngựa,
Thay bố đi tòng chinh.
Mua ngựa ở chợ Đông,
Mua yên ở chợ Đoài,
Chợ Nam mua cương khớp,
Chợ Bắc mua roi dài.
Biệt mẹ cha buổi sớm,
Tối cạnh Hoàng Hà ngơi.
Chẳng nghe tiếng mẹ cha gọi con gái,
Chỉ nghe Hoàng Hà sóng nước thét hoài.
Biệt Hoàng Hà buổi sớm,
Tối đến Hắc Sơn ngơi.
Chẳng nghe tiếng mẹ cha gọi con gái,
Chỉ nghe Yên Sơn ngựa giặc hí vang trời.
Muôn dặm xông ra trận,
Quan ải vụt bay đi.
Mõ đồng rền chướng khí,
Trăng lạnh rọi nhung y.
Trăm trận tướng quân chết,
Mười năm tráng sĩ về.
Về bái yết thiên tử,
Thiên tử ngồi minh đường.
Xét thưởng hai mươi bậc,
Ban cho trăm ngàn vàng.
Vua dò hỏi ý muốn
“Mộc Lan không nhận chức quan sang,
Chỉ xin thiên lý mã,
Đưa về với cố hương”.
Mẹ cha nghe tin ấy,
Ra thành đón con về.
Chị cô nghe tin ấy,
Sửa soạn chốn buồng the.
Em trai nghe tin ấy,
Mài dao soàn soạt mổ bò dê.
Cô mở cửa gác Đông,
Cô ngồi giường gác Tây.
Cởi bỏ bộ quân phục,
Mặc xiêm áo thường ngày.
Bên song sửa mái tóc,
Hoe vàng ngắm gương cài.
Ra cửa thăm bè bạn,
Bạn bè thảy ngạc nhiên:
“Mười hai năm đồng ngũ,
Ngờ đâu gái giả trai!”
Thỏ đực chân mấp máy,
Thỏ cái mắt mê tơi.
Cặp thỏ song song chạy,
Nhận ra ta đực cái mới tài.

此地別燕丹,
壯士髮衝冠。
昔時人已沒,
今日水猶寒。

Dịch thuỷ tống biệt

Thử địa biệt Yên Đan,
Tráng sĩ phát xung quan.
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thuỷ do hàn.

Dịch nghĩa

Nơi đây khi từ biệt Thái tử Đan nước Yên
Tóc tráng sĩ dựng đứng lên sát mũ
Người xưa đã khuất rồi
Nước sông Dịch ngày nay còn giá lạnh.

Dịch

Nơi này biệt Yên Đan,
Tráng sĩ tóc dựng ngược.
Người xưa đã khuất rồi,
Nước sông còn lạnh buốt.

西陸蟬聲唱,
南冠客思深。
不堪玄鬢影,
來對白頭吟。
露重飛難進,
風多響易沉。
無人信高潔,
誰為表予心?

Tại ngục vịnh thiền

Tây lục thiền thanh xướng,
Nam quan khách tứ thâm.
Bất kham huyền mấn ảnh,
Lai đối bạch đầu ngâm.
Lộ trọng phi nan tiến,
Phong đa hưởng dị trầm.
Vô nhân tín cao khiết,
Thuỳ vị biểu dư tâm?

Dịch nghĩa

Mùa thu ve sầu kêu,
Người tù nghĩ ngợi sâu xa.
(Ve) không kham nổi bóng đôi cánh đen của mình,
(nên) đến ngâm trước (ông già) đầu bạc.
Sương nặng, (ve) bay khó tiến,
Gió nhiều, tiếng vang dễ bị chìm.
Không ai tin điều cao khiết,
Còn ai bày tỏ hộ nỗi lòng ta?

Dịch

Thu đến, ve kêu tiếng
Trong lao khách nhớ nhà
Xót xa khi cánh mỏng
Than vãn trước đầu phơ
Sương nặng bay khôn nổi
Gió to giọng dễ nhòa
Thanh cao không kẻ biết
Ai ngỏ giúp lòng ta?

Nam Trân không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng mà còn là một nhà dịch giả vang danh với những bài thơ dịch nổi tiếng trên thế giới được bạn đọc yêu mến. Đọc bài viết chúng ta thêm phần ngưỡng mộ tài năng của ông bởi không có nhiều nhà thơ có sự am hiểu ngôn ngữ như vậy. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Nhà thơ Nam Trân và trọn bộ những bài thơ dịch đặc sắc nhất phần 2

山外青山樓外樓,
西湖歌舞幾時休?
暖風熏得遊人醉,
直把杭州作汴州。

Đề Lâm An để

Sơn ngoại thanh sơn, lâu ngoại lâu,
Tây Hồ ca vũ kỷ thời hưu?
Noãn phong huân đắc du nhân tuý,
Trực bả Hàng Châu tác Biện Châu.

Dịch nghĩa

Núi xanh trùng điệp, lầu tầng tầng lớp lớp,
Bên Tây Hồ tiếng ca múa có khi nào ngớt chăng?
Gió ấm thổi làm say lòng khách,
Cứ ngỡ rằng Hàng Châu là Biện Châu.

Dịch

Lớp lớp non xanh, lớp lớp lầu
Tây Hồ múa hát đến bao lâu?
Gió êm đã ngấm say lòng khách
Dám bảo Hàng Châu cũng Biện Châu

朔風千里驚,
漢月五更青。
縱有還家夢,
猶聞出塞聲。

Tòng quân hành

Sóc phong thiên lý kinh,
Hán nguyệt ngũ canh thanh.
Túng hữu hoàn gia mộng,
Do văn xuất tái thanh.

Dịch nghĩa

Gió bấc thổi qua ngàn dặm lạnh ghê người
Trăng đất Hán suốt năm canh trong sáng
(Người lính thú đóng nơi biên ải) dù có được giấc mơ quay về nhà
Thì lại nghe thấy tiếng truyền phải đi ra cửa ải

Dịch

Bắc phong ngàn dặm ghê người,
Vầng trăng đất Hán sáng ngời năm canh.
Về quê, dù giấc mộng thành,
Vẫn cần nghe lệnh xuất binh cửa ngoài.

千山鳥飛絕,
萬徑人蹤滅。
孤舟簑笠翁,
獨釣寒江雪。
Giang tuyết
Thiên sơn điểu phi tuyệt,
Vạn kính nhân tung diệt.
Cô chu thoa lạp ông,
Độc điếu hàn giang tuyết.
Dịch nghĩa
Giữa ngàn non, chim bay tắt bóng
Trên đường muôn ngả, dấu người vắng tanh
Thuyền trơ trọi, ông già nón lá áo tơi
Một mình ngồi thả câu trong tuyết trên sông lạnh

Dịch

Ngìn non, bóng chim tắt
Muôn nẻo, dấu người không
Thuyền đơn, ông tơi nón
Một mình câu tuyết sông.

對蕭蕭暮雨灑江天,
一番洗清秋,
漸霜風淒緊,
關河冷落,
殘照當樓。
是處紅衰綠減,
冉冉物華休。
惟有長江水,
無語東流。
不忍登高臨遠,
望故鄉渺邈,
歸思難收。
歎年來蹤跡,
何事苦淹留?
想佳人、妝樓長望,
誤幾回、天際識歸舟。
爭知我、倚欄杆處,
正恁凝愁。

Bát thanh Cam Châu

Đối tiêu tiêu mộ vũ sái giang thiên,
Nhất phiên tẩy thanh thu,
Tiệm sương phong thê khẩn,
Quan hà lãnh lạc,
Tàn chiếu đương lâu.
Thị xứ hồng suy lục giảm,
Nhiễm nhiễm vật hoa hưu.
Duy hữu Trường Giang thuỷ,
Vô ngữ đông lưu.
Bất nhẫn đăng cao lâm viễn,
Vọng cố hương diểu mạc,
Quy tứ nan thu.
Thán niên lai tung tích,
Hà sự khổ yêm lưu?
Tưởng giai nhân, trang lâu trường vọng,
Ngộ kỷ hồi, thiên tế thức quy chu.
Tranh tri ngã, ỷ lan can xứ,
Chính nhẫm ngưng sầu.

Dịch

Nhìn mưa chiều sầm sập xuống sông,
Một phen gột rửa trời thu,
Dần gió gào sương lạnh,
Núi sông tẻ ngắt,
Bóng xế ngang lầu.
Khắp nơi hồng rơi lục rụng,
Cảnh vật đã phai màu.
Chỉ có con sông Dương Tử,
Về đông lặng chảy làu làu.
Không nỡ lên cao trông với,
Nhìn quê xưa vời vợi,
Nỗi nhớ rầu rầu.
Ôi! Bao năm phiêu bạt,
Quê người chạnh nỗi buồn đau.
Người đẹp tựa lầu xa ngóng,
Tưởng thuyền về, lầm trước lẫn sau.
Biết đâu nơi lan can đứng tựa,
Lòng ta chung một mối sầu.

靈臺無計逃神矢,
風雨如磐暗故園。
寄意寒星荃不察,
我以我血荐軒轅。

Tự đề tiểu tượng

Linh đài vô kế đào thần thi,
Phong vũ như bàn ám cố viên.
Ký ý hàn tinh thuyên bất sát,
Ngã dĩ ngã huyết tiến hiên viên

Dịch

Con tim khôn tránh mũi tên thần
Vườn cũ mưa tuôn lại gió vần
Dù tấm lòng son trên chửa thấu
Ta đem máu đỏ hiến nhân dân

寒蟬淒切,
對長亭晚,
驟雨初歇。
都門帳飲無緒。
留戀處、
蘭舟催發。
執手相看淚眼,
竟無語凝噎。
念去去。
千里煙波,
暮靄沉沉楚天闊。
多情自古傷離別,
更那堪、
冷落清秋節!
今宵酒醒何處?
楊柳岸、
曉風殘月。
此去經年,
應是良辰。
好景虛設。
便縱有千種風情,
更與何人說?

Vũ lâm linh

Hàn thiền thê thiết,
Đối trường đình vãn,
Sậu vũ sơ yết.
Đô môn trướng ẩm vô tự.
Lưu luyến xứ,
Lan chu thôi phát.
Chấp thủ tương khan lệ nhãn,
Cánh vô ngữ ngưng ế.
Niệm khứ khứ.
Thiên lý yên ba,
Mộ ái trầm trầm Sở thiên khoát.
Đa tình tự cổ thương ly biệt,
Cánh na kham,
Lãnh lạc thanh thu tiết!
Kim tiêu tửu tỉnh hà xứ?
Dương liễu ngạn,
Hiểu phong tàn nguyệt.
Thử khứ kinh niên,
Ưng thị lương thần,
Hảo cảnh hư thiết.
Tiện túng hữu thiên chủng phong tình,
Cánh dữ hà nhân thuyết?

Dịch nghĩa

Ve lạnh kêu buồn thảm,
Trước trường đình lúc trời tối,
Mưa rào vừa tạnh.
Tiệc rượu tiễn đưa nơi cửa thành, không gỡ được mối sầu.
Đang lúc lưu luyến,
Thuyền lan giục giã ra đi.
Nắm tay nhìn nhau, mắt rưng rưng lệ,
Rồi không nói nghẹn ngào.
Nghĩ người ra đi,
Khói sóng trải dài ngàn dặm,
Mây chiều man mác, trời Sở bao la.
Kẻ đa tình xưa nay vẫn buồn chuyện biệt ly,
Lại chịu thêm sao nổi,
Tiết thu lạnh hiu hắt.
Đêm nay khi tỉnh rượu sẽ ở nơi nào?
Bờ dương liễu,
Gió sớm trăng tàn.
Từ nay năm này qua năm khác,
Hẳn là tiết lành,
Hay cảnh đẹp thì cũng thấy trống rỗng mà thôi.
Dù cho có ngàn loại phong tình,
Cũng biết thổ lộ cùng ai được?

Dịch

Tiếng ve thảm thiết,
Quan trạm chiều tà,
Trận mưa vừa dứt.
Ngoài thành rượu tiễn khôn khuây,
Đang lưu luyến,
Dưới thuyền vội giục,
Tay nắm, mắt nhìn, lệ nhỏ,
Chưa nói ra đã ngắt.
Người đi,
Sóng khói dặm nghìn,
Trời Sở mây chiều thêm bát ngát.
Khách đa tình vốn đau lòng ly biệt,
Lại khổ nỗi,
Lúc trời thu trong mát,
Đêm nay tỉnh rượu nơi nao?
Bến liễu,
Lúc trăng tàn, gió rét!
Biền biệt ra đi!
Thôi, cảnh đẹp ngày vui ấy,
Lời rỗng tuếch.
Sau dù có trăm mối chung tình,
Khôn ngỏ cùng ai biết?

黃金錯刀白玉裝,
夜穿窗扉出光芒。
丈夫五十功未立,
提刀獨立顧八荒。
京華結交盡奇士,
意氣相期共生死。
千年史策恥無名,
一片丹心報天子。
爾來從軍天漢濱,
南山曉雪玉嶙峋。
嗚呼!楚雖三戶能亡秦,
豈有堂堂中國空無人!

Kim thác đao hành

Hoàng kim thác đao bạch ngọc trang,
Dạ xuyên song phi xuất quang mang.
Trượng phu ngũ thập công vị lập,
Đề đao độc lập cố bát hoang.
Kinh hoa kết giao tận kỳ sĩ,
Ý khí tương kỳ cộng sinh tử.
Thiên niên sử sách sỉ vô danh,
Nhất phiến đan tâm báo thiên tử.
Nhĩ lai tòng quân thiên Hán Tân,
Nam Sơn hiểu tuyết ngọc lân tuân.
Ô hô! Sở tuy tam hộ năng vong Tần,
Khởi hữu đường đường Trung Quốc không vô nhân!

Dịch

Thanh gươm mạ vàng dát ngọc trắng
Ban đêm sáng quắc dọi qua song
Trai năm mươi tuổi công chưa lập
Xách gươm đứng nhìn khắp tám phương
Kinh thành bạn hữu đều hào kiệt
Khảng khái hẹn nhau cùng sống chết
Nghìn năm sử sách thẹn không tên
Một tấm lòng son đền nợ nước
Mới rồi hành quân đến Hán Tân
Nam Sơn tuyết sớm ngọc xây tầng
Than ôi! Sở tuy ba hộ diệt được Tần
Oai hùng Trung Quốc há không kẻ nên thân

死去原知萬事空,
但悲不見九州同。
王師北定中原日,
家祭無忘告乃翁。

Thị nhi

Tử khứ nguyên tri vạn sự không,
Đãn bi bất kiến cửu châu đồng.
Vương sư bắc định Trung Nguyên nhật,
Gia tế vô vong cáo nãi ông.

Dịch nghĩa

Chết rồi muôn việc đều là không
Chỉ buồn không thấy chín châu về một mối
Ngày mà quân vua phương bắc định được Trung Nguyên
Lúc nhà cúng đừng quên khấn với cha

Dịch

Vốn biết chết rồi là hết chuyện,
Chín châu chỉ tiếc chửa sum vầy.
Ngày nào thu lại miền trung thổ,
Cúng bố đừng quên khấn bố hay.

梅雪爭春未肯降,
騷人評比費思量。
梅須遜雪三分白,
雪卻輸梅一段香。

Tuyết mai kỳ 1

Mai tuyết tranh xuân vị khẳng hàng,
Tao nhân bình tỷ phí tư lường.
Mai tu tốn tuyết tam phân bạch,
Tuyết khước thâu mai nhất đoạn hương.

Dịch nghĩa

Mai và tuyết giành xuân với nhau chẳng bên nào chịu nhịn,
Làm cho thi nhân phải gác bút vì mất công bình phẩm.
Mai nên nhường ba phần trắng cho tuyết,
Tuyết phải chịu thua mai một phần về hương thơm.

Dịch

Giành xuân mai tuyết cứ tranh hoài
Bình phẩm nhà thơ những tốn lời
Sắc trắng vài phân mai kém tuyết
Hương thơm một bậc tuyết nhường mai.

有梅無雪不精神,
有雪無詩俗了人。
日暮詩成天又雪,
與梅並作十分春。

Tuyết mai kỳ 2

Hữu mai vô tuyết bất tinh thần,
Hữu tuyết vô thi tục liễu nhân.
Nhật mộ thi thành thiên hựu tuyết,
Dữ mai tịnh tác thập phần xuân.

Dịch nghĩa

Có mai mà không có tuyết thì cũng thiếu cái thần,
Có tuyết mà không có thi nhân thì cũng thành cõi tục.
Ngày tàn thơ vừa làm xong thì tuyết lại rơi nữa,
Cùng mai (thơ và tuyết) góp lại làm cho sắc xuân trọn vẹn.

Dịch

Có mai không tuyết thiếu tinh thần
Có tuyết không thơ tục khách xuân
Chiều tối thơ xong trời lại tuyết
Với mai, xuân vẹn cả mười phân.

蒼蒼竹林寺,
杳杳鐘聲晚。
荷笠帶斜陽,
青山獨歸遠。

Tống Linh Triệt thượng nhân

Thương thương Trúc Lâm tự,
Diểu diểu chung thanh vãn.
Hạ lạp đới tà dương,
Thanh sơn độc quy viễn.

Dịch nghĩa

Chùa Trúc Lâm xanh xanh
Chuông chiều nghe văng vẳng
Vai mang chiếc nón lá nhuộm ánh nắng xế
Một mình trở về núi xanh.

Dịch

Chùa xanh xanh rừng trúc
Chiều văng vẳng chuông kình
Nón sen vương bóng xế
Núi thẳm về một mình

回樂峰前沙似雪,
受降城外月如霜。
不知何處吹蘆管,
一夜征人盡望鄉。

Dạ thướng Thụ Hàng thành văn địch (I)

Hồi Nhạc phong tiền sa tự tuyết
Thụ Hàng thành ngoại nguyệt như sương
Bất tri hà xứ xuy lô quản
Nhất dạ chinh nhân tận vọng hương.

Dịch nghĩa

Trước núi Hồi Nhạc cát trắng như tuyết
Ngoài thành Thụ Hàng ánh trăng như sương
Không biết tiếng sáo lau thổi ở nơi nào
Làm một đêm nay tất cả các kẻ chinh nhân đều nhớ về quê nhà.

Dịch

Cát in trước núi ngời như tuyết,
Trăng rọi bên thành trắng tựa sương.
Ai thổi sáo lau nghe văng vẳng,
Canh chầy chiến sĩ ngóng quê hương.

君問歸期未有期,
巴山夜雨漲秋池。
何當共翦西窗燭,
卻話巴山夜雨時。

Dạ vũ ký bắc

Quân vấn quy kỳ vị hữu kỳ,
Ba sơn dạ vũ trướng thu trì.
Hà đương cộng tiễn tây song chúc,
Khước thoại Ba sơn dạ vũ thì.

Dịch nghĩa

Bạn hỏi ngày về, chưa hẹn được ngày,
Mưa đêm núi Ba đầy tràn ao thu.
Bao giờ ở cửa sổ hướng tây, cùng nhau chong đèn,
Lại cùng trò chuyện về lúc mưa đêm ở núi Ba.

Dịch

Ngày về khó hẹn cho nhau,
Ba Sơn mưa tối hồ thu nước đầy
Bao giờ chung bóng song tây
Còn bao nhiêu chuyện núi này mưa đêm!

桑條無葉土生煙,
簫管迎龍水廟前。
朱門幾處看歌舞,
猶恐春陰咽管弦。

Quan kỳ vũ

Tang điều vô diệp thổ sinh yên,
Tiêu quản nghênh long thuỷ miếu tiền.
Chu môn kỷ xứ khan ca vũ,
Do khủng xuân âm yết quản huyền.

Dịch nghĩa

Cành dâu trụi lá, đất bốc hơi
Trước miếu thờ thần nước, tiếng sáo nghênh đón long vương
Nhưng ở những nơi giàu có, ăn chơi, người ta mải múa hát
Lại sợ cái mát dịu ngày xuân làm lơi tiếng đàn sáo

Dịch

Trơ trụi cành dâu, khói đất xông
Cầu mưa mứa hát trước đền Rồng
Cửa son bao kẻ vào nghe nhạc
Sợ nhỡ trời râm, tiếng mất trong

適與野情愜,
千山高復低。
好峰隨處改,
幽徑獨行迷。
霜落熊升樹,
林空鹿飲溪。
人家在何許?
雲外一聲雞。

Lỗ Sơn sơn hành

Thích dữ dã tình khiếp,
Thiên sơn cao phục đê.
Hảo phong tuỳ xứ cải,
U kính độc hành mê.
Sương lạc hùng thăng thụ,
Lâm không lộc ẩm khê.
Nhân gia tại hà hứa?
Vân ngoại nhất thanh kê.

Dịch nghĩa

Vừa hay rất hợp với hứng rừng núi
Hàng nghìn đỉnh núi trập trùng
Đỉnh đẹp tuỳ nơi đứng mà thay đổi
Đường vắng đi một mình lòng lâng lâng
Sương xuống gấu trèo lên cây
Rừng vắng hươu xuống khe uống nước
Nhà dân ở đâu vậy?
Ngoài mây nghe tiếng gà gáy

Trên đây, phongnguyet.info đã dành tặng bạn những bài thơ dịch đặc sắc của nhà thơ Nam Trân . Hy vọng các bạn sẽ hài lòng với bài viết này của chúng tôi. Hãy đồng hành cùng phongnguyet.info để cập nhật những bài viết hấp dẫn khác nhé! Thân Ái !

Nhà thơ Nam Trân và trọn bộ những bài thơ dịch đặc sắc nhất phần 3

春眠不覺曉,
處處聞啼鳥。
夜來風雨聲,
花落知多少?

Xuân hiểu

Xuân miên bất giác hiểu,
Xứ xứ văn đề điểu.
Dạ lai phong vũ thanh,
Hoa lạc tri đa thiểu?

Dịch nghĩa

Say sưa giấc xuân không biết trời đã sáng
Khắp nơi vang lên tiếng chim hót
Đêm qua có tiếng gió và mưa
Hoa rụng không biết bao nhiêu?

Dịch

Giấc xuân, sáng chẳng biết,
Khắp nơi chim ríu rít.
Đêm nghe tiếng gió mưa,
Hoa rụng nhiều hay ít?

松風水月明,
無影亦無形。
色身這個是,
空空尋響聲。

Tầm hưởng

Tùng phong thuỷ nguyệt minh,
Vô ảnh diệc vô hình.
Sắc thân giá cá thị,
Không không tầm hưởng thanh.

Dịch nghĩa

Gió giật cành thông, trăng sáng dưới nước,
Không có bóng, cũng không có hình.
Sắc thân cũng như thế,
(Muốn tìm nó như) tìm tiếng vang trong hư không.

Dịch

Gió cành thông, lòng sông trăng sáng,
Bóng cũng không, hình dáng cũng không.
Sắc thân, thân sắc đều không,
Như tìm tiếng dội trong vòng hư vô.

一把青秧趁手青,
輕煙漠漠雨冥冥。
東風染盡三千頃,
白鷺飛來無處停。

Hoành Khê Đường xuân hiểu

Nhất bả thanh ương sấn thủ thanh,
Khinh yên mạc mạc vũ minh minh.
Đông phong nhiễm tận tam thiên khoảnh,
Bạch lộ phi lai vô xứ đình.

Dịch

Mạ cấy vừa xong, bén rễ mau,
Mưa bay mờ mịt, khói phô màu.
Gió xuân nhuộm biếc ba nghìn khoảnh,
Cò trắng bay về biết đỗ đâu.

誰知苦貧夫,
家有愁怨妻。
請君聽其詞,
能不為酸淒。
所憐抱中兒,
不如山下麑。
空念庭前地,
化為人吏蹊。
出門望山澤,
回頭心復迷。
何時見府主,
長跪向之啼。

Hệ nhạc phủ kỳ 6 – Bần phụ từ

Thuỳ tri khổ bần phu,
Gia hữu sầu oán thê.
Thỉnh quân thính kỳ từ,
Năng bất vị toan tê.
Sở liên bão trung nhi,
Bất như sơn hạ nghê.
Không niệm đình tiền địa,
Hoá vi nhân lại khê.
Xuất môn vọng sơn trạch,
Hồi đầu tâm phục mê.
Hà thời kiến phủ chủ,
Trường quỵ hướng chi đề.

Dịch

Khổ người nghèo, ai biết ?
Vợ nhà sầu oán luôn.
Ngài hãy nghe chị nói,
Lòng sẽ thấy đau buồn:
“Ôi! đứa bé ẵm ngửa,
Không bằng chú nai con.
Miếng đất vườn nhà ở,
Bọn lại giẫm đến mòn.
Ra cổng trông đầm núi,
Ngoảnh mặt như mất hồn.
Bao giờ gặp quan phủ,
Quỳ xuống kể nguồn cơn!”

怒發衝冠,
憑欄處、
瀟瀟雨歇。
抬望眼、
仰天長嘯,
壯懷激烈。
三十功名塵與土,
八千里路雲和月。
莫等閑、白了少年頭,
空悲切。
靖康恥,
猶未雪。
臣子恨,
何時滅!
駕長車,
踏破賀蘭山缺。
壯志飢餐胡虜肉,
笑談渴飲匈奴血。
待從頭、收拾舊山河,
朝天闕。

Mãn giang hồng

Nộ phát xung quan,
Bằng lan xứ,
Tiêu tiêu vũ yết.
Đài vọng nhãn,
Ngưỡng thiên trường khiếu,
Tráng hoài khích liệt.
Tam thập công danh trần dữ thổ,
Bát thiên lý lộ vân hoà nguyệt.
Mạc đẳng nhàn, bạch liễu thiếu niên đầu,
Không bi thiết.
Tĩnh Khang sỉ,
Do vị tuyết.
Thần tử hận,
Hà thời diệt!
Giá trường xa,
Đạp phá Hạ Lan sơn khuyết.
Tráng chí cơ xan Hồ lỗ nhục,
Tiếu đàm khát ẩm Hung Nô huyết.
Đãi tòng đầu, thu thập cựu sơn hà,
Triều thiên khuyết.

Dịch

Tóc dựng mái đầu,
Lan can đứng tựa,
Trận mưa vừa dứt.
Ngóng trời xa,
Uất hận kêu dài.
Hùng tâm khích liệt,
Ba mươi tuổi cát bụi công danh,
Tám ngàn dặm dầm sương dãi nguyệt.
Chớ lỏng lơi nữa kẻo bạc đầu,
Ích gì rên xiết.
Mối nhục Tĩnh Khang,
Chưa gội hết.
Hận thù này,
Bao giờ mới diệt.
Cưỡi cỗ binh xa,
Dẫm Hạ Lan nát bét.
Đói, vùng lên ăn thịt giặc Hồ,
Khát, cười chém Hung Nô uống huyết.
Rồi đây dành lại cả giang san,
Về chầu cửa khuyết.

故園東望路漫漫,
雙袖龍鐘淚不乾。
馬上相逢無紙筆,
憑君傳語報平安。

Phùng nhập kinh sứ

Cố viên đông vọng lộ man man,
Song tụ long chung lệ bất can.
Mã thượng tương phùng vô chỉ bút,
Bằng quân truyền ngữ báo bình an.

Dịch nghĩa

Ngóng về hướng đông nơi quê nhà, đường dài hun hút,
Hai tay áo đầm đìa nước mắt không khô.
Ở trên lưng ngựa gặp nhau, không có sẵn giấy bút,
Nhờ anh gửi lời nhắn tin báo rằng tôi vẫn được bình yên.

Dịch

Quê nhà xa tít ngoái trông sang,
Áo thõng hai tay lệ chảy dàn.
Trên ngựa gặp nhau không giấy bút,
Nhờ anh nhắn hộ tớ bình an.

君不見
走馬川行雪海邊,
平沙莽莽黃入天。
輪台九月風夜吼,
一川碎石大如鬥,
隨風滿地石亂走。
匈奴草黃馬正肥,
金山西見煙塵飛,
漢家大將西出師。
將軍金甲夜不脫,
半夜軍行戈相撥,
風頭如刀面如割。
馬毛帶雪汗氣蒸,
五花連錢旋作冰,
幕中草檄硯水凝。
虜騎聞之應膽懾,
料知短兵不敢接,
車師西門佇獻捷。

Tẩu Mã xuyên hành, phụng tống Phong đại phu tây chinh

Quân bất kiến:
Tẩu Mã xuyên hành tuyết hải biên,
Bình sa mãng mãng hoàng nhập thiên.
Luân Đài cửu nguyệt phong dạ hống,
Nhất xuyên toái thạch đại như đấu,
Tuỳ phong mãn địa thạch loạn tẩu.
Hung Nô thảo hoàng mã chính phì,
Kim Sơn tây kiến yên trần phi,
Hán gia đại tướng tây xuất sư.
Tướng quân kim giáp dạ bất thoát,
Bán dạ quân hành qua tương bát,
Phong đầu như đao diện như cát.
Mã mao đới tuyết hãn khí chưng,
Ngũ hoa liên tiền tuyền tác băng,
Mạc trung thảo hịch nghiễn thuỷ ngưng.
Lỗ kỵ văn chi ưng đảm nhiếp,
Liệu tri đoản binh bất cảm tiếp,
Xa Sư tây môn trữ hiến tiệp.

Dịch nghĩa

Bạn thấy không:
Sông Tẩu Mã chảy bên biển tuyết
Cát phẳng mênh mông vàng tới chân trời
Ở Luân Đài tháng 9 gió hú suốt đêm
Trong dòng sông, đá bể ra to như những cái đấu
Theo luồng gió đá nằm la liệt khắp nơi
Hung Nô cỏ vàng ngựa no béo
Từ Kim Sơn nhìn phía tây thấy bụi khói bay
Tướng Hán đem quân về phía tây
Mặc áo giáp suốt đêm không cởi
Hành quân ban đêm gươm đao va chạm nhau
Gió thổi như dao, mặt như bị cắt ra
Lông ngựa đầy tuyết mồ hôi bốc lên
Ngựa ngũ hoa đốm đồng tiền như bị đóng băng
Viết hịch trong trướng nước đông lại trong bình mực
Quân kỵ của Hồ Lỗ nghe vậy đã sợ khiếp
Liệu biết quân mình là đoản binh không dám tiếp đánh
Ở cửa tây thành Xa Sư chờ tin thắng trận báo về.

Dịch

Người thấy chăng:
Tẩu Mã Xuyên biển tuyết ngời,
Cát vàng bát ngát tận chân trời?
Luân Đài tháng chín gió đêm rú,
Lòng sông, đá vụn to như đấu,
Gió đẩy chạy bừa khắp trong xứ.
Hung Nô cỏ vàng ngựa béo quay,
Kim Sơn khói bụi ngút miền tây,
Hán triều đại tướng xuất binh ngay.
Thâu đêm tướng quân mặc áo sắt,
Loảng xoảng giáo gươm đi khuya khoắt,
Ngọn gió như dao thổi rách mặt.
Tuyết đầm mình ngựa hơi bốc lên,
Ngựa hoa băng đóng cộm cương yên,
Trong doanh viết hịch váng đầy nghiên.
Địch quân vừa nghe đã khủng khiếp,
Tự biết sức hèn không đánh tiếp,
Cửa tây ta chờ tin báo tiệp.

天子好征戰,
百姓不種桑。
天子好年少,
無人薦馮唐。
天子好美女,
夫婦不成雙。

Bộ ngư dao

Thiên tử hiếu chinh chiến,
Bách tính bất chủng tang.
Thiên tử hiếu niên thiếu,
Vô nhân tiến Phùng Đường.
Thiên tử hiếu mĩ nữ,
Phu phụ bất thành song.

Dịch nghĩa

Nhà vua thích chinh chiến,
Trăm họ không trồng dâu.
Nhà vua thích tuổi trẻ,
Chẳng ai tiến cử Phùng Đường.
Nhà vua thích gái đẹp,
Vợ chồng không thành lứa đôi.

更能消幾番風雨,
匆匆春又歸去。
惜春長怕花開早,
何況落紅無數。
春且住,
見說道,
天涯芳草無歸路。
怨春不語。
算只有殷勤,
畫檐蛛網,
盡日惹飛絮。
長門事,
準擬佳期又誤。
蛾眉曾有人妒。
千金縱買相如賦,
脈脈此情誰訴?
君莫舞,
君不見,
玉環飛燕皆塵土。
閑愁最苦。
休去倚危欄,
斜陽正在,
煙柳斷腸處。

Mô ngư nhi

Cánh năng tiêu kỷ phiêu phong vũ,
Thông thông xuân hựu quy khứ.
Tích xuân trường phạ hoa khai tảo,
Hà huống lạc hồng vô số,
Xuân thả trú,
Kiến thuyết đạo,
Thiên nhai phương thảo vô quy lộ.
Oán xuân bất ngữ.
Toán chỉ hữu ân cần,
Hoạ thiềm tru võng,
Tận nhật nhạ phi nhứ.
Trường Môn sự,
Chuẩn nghĩ giai kỳ hựu ngộ.
Nga mi tằng hữu nhân đố.
Thiên kim túng mãi Tương Như phú,
Mạch mạch thử tình thuỳ tố ?
Quân mạc vũ,
Quân bất kiến,
Ngọc Hoàn, Phi Yến giai trần thổ.
Nhàn sầu tối khổ,
Hưu khứ ỷ nguy lan,
Tà dương chính tại,
Yên liễu đoạn trường xứ.

Dịch nghĩa

Còn qua được mấy phen mưa gió
Xuân vội vã lại đi,
Tiếc xuân đi nên cứ sợ hoa nở sớm.
Huống chi cánh hồng lại rơi rụng không biết bao nhiêu mà kể.
Xuân hãy ở lại,
Nghe nói,
Đám cỏ thơm ngoài chân trời chắn mất lối về.
Oán xuân không nói một lời.
Có chăng chỉ con nhện chăm chỉ,
Chăng tơ bên thềm hoa,
Suốt ngày như tơ liễu bay.
Câu truyện Trường Môn xưa,
Làm lỡ hẹn đẹp.
Gái mày ngài có người ghen.
Nghìn vàng dù có mua được bài phú của Tương Như,
Đằng đẵng mối tình này biết ngỏ cùng ai ?
Chớ có múa may,
Chẳng thấy sao,
Ngọc Hoàn, Phi Yến đều hoá thành đất bụi.
Không gì khổ bằng nỗi buồn suông tẻ.
Chớ có ra đứng tựa lan can trên lầu cao,
Giữa lúc mặt trời xế bóng,
Cây liễu khói mờ, là nơi buồn đau đứt ruột.

Dịch

Còn qua được bao phen mưa gió,
Thoăn thoắt xuân chừng cuốn vó.
Tiếc xuân những sợ sớm mùa hoa,
Huống nữa rụng bao cánh đỏ.
Xuân hãy ở,
Nghe nói,
Tận chân trời, đường về vướng cỏ.
Giận xuân không thổ lộ.
Nghĩ chỉ riêng lưới nhện,
Dệt bên thềm,
Suốt ngày vương bông tơ rủ.
Truyện Trường Môn thuở nọ,
Dịp may e chừng đã lỡ.
Mày ngài thêm vướng nợ.
Ngàn vàng mua lấy phú Tương Như,
Tình cảnh ấy cùng ai bày tỏ ?
Chớ may múa,
Há chẳng thấy,
Phi Yến, Ngọc Hoàn thành đất thó.
Buồn dài rất khổ.
Thôi chớ tựa lan can,
Đoạn trường bấy,
Ác lặn bên cành dương khói phủ.

君家在何處?
妾住在橫塘。
停船暫借問,
或恐是同鄉。

Trường Can hành kỳ 1

Quân gia tại hà xứ?
Thiếp trú tại Hoành Đường.
Đình thuyền tạm tá vấn,
Hoặc khủng thị đồng hương.

Dịch nghĩa

Nhà chàng ở chỗ nào?
Nhà thiếp ở Hoành Đường.
Tạm dừng thuyền ướm hỏi,
E rằng là người cùng làng.

Dịch

Nhà chàng ở đâu nhỉ
Nhà em ở Hoành Đường
Dừng thuyền em hỏi thử
E cũng bạn đồng hương

家臨九江水,
來去九江側。
同是長干人,
生小不相識。

Trường Can hành kỳ 2

Gia lâm Cửu Giang thuỷ,
Lai khứ Cửu Giang trắc.
Đồng thị Trường Can nhân,
Sinh tiểu bất tương thức.

Dịch nghĩa

Nhà tôi ở kề bên sông Cửu Giang
Đi lại cũng bên sông Cửu Giang
Cùng là người làng Trường Can
Đi xa làng từ lúc bé nên không quen biết

Dịch

Nhà kề bến Cửu Giang
Cửu Giang qua lại miết
Cùng quê ở Trường Can
Đi lâu nên không biết

去年今日此門中,
人面桃花相映紅。
人面不知何處去?
桃花依舊笑春風。

Đề đô thành nam trang

Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu xuân phong.

Dịch nghĩa

Năm trước ngày này ngay cửa này,
Mặt người, hoa đào ánh hồng lẫn nhau.
Mặt người chẳng biết đã đi đâu,
Vẫn hoa đào năm ngoái đang cười giỡn với gió xuân.

Dịch

Cửa đây năm ngoái cũng ngày này,
Má phấn, hoa đào ửng đỏ hây.
Má phấn giờ đâu, đâu vắng tá,
Hoa đào còn bỡn gió xuân đây.

黑雲翻墨未遮山,
白雨跳珠亂入船。
捲地風來忽吹散,
望湖樓下水如天。

Lục nguyệt nhị thập thất nhật Vọng Hồ lâu tuý thư kỳ 1

Hắc vân phiên mặc vị già sơn,
Bạch vũ khiêu châu loạn nhập thuyền.
Quyển địa phong lai hốt xuy tán,
Vọng Hồ lâu hạ thuỷ như thiên.

Dịch nghĩa

Mây kéo đen như mực chưa che kín núi,
Giọt mưa trong như giọt châu nhẩy lung tung vào thuyền.
Bỗng nổi gió ào ào thổi tan hết,
Mặt nước dưới lầu Vọng Hồ lại phẳng như trời.

Dịch

Mây đen trút mực chưa nhoà núi,
Mưa trắng gieo châu nhảy rộn thuyền.
Trận gió bỗng đâu lôi cuốn sạch,
Dưới lầu bát ngát nước in trời.

大江東去,
浪淘盡千古風流人物。
故壘西邊,
人道是三國周郎赤壁。
亂石崩雲,
驚濤拍岸,
捲起千堆雪。
江山如畫,
一時多少豪傑。
遙想公瑾當年,
小喬初嫁了,
雄姿英發。
羽扇綸巾,
談笑間,
檣櫓灰飛煙滅。
故國神遊,
多情應笑我,
早生華髮。
人間如夢,
一樽還酹江月。

Niệm nô kiều – Xích Bích hoài cổ

Đại giang đông khứ,
Lãng đào tận thiên cổ phong lưu nhân vật.
Cổ luỹ tây biên,
Nhân đạo thị Tam Quốc Chu Du Xích Bích.
Loạn thạch băng vân,
Nộ đào liệt ngạn,
Quyển khởi thiên đồi tuyết.
Giang sơn như hoạ,
Nhất thời đa thiểu hào kiệt.
Dao tưởng Công Cẩn đương niên,
Tiểu Kiều sơ giá liễu,
Hùng tư anh phát.
Vũ phiến luân cân,
Đàm tiếu gian,
Cường lỗ hôi phi yên diệt.
Cố quốc thần du,
Đa tình ưng tiếu ngã,
Tảo sinh hoa phát.
Nhân sinh như mộng,
Nhất tôn hoàn thù giang nguyệt.

Dịch

Sông lớn về đông,
Sóng gạn hết nhân vật phong lưu một thuở.
Nghe nói phía tây luỹ cũ,
Xích Bích xưa lừng lẫy tiếng Chu Du.
Đá cgọc mây mù,
Bờ gầm sóng hãi,
Bọt ngầu lên nghìn đống tuyết to.
Giang sơn như vẽ,
Biết bao hào kiệt thời xưa.
Nhớ lại Công Cẩn bấy giờ,
Sánh Tiểu Kiều duyên mới,
Tư thái anh hùng.
Khăn lụa, quạt lông,
Nói cười khoan khoái,
Diệt quân Tào trong trận hoả công.
Mơ thời Tam Quốc,
Đáng cười ta con người đa cảm,
Tóc vội sương lồng.
Cõi đời như mộng,
Rượu bầu tưới xuống sông trăng.

明月幾時有,
把酒問青天。
不知天上宮闕,
今夕是何年。
我欲乘風歸去,
又恐瓊樓玉宇,
高處不勝寒。
起舞弄清影,
何似在人間。
轉朱閣,
低綺戶,
照無眠。
不應有恨,
何事長向別時圓。
人有悲歡離合,
月有陰晴圓缺,
此事古難全。
但願人長久,
千里共嬋娟。

Thuỷ điệu ca đầu – Trung thu

Minh nguyệt kỷ thời hữu?
Bả tửu vấn thanh thiên.
Bất tri thiên thượng cung khuyết,
Kim tịch thị hà niên.
Ngã dục thừa phong quy khứ,
Hựu khủng quỳnh lâu ngọc vũ,
Cao xứ bất thắng hàn.
Khởi vũ lộng thanh ảnh,
Hà tự tại nhân gian.
Chuyển chu các,
Đê ỷ hộ,
Chiếu vô miên.
Bất ưng hữu hận,
Hà sự trường hướng biệt thời viên.
Nhân hữu bi, hoan, ly, hợp,
Nguyệt hữu âm, tình, viên, khuyết,
Thử sự cổ nan toàn.
Đãn nguyện nhân trường cửu,
Thiên lý cộng thiền quyên.

Dịch nghĩa

Trăng sáng có từ bao giờ,
Cầm chén rượu hỏi trời xanh.
Không biết là cung điện trên trời,
Đêm nay là năm nào?
Ta muốn cưỡi gió đi,
Lại sợ trên lầu quỳnh điện ngọc,
Nơi cao rét không chịu nổi.
Đứng lên múa, bóng trăng theo người,
Gì vui hơn ở dưới cõi đời.
Soi khắp gác tía,
Ta tà xuống cửa che màn gấm,
Soi cả đến người có bầu tâm sự không ngủ.
Trăng giận gì người,
Tại sao cứ tròn trong những giờ ly biệt.
Người có lúc buồn, vui, tan, hợp,
Trăng có đêm tối, sáng, tròn, khuyết,
Việc này xưa nay khó bề trọn vẹn.
Những mong người lâu dài,
Ngàn dặm cùng chung vẻ đẹp của trăng.

Dịch

Trăng có từ bao thuở
Nâng chén hỏi trời cao
Đêm nay nơi thiên cung nguyệt điện
Chẳng biết thuộc năm nào
Ta muốn bay về theo gió
Chỉ sợ lầu quỳnh gác ngọc
Cao thẳm rét nhường bao
Múa nhảy mừng vui bóng nguyệt
Cõi trần thích thú hơn nhiều
Qua gác tía
Dòm cửa gấm
Dọi canh sầu
Chẳng nên oán giận
Cớ sao tròn mãi lúc lìa nhau
Người có vui buồn ta hợp
Trăng có tỏ mờ tròn khuyết
Từ xưa khó trọn đều
Chỉ ước người sống mãi
Dặm nghìn chung bóng yêu kiều.

春宵一刻值千金,
花有清香月有陰。
歌管樓臺聲細細,
鞦韆院落夜沈沈。

Xuân tiêu

Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim,
Hoa hữu thanh hương nguyệt hữu âm.
Ca quản lâu đài thanh tế tế,
Thu thiên viện lạc dạ trầm trầm.

Dịch nghĩa

Đêm xuân, một khắc giá ngàn vàng,
Hoa có hương thơm trong lành, trăng có bóng.
Tiếng hát, tiếng sáo từ các lâu đài nghe dìu dặt,
Bay lên, rơi xuống trong sân giữa đêm khuya thanh vắng.

Dịch

Đêm xuân một khắc đáng nghìn vàng,
Bóng nguyệt êm đềm, hoa thoảng hương.
Trên gác đàn ca nghe văng vẳng,
Xuân đu lặng lẽ suốt canh trường.

聳翠攢蒼入望多,
溪西月影轉簷斜。
隔林啼鳥尤岑寂,
一徑古松初墜花。

Cam Lộ tự

Tủng thuý toàn thương nhập vọng đa,
Khê tây nhật ảnh chuyển thiềm tà.
Cách lâm đề điểu vưu sầm tịch,
Nhất kính cổ tùng sơ truỵ hoa.

Dịch nghĩa

Mầu thuý vòi vọi, mầu xanh trập trùng tràn ngập trong tầm mắt,
Bóng mặt trời phía Tây dòng suối chênh chếch ngả vào mái hiên.
Chim kêu bên kia rừng càng thêm hiu quạnh,
Một ngõ thông già lác đác rụng hoa.

Dịch

Trập trùng núi biếc non xanh,
Bóng chiều bên suối chênh chênh rọi thềm.
Bên rừng càng quạnh tiếng chim,
Thông già một lối im lìm rụng hoa.

Chúng tôi đã chia sẻ cho bạn những tác phẩm dịch đặc sắc của nhà thơ Nam Trân. Hãy theo dõi và cảm nhận những thi phẩm xuất sắc này của ông nhé! Cảm ơn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Xem Thêm:

Nhà thơ Nam Trân và trọn bộ những bài thơ dịch đặc sắc nhất phần 4

玩月橋邊對夕陽,
拂雲兩岸柳絲長。
高飛翡翠齊仙仗,
獨立蜻蜓穩鳳床。
入座水光茵簞冷,
薰人花氣笑談香。
倚欄眼底無纖翳,
碧浸銀蟾一夜涼。

Kim Minh trì

Ngoạn Nguyệt kiều biên đối tịch dương,
Phất vân lưỡng ngạn liễu ti trường.
Cao phi phí thuý tề tiên trượng,
Độc lập thanh đình ổn phượng sàng.
Nhập toạ thuỷ quang nhân đạm lãnh,
Huân nhân hoa khí tiếu đàm hương.
Ỷ lan nhãn để vô tiêm ế,
Bích tẩm ngâu thiềm nhất dạ lương.

Dịch nghĩa

Bên cầu Ngoạn Nguyệt đối bóng chiều tà,
Hai bờ tơ liễu dài phơ phất từng mây.
Chim trả bay sánh với nghi trượng thần tiên,
Con chuồn đứng lẻ, vững vàng như chiếc gường phượng hoàng.
Ánh nước soi chỗ ngồi, chăn chiếu thêm lạnh lẽo,
Mùi hoa xông lên người, tiếng cười nói cũng thơm.
Tựa lan can, mắt không bị chút gì che lấp,
Trời xanh đẫm trăng bạc mát mẻ suốt đêm.

Dịch

Bên cầu Ngoạn Nguyệt ngắm chiều tây,
Tơ liễu hai bờ phơ phất mây.
Chim trả bay cao: nghi trượng đó,
Con chuồn đứng lẻ: phượng sàng đây.
Chiếu chăn nước rọi nghe hơi lạnh,
Cười nói hoa xông thoảng nhị bay.
Đứng tựa lan can tầm mắt rộng,
Đêm thanh trăng bạc, mát dường này.

生民一視我胞同,
西海何心使困窮。
蕭相不知高祖意,
未央虛費潤青紅。

Nghệ An hành điện

Sinh dân nhất thị ngã bào đồng,
Tứ hải hà tâm sử khốn cùng.
Tiêu tướng bất tri Cao Tổ ý,
Vị Ương hư phí nhuận thanh hồng.

Dịch nghĩa

Hết thảy sinh dân đều là người ruột thịt của ta,
Nỡ lòng nào để cho bốn bể khốn cùng.
Tướng quốc họ Tiêu không hiểu ý của Cao Tổ,
Tô điểm đỏ xanh cung Vị Ương chỉ là tiêu phí vô ích.

Dịch

Vua tôi máu mủ giống nòi chung,
Bốn bể sao đang để khốn cùng.
Tiêu tướng vụng suy lòng Hán Tổ,
Phi tiền tô điểm Vị Ương cung

馬頭萬里涉溪山,
玉節搖搖瘴霧寒。
忽睹十行開鳳尾,
宛如咫尺對龍顏。
漢元初紀時方泰,
舜歷新頒德又寬。
更得二公誠款款,
卻添春色上眉間。

Tạ bắc sứ Mã Hợp Mưu, Dương Đình Trấn kỳ 1

Mã đầu vạn lý thiệp khê san,
Ngọc tiết dao dao chướng vụ hàn.
Hốt đổ thập hàng khai phượng vĩ,
Uyển như chỉ xích đối long nhan.
Hán nguyên sơ kỷ trời phương thái,
Thuấn lịch tân ban đức hựu khoan.
Cánh đắc nhị công thành khoản khoản,
Khước thiêm xuân sắc thướng mi gian.

Dịch nghĩa

Ruổi ngựa vượt qua muôn dặm núi khe,
Cờ ngọc tiết rung rinh sương khói lạnh lùng.
Mở cờ chiếu đuôi phượng ra chợt thấy mười hàng chữ,
Hệt như được đứng trước mặt rồng chỉ cách gang tấc.
Triều Hán lúc mở đầu là thời yên vui,
Lịch vua Thuấn mới ban, đức độ khoan hậu.
Lại được hai ông có lòng thành,
Càng thêm vẻ xuân hiện trên nét mày.

Dịch

Khe núi muôn trùng ngựa ruổi rong,
Tay vung cờ tiết, khói mù xông.
Mười hàng bỗng chốc bày đuôi phượng,
Gang tấc in như thấy mặt rồng.
Đầu buổi Hán nguyên thời thịnh đạt,
Mới ban Thuấn lịch đức khoan hồng.
Hai ngài lại sẵn tình chân thật,
Tươi tắn ngươi tôi, hớn hở lòng.

形容骨格耐冬寒,
相貌亭亭亦可觀。
風流一段渾描盡,
心裏難描耿耿丹。

Tặng Trần Bang Cẩn hoạ tượng tính thi

Hình dung cốt cách nại đông hàn,
Tướng mạo đình đình diệc khả quan.
Phong lưu nhất đoạn hồn miêu tận,
Tâm lý nan miêu cảnh cảnh đan.

Dịch nghĩa

Hình dung cốt cách chịu đựng được giá lạnh mùa đông,
Tướng mạo đường đường cũng đáng xem.
Mọi vẻ phong lưu đều vẽ được hết,
Chỉ khó vẽ tấm lòng son chói sáng mà thôi.

Dịch

Thân hình rắn rỏi quen sương tuyết,
Tướng mạo khôi ngô ngó cũng giòn.
Mọi vẻ phong lưu đều tả hết,
Mà chưa tả được tấm lòng son.

花柳綠成陰,
簾鉤院宇深。
無情天外絮,
不語樹頭禽。
簡古三皇政,
希夷五帝心。
世間閒半日,
攘得一千金。

Xuân nhật nhàn toạ

Hoa liễu lục thành âm,
Liêm câu viện vũ thâm.
Vô tình thiên ngoại nhứ,
Bất ngữ thụ đầu cầm.
Giản cổ Tam hoàng chính,
Hi di Ngũ đế tâm.
Thế gian nhàn bán nhật,
Nhương đắc nhất thiên câm (kim).

Dịch nghĩa

Liễu ra hoa tươi tốt đã thành bóng râm,
Rèm móc lên rồi mà nhà vẫn sâu kín.
Tơ liễu hững hờ bay ngoài trời,
Chim chóc im lặng đậu trên ngọn cây.
Giản dị thuần phác là chính sự của Tam hoàng,
Nhìn không thấy, nghe không được là lòng của Ngũ đế.
Ở trần gian mà nhàn hạ được nửa ngày,
Thì cũng quý như đoạt được ngàn vàng.

Dịch

Liễu hoa cành lá rườm rà,
Cuối rèm lớp lớp cửa nhà càng sâu.
Tơ trời lững thững về đâu?
Trên cây chim đậu rầu rầu biếng kêu.
Tam hoàng giản dị đáng yêu,
Hư không Ngũ đế dễ xiêu lòng này.
Ở đời nhàn rỗi nửa ngày,
Cũng bằng nắm chắc trong tay ngàn vàng.

夫戍邊關妾在吳,
西風吹妾妾憂夫。
一行書信千行淚,
寒到君邊衣到無。

Ký phu

Phu thú biên quan, thiếp tại Ngô,
Tây phong xuy thiếp, thiếp ưu phu.
Nhất hàng thư tín, thiên hàng lệ:
“Hàn đáo quân biên, y đáo vô?”

Dịch nghĩa

Chồng đi thú ở nơi biên ải, thiếp ở đất Ngô
Gió may thổi thiếp (lạnh), thiếp lo cho chồng
Mỗi một dòng thư là ngìn dòng nước mắt
“Rét đến bên chàng, áo có đến không?”

Dịch

Chồng trấn tây cương, thiếp ở đông,
Gió tây lạnh thiếp, thiếp thương chồng.
Một dòng thư gửi, trăm dòng lệ:
“Rét đến bên chàng, áo đến không ?”

宮門半掩徑生苔,
白晝沈沈少往來。
萬紫千紅空爛熳,
春花如許為誰開。

Cung viên xuân nhật ức cựu

Cung môn bán yểm kính sinh đài,
Bạch trú trầm trầm thiểu vãng lai.
Vạn tử thiên hồng không lạn mạn,
Xuân hoa như hử vị thuỳ khai?

Dịch nghĩa

Cửa cung khép hờ, lối đi rêu mọc,
Giữa ban ngày mà sâu lặng, ít người qua lại,
Muôn tía nghìn hồng rực rỡ suông mà thôi,
Hoa xuân đẹp như kia vì ai mà nở?

Dịch

Cửa cung nửa khép, đường rêu phủ,
Ngày lặng đìu hiu vắng bóng người.
Muôn tía nghìn hồng đua rực rỡ,
Hoa xuân dường ấy nở vì ai ?

前不見古人,
後不見來賈。
念天地之悠悠,
獨愴然而涕下。

Đăng U Châu đài ca

Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du,
Ðộc sảng nhiên nhi thế há.

Dịch nghĩa

Phía trước không thấy người xưa
Phía sau không thấy ai đến
Ta nghĩ rằng trời đất rộng lớn mênh mông
Riêng ta đau lòng rơi lệ.

Dịch

Ngưòi trước chẳng thấy ai
Người sau thì chưa thấy
Gẫm trời đất thật vô cùng
Riêng lòng đau mà lệ chảy.

雲淡風輕近午天,
傍花隨柳過前川。
時人不識余心樂,
將謂偷閒學少年!

Xuân nhật ngẫu thành

Vân đạm phong khinh cận ngọ thiên,
Bàng hoa tuỳ liễu quá tiền xuyên.
Thời nhân bất thức dư tâm lạc,
Tương vị thâu nhàn học thiếu niên.

Dịch nghĩa

Mây mỏng, gió nhẹ, trời gần trưa,
Bên hoa đi theo hàng liễu đến dòng sông trước mặt.
Người đời không biết lòng ta đang vui,
Lại bảo ta nhàn hạ như trẻ con.

Dịch

Gần trưa gió nhẹ mây thanh
Vin hoa tựa liễu một mình ra sông
Lòng vui người chẳng hiểu lòng
Rằng theo bọn trẻ chạy rong chơi đùa

耕夫召募逐樓船,
春草青青萬頃田。
試上吳門窺郡郭,
清明幾處有新煙。

Xương Môn tức sự

Canh phu triệu mộ trục lâu thuyền,
Xuân thảo thanh thanh vạn khoảnh điền.
Thí thướng Ngô Môn khuy quận quách,
Thanh minh kỷ xứ hữu tân yên.

Dịch nghĩa

Hàng vạn nông dân bị bắt đi lính,
Hàng vạn cánh đồng ngập cỏ xanh khi xuân đến.
Thử trèo lên cửa thành nhìn ra ngoại ô,
Thanh minh này được mấy nơi có khói mới.

Dịch

Nhà nông bị bắt xuống thuyền binh,
Ruộng đất bao la cỏ mượt xanh.
Lên gác Ngô môn nhìn khắp quận,
Lơ thơ khói mới tiết thanh minh.

衰鬢千莖雪,
他鄉一樹花。
今朝與君醉,
忘卻在長沙。

Ngoạn hoa dữ Vệ Tương đồng tuý

Suy mấn thiên hành tuyết,
Tha hương nhất thụ hoa.
Kim triêu dữ quân tuý.
Vong khước tại Trường Sa.

Dịch nghĩa

Tóc cằn cỗi đã thêm cà ngàn sợi bạc
Ở xứ người chỉ có độc một cây hoa
Hôm nay cùng ông, ta uống say
Để quên đi đang ở Trường Sa

Dịch

Tóc bạc nghìn sợi tuyết,
Quê người một khóm hoa.
Sáng nay say với bác,
Quên bẵng tại Trường Sa.

澹澹長江水﹐
悠悠遠客情﹐
落花相與恨﹐
到地一無聲。

Nam hành biệt đệ

Đạm đạm Trường Giang thuỷ,
Du du viễn khách tình.
Lạc hoa tương dữ hận,
Đáo địa nhất vô thanh.

Dịch nghĩa

Nước sông dài lờ lờ trôi,
Khách đi xa mối tình man mác.
Hoa rụng, dường cùng nhau chia hận,
Rơi tới mặt đất, không một tiếng gì.

Dịch

Sông dài nước chảy lênh đênh,
Dặm nghìn đất khách mối tình mênh mông.
Hoa kia chia mối hận lòng,
Lúc rơi tới đất tuyệt không tiếng gì.

獨憐幽草澗邊生,
上有黃鸝深樹鳴。
春潮帶雨晚來急,
野渡無人舟自橫。

Trừ Châu tây giản

Độc liên u thảo giản biên sinh,
Thượng hữu hoàng ly thâm thụ minh.
Xuân triều đới vũ vãn lai cấp,
Dã độ vô nhân chu tự hoành.

Dịch nghĩa

Riêng thương cỏ âm thầm mọc bên lạch,
Trên có cái oanh vàng hót trong cây um tùm.
Thuỷ triều mùa xuân đem theo mưa, trời sập tối,
Đò đồng quạnh vắng, con thuyền tự quay ngang.

Dịch

Xót thương bến nước cỏ xanh vàng,
Cây rậm cành cao, oanh hót vang.
Mưa dịp triều xuân, trời sập tối,
Chiếc đò quạnh vắng tự quay ngang.

京口瓜洲一水間,
鍾山只隔數重山。
春風又綠江南岸,
明月何時照我還。

Bạc thuyền Qua Châu

Kinh Khẩu Qua Châu nhất thuỷ gian,
Chung sơn chỉ cách sổ trùng san.
Xuân phong hựu lục Giang Nam ngạn,
Minh nguyệt hà thì chiếu ngã hoàn?

Dịch nghĩa

Kinh Khẩu bãi Qua Châu cách nhau mỗi con sông,
Về Chung San chỉ sau mấy quả núi.
Gió xuân lại thổi xanh bờ Giang Nam,
Khi nào trăng lên soi cho ta về.

Dịch

Qua Châu, Kinh khẩu cùng sông
Cách vài dãy núi, núi Chung cũng gần
Bờ Nam cỏ biếc hơi xuân
Đường về còn đợi đến tuần trăng nao

滕王高閣臨江渚,
佩玉鳴鸞罷歌舞。
晝棟朝飛南浦雲,
珠簾暮捲西山雨。
閒雲潭影日悠悠,
物換星移幾度秋。
閣中帝子今何在,
檻外長江空自流。

Đằng Vương các

Đằng Vương cao các lâm giang chử,
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ.
Hoạ đống triêu phi Nam phố vân,
Châu liêm mộ quyển Tây Sơn vũ.
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
Vật hoán tinh di kỷ độ thu.
Các trung đế tử kim hà tại,
Hạm ngoại Trường Giang không tự lưu.

Dịch nghĩa

Gác Đằng Vương cao ngất dựa bên bãi sông,
Đeo ngọc reo chuông thôi múa hát.
Cột vẽ mây bến Nam bay lúc sáng sớm,
Rèm châu cuốn buổi chiều thấy mưa núi Tây.
Mây lững lờ ngày ngày vẫn in bóng trên đầm,
Vật đổi sao dời trải đã bao thu.
Con vua ở trong gác nay ở chốn nào?
Ngoài hiên sông Trường Giang cứ chảy mãi.

Dịch

Gác Đằng cao ngất bãi sông thu
Ngọc muá vàng reo nay thấy đâu ?
Nam phố mây mai quanh nóc vẽ
Tây sơn mưa tối, cuốn rèm châu
Đầm nước mây vờn ngày tháng trôi
Mấy phen vật đổi với sao dời
Đằng vương thuở trước giờ đâu tá ?
Sông lớn ngoài hiên luống chảy hoài.

黃河遠上白雲間,
一片孤城萬仞山。
羌笛何須怨楊柳,
春風不度玉門關。

Xuất tái – Lương Châu từ

Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian,
Nhất phiến cô thành vạn nhận san.
Khương địch hà tu oán “Dương liễu”,
Xuân phong bất độ Ngọc Môn quan.

Dịch nghĩa

Xa xa, sông Hoàng Hà leo lên tận khoảnh mây trắng
Một vuông thành cô quạnh, muôn trượng núi cao
Tiếng sáo người Khương cần chi thổi bài “Chiết liễu”
Vì gió xuân nào có qua cửa ải Ngọc Môn đâu!

Dịch

Hoàng Hà, mây trắng liền nhau
Thành côi một mảnh, núi cao tiếp trời
Thổi chi “Chiết liễu” sáo ơi
Gió xuân đâu lọt ra ngoài Ngọc Môn.

君自故鄉來,
應知故鄉事。
來日綺窗前,
寒梅著花未。

Tạp thi kỳ 1

Quân tự cố hương lai,
Ưng tri cố hương sự.
Lai nhật ỷ song tiền,
Hàn mai trước hoa vị?

Dịch nghĩa

Anh từ quê cũ đến đây,
Chắc biết tình hình quê nhà.
Ngày ấy anh đến, che chắn trước cửa sổ,
Cây mai mùa đông đã nở hoa chưa?

Dịch

Bác ở quê nhà ra,
Việc quê nhà hẳn rõ.
Ngày đi, trước song the,
Mai nở hay chưa nở?

渭城朝雨浥輕塵,
客舍青青柳色新。
勸君更盡一杯酒,
西出陽關無故人。

Vị Thành khúc – Tống Nguyên nhị sứ An Tây

Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần,
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân.
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.

Dịch nghĩa

Tại Vị Thành, mưa ban sáng làm ướt đám bụi mỏng
Quán khách có liễu màu sắc mới mẻ xanh tươi
Xin anh hãy uống cạn chén rượu
Ra khỏi Dương Quan về phía tây e không còn có bạn nữa

Dịch

Mưa mai thấm bụi Vị Thành,
Liễu bên quán trọ sắc xanh ngời ngời.
Khuyên anh hãy cạn chén mời,
Dương quan ra khỏi ai người cố tri.

馬穿山徑菊初黃,
信馬悠悠野興長。
萬壑有聲含晚籟,
數峰無語立斜陽。
棠梨葉落胭脂色,
蕎麥花開白雪香。
何事吟余忽惆悵,
村橋原樹似吾鄉。

Thôn hành

Mã xuyên sơn kính cúc sơ hoàng,
Tín mã du du dã hứng trường.
Vạn hác hữu thanh hàm vãn lại,
Sổ phong vô ngữ lập tà dương.
Đường lê diệp lạc yên chi sắc,
Kiều mạch hoa khai bạch tuyết hương.
Hà sự ngâm dư hốt trù trướng,
Thôn kiều nguyên thụ tự ngô hương.

Dịch

Ngựa xuyên đường núi cúc khoe vàng
Buông lỏng giây cương mến cảnh làng
Hang hốc vi vu như sáo tối
Núi non lặng lẽ dưới tà dương
Cành đường rụng lá son tô thắm
Ruộng lúa đâm bong tuyết toả hương
Ngâm hết vì đâu lòng thổn thức?
Cây gò, cầu xóm giống quê hương.

寒雨連江夜入吳,
平明送客楚山孤。
洛陽親友如相問,
一片冰心在玉壺。

Phù Dung lâu tống Tân Tiệm kỳ 1

Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,
Bình minh tống khách Sở sơn cô.
Lạc Dương thân hữu như tương vấn,
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

Dịch nghĩa

Mưa lạnh rơi khắp mặt sông trong đêm vào đất Ngô,
Khi trời sáng tiễn khách chỉ có ngọn núi đất Sở trơ trọi.
Nếu như bạn bè thân thích ở Lạc Dương có hỏi thăm,
(Thì xin đáp tôi vẫn giữ) một mảnh lòng trong sáng như băng trong bình ngọc.

Dịch

Mưa lạnh tràn sông đêm đến Ngô
Sáng ra tiễn khách núi buồn trơ
Lạc Dương nếu có người thân hỏi
Một mảnh lòng băng tại ngọc hồ.

Những tác phẩm dịch của Nam Trân luôn để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả. Ngòi bút tinh tế cùng phong cách thơ độc đáo những bài thơ của ông như đang gõ cửa tâm hồn bạn đọc. Thi phẩm của ông giàu giá trị và được ca ngợi mạnh mẽ đến hiện nay. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Xem Thêm :