Câu thơ tài hoa được nhiều người tìm đọc nhất hôm nay 18/06/2026

Đáy bể lặng thầm không ánh nắng
Khát khao thấy đuợc sắc mặt trời
Thì xin hạt cát làm tâm ngọc
Đau đớn vo tròn một kiếp trai

Trai và ngọc trai - Thạch Văn Thân

Top 20 bài thơ có tổng lượt xem nhiều nhất hôm nay 18/06/2026

Tâm Sự

Tâm Sự (Huy Cận)

Chiều ơi! Hãy xuống thăm ta với!
Thiên hạ lìa xa, đời trống không.
Nắng xế ngậm ngùi trên mái cũ;
Đìu hiu bên phố, nhớ bên lòng.

Ta biết quen chiều tự thuở xưa,
Tin nghe xa vắng rộng không bờ
Một ngày trời đẹp bâng khuâng quá:
Ấy buổi đầu tiên bạn bút tờ.

Đã mấy năm rồi thơ nở hoa,
Trang vui cũng lúc lệ buồn nhòa.
Giòng đời cũng nặng sầu lưu thủy,
Tóc nặng sầu tư gió thổi tà.

Chiều ơi! Gặp gỡ đã đòi cơn;
Sương lạnh dồn thêm lệ tủi hờn,
Một buôi xưa kia phòng vắng bạn,
Đó ngày quen biết với cô đơn.

Có lúc xa người, bởi quá yêu,
Than ôi! Sông núi lại buồn nhiều.
Mây xa lạc gió bên trời vắng,
Đời bạt lòng ta, – lại gặp nhiều.

Kể lể tâm hồn đã bấy lâu;
Hôm nay nhìn lại nhớ thương đầu,
Một mình cũng muốn câu tâm sự:
Chiều xuống cùng ta đặng có nhau.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Tâm Sự” của tác giả Cù Huy Cận. Thuộc tập Lửa Thiêng (1940), danh mục Thơ Huy Cận trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Trọn bộ những bài thơ chữ nôm của nhà thơ Nguyễn Khuyến phần 4

Hôm nay phongnguyet.info sẽ tiếp nối phần 3 bằng những bài thơ chữ nôm vang danh của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến rất phong phú không những trong cách nói mà còn rất mỹ lệ, gợi cảm trong cách miêu tả. Ông đã có những cống hiến quan trọng làm cho ngôn ngữ đi sát với đời sống  và ông đã thành công trong việc chuyển cái tinh túy của đời thường thành thơ. Hãy cùng nhau theo dõi nhé!

Nội Dung

Nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày,
Thích chí cho nên lắm ngón hay;
Thơ Lý ngâm nga khi mở quyển,
Đàn Nha tình tính lúc lần dây.
Đem cờ vua Thích vui bè bạn,
Mượn chén ông Lưu học tỉnh say.
Bốn cảnh phong quang cùng tuế nguyệt,
Dưới đời tri kỷ mấy mươi tay?

Nghĩ truyện trần gian cũng nực cười!
Giời nào hơn vợ, vợ hơn giời?
Khôn đến mẹ mày là có một,
Khéo như con tạo cũng thời hai.
Giời dẫu yêu vì, nhưng có phận,
Vợ mà vụng dại, đếch ăn ai.
Cớ sao vợ lại hơn giời nhỉ?
Vợ chỉ hơn giời có cái trai!

Quai Mễ Thanh Liêm đã lở rồi,
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi
Gạo dăm ba bát cơ còn kém,
Thuế một vài nguyên dáng vẫn đòi.
Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng.
Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi.
Đi đâu cũng thấy người ta nói,
Mười chín năm nay lại cát bồi.

Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu,
Lụt lội năm nay bác ở đâu?
Mấy ổ lợn con rày lớn, bé?
Vài gian nếp cái ngập nông, sâu?
Phân thua suy tính càng thêm thiệt,
Tuổi cả chơi bời hoạ sống lâu.
Em cũng chẳng no mà chẳng đói,
Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu.

Ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng.
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó,
Non nước đầy vơi có biết không?

Mưỡu:
Người đâu tên họ là gì?
Khéo thay chích chích chi chi nực cười.
Vắt tay ngửa mặt lên trời,
Hẳn còn lo tính sự đời chi đây?
Hát nói:
Thấy phỗng đá lạ lùng muốn hỏi:
Cớ làm sao len lỏi đến chi đây?
Hay tưởng trông cây cỏ nước non này,
Chí cũng rắp dan tay vào hội lạc.
Thanh sơn tự tiếu đầu tương bạc,
Thương hải thuỳ tri ngã diệc âu.
Thôi cũng đừng chấp chuyện đâu đâu,
Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác.
Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác,
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác.
Cuộc tỉnh say, say tỉnh một vài câu,
Nên chăng đá cũng gật đầu!

Bà già đã bảy mươi tư,
Ngồi trong cửa sổ gửi thư lấy chồng.
Đã trót sinh ra kiếp má đào,
Bảy mươi tư tuổi có là bao ?
Xuân xanh xấp xỉ hàng răng rụng,
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao.
Chữ nhất nhi chung đành đã vậy,
Câu tam bất hiếu nữa làm sao ?
May mà chim được ông chồng trẻ,
Họa có sinh ra được chút nào ?

Bốn cóng kê giường;
Vài chồng cặp sách.
Cơm trắng canh ngon;
Ghế cao chiếu sạch.
Chữ thánh phù;
Câu thiên tích.
Chậu thau rửa mặt, tầm váo tầm vênh;
Điếu sứ long đờm, cóc ca cóc cách.
Thần Cầu Cậy xôi gà tuỳ thích, ông đã nên ông;
Bụt Nam Sơn oản tẻ chẳng từ, khách thời mặc khách.
Nguyên phù thầy đồ dã giả:
Râu ria nhẵn nhụi;
Mặt mũi ngông nghênh.
Văn pha “Nguyên mặc”;
Sách học “Quan hành”.
Chạy gạo chạy tiền, thất điên bát đảo;
Làm gà làm vịt, tứ đốm tam khoanh.
Số tử vi tuần triệt đương đầu, qua vòng vận hạn;
Đất văn học thần đồng phụ nhĩ, may bước công danh.
Nhiên nhi:
Mình lính tính quan;
Khôn nhà dại chợ.
Chơi đã hay ranh;
Cạnh còn mắc hớ.
Vài khoa thi hỏng xót ruột tiền cơm;
Mấy tháng công non, bấm gan thóc nợ.
Vách ông Khổng còn hòm khoa đẩu, mở một vài con;
Ngõ thầy Nhan treo túi đan biều, bảo dăm ba đứa.
Nón sơn úp ngực, đi liểu đi liều;
Bút thuỷ cài tai, sớn sơ sớn sở.
Nghĩ sểnh nhà ra thất nghiệp, cũng bật như cười;
E nằm mát ăn bát đầy, ai nuôi không hở?
Rằng:
Tôi nhà chủ, xin rước thầy ngồi.
Trầu nước đoạn, rượu chè rồi;
Bàn tiền đốn;
Tính cơm nuôi.
Chủ rằng đạo thánh là đạo rộng;
Thầy rằng tuỳ ông còn tuỳ tôi!
Mặt chữ điền vác hẳn lên trên, nết đâu có nết!
Chiếu hàm trượng vắt ngay ngồi giữa, ngôi đã nên ngôi.
Thầy đồ thầy lề;
Học trò học troẹt!
Nghịch như ma;
Đánh như két.
Bộ Sử đầu ;
Pho Dương tiết.
Mẹo hỏi lục kỳ;
Bài ra tam kiệt.
“Đô đô bình trượng ngã;
Thiết thiết phản nhân thiết.”
Chữ tứ thể lầm vài bốn lối, nét cứ như đanh;
Sách thập khoa quên đủ mười bài, văn trơ như thép.
Mô, tê, răng, rứa;
Giả, dã, chi, hồ.
Hoặc cầm roi nhi quát tháo;
Hoặc nghe sách nhi gật gù.
“Sừ tiên ban, sứ tiên cung”, bắt khoan bắt nhặt;
“Tiền diệc tặc, hậu diệc tặc”, tiếng nhỏ tiếng to.
Nước chè tầu uống một vài hơi, mặt cán tàn chi thẳng;
Thuốc lá tỉnh hút dăm ba điếu, đầu tán lọng chi rù.
Dĩ nhi:
Xem sách xem văn;
Chấm bài chấm đối.
Lên mặt thầy, sổ tựa băm bầu;
Bưng mắt chủ, khuyên như lòi tói.
Hạ bút xuống tô tô dạm dạm, mực trát đen sì;
Giở bài ra đọc đọc ngâm ngâm, son hoà đỏ chói.
Lương nguyệt đốn lại nài nhất đệ, bàn mỏng bàn dày;
Tiền hương khoa toan bổ đồng môn, thu chầy thu cối.
Dĩ nhi:
Khăn bỏ đầu rìu;
Quần xoay lá toạ.
Ôm bụng nằm mèo;
Nhe răng nói quạ.
Cầm quyển sách ngủ gà ngủ gật, đầu canh hai đã chực đi nằm;
Ra tiệc ngồi mắt trước mắt sau, cỗ bàn nhất lại toan đánh cả.
Cổ cò ngóng gái, “phụng thỉnh như lai”;
Tay vẹt vẽ bùa, “phó lô thiêu hoá”.
Cũng có lúc:
Việc làng việc họ;
Về cửa về nhà.
Bàn giang đởm;
Tính trù trà.
Thầy nài nẫm thêm dăm tiền nữa;
Chủ kèo cò đưa mấy đồng ra.
Ruột tượng thắt lưng, nguyên đồ khố rận;
Khăn tay giắt rốn, rặt giống cau già.
Cực nỗi người mặt nước chân mây, miếng cơm chểnh mảng;
Giở truyện chủ đầu cua tai muỗi, chén rượu khề khà.
Diệc hoặc:
Nhân khi nghỉ mát;
Nhẹ bước thanh nhàn.
Ả cuối ả đầu chi loại;
Tổ tôm tổ tép chi gian.
Bạch định, thập hồng, chèo đò Phó Duyệt;
Xuyên tâm, thượng mã, nổi trống Hà Nam.
Toét mắt được gì, đã lờ đờ như mất khố;
Cúi đầu về thẳng, diệc đủng đỉnh như tựu trường.
Đánh trống qua cửa nhà sấm;
Đem chuông đi đấm nước người.
Gắt như con khỉ;
Cười ngỡ đười ươi.
Rượu bứ cung thang, múa ba hoa chi mép;
Văn gàn bát sách, rung chữ ngũ chi đùi.
Tốt vậy thay!
Vị nghiễm hương sư;
Quyền long giáo dưỡng.
Dở lính dở quan;
Vừa thầy vừa tráng.
Ba chìm bảy nổi, ngông dại ngông càn;
Chín giận mười lành, nhớn nhơ nhớn nhác.
Chữ nghĩa sau;
Công nghĩa trước.
Há phải rằng là…;
Thôi thì bất nhược!
Gạt nước mắt khóc thầm cùng vũ trụ;
Trách trời xanh bạn với bút nghiên chi?
Hở hàm răng cười vụng với giang san;
Đem mặt trắng vẫy vùng son phấn nước!
Nỡ trừ công:
Nhất nhị như tam hề, thường tân nguyên đán;
Nhị tứ như bát hề, y phục công dung.
Thầy cậy khôn, một ly một tính;
Chủ sợ tốn, ba cọc ba đồng.
Võng đào khiêng chấm đất chi lưng, thực đài chửa chú?
Rượu cúc toét cù lì chi miệng, sao láo với ông?
Rõ ràng quốc sĩ;
Thực đấng anh hùng.
Phù khởi tích nhật chi đi dạy, học giả;
Diệc bất quá nhất anh đồ ngông, dã tai.
Viên tòng nhi ca chi viết:
Ê thầy đồ chi hữu tác hề.
Khướng chữ tốt nhi văn hay,
Truyện Thuý Kiều kỳ đọc ngược hề,
Kinh Tam tự kỳ biết ngay!
Thi nhân chính ư khuyên điểm hề,
Chấn thiên oai ư roi mây.
Ký lễ sinh chi phất nhược hề,
Thành kỳ mục chi nan tầy.
Hễ nhà chủ chi có nuôi hề
Tấc ngất ngưởng nhi vi thầy.
Hễ nhà chủ chi… đếch nuôi hề,
Rồi ông xem hộ chúng bay!…

Nghĩ xem đẹp nhất ở làng Và,
Tiếc gọi rằng già cũng chửa già
Làn sóng liếc ngang đôi mắt phượng
Tóc mây rủ xuống một đuôi gà.
Nói năng duyên dáng coi như thể…
Đi đứng khoan thai thế cũng là…
Nghe nói muốn thôi, thôi chửa được,
Được làm dơ dở đã thôi a?

Ngày xưa Lựu muốn lấy ông,
Ông chê Lựu bé, Lưu không biết gì.
Bây giờ Lựu đã đến thời,
Ông muốn lấy Lựu, Lựu chê ông già
Ông già ông khác người ta,
Những cái nhi nhắt, ông ma bằng mười.

Nghĩ rằng ông dại với ông điên,
Điên dại sao ông biết lấy tiền?
Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp,
Khoét thằng mặt trắng lấy tam nguyên.
Dấu nhà vừa thoát sừng trâu lỗ,
Phép nước xin chừa móng lợn đen.
Chỉ cốt túi mình cho nặng chặt,
Trăm năm mặc kệ tiếng chê khen.

Năm nào năm nảo hãy còn ngây,
Sầm sập già đâu đã đến ngay.
Mái tóc phần sâu, phần lốm đốm,
Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay.
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ,
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say.
Còn một nỗi này thêm chán ngán,
Đi đâu lủng củng cối cùng chày.

Trên đây chúng tôi đã chia sẻ đến quý độc giả những bài thơ chữ nôm đầy ấn tượng nhất của Nguyễn Khuyến. Ông là một nhà thơ có đóng góp lớn cho nền văn học Việt Nam. Mời quý độc giả đón xem phần 5 vào một ngày gần nhất nhé!

Xem Thêm: Trọn bộ những bài thơ chữ nôm của nhà thơ Nguyễn Khuyến phần 3

NẮM TAY NHAU ANH NHÉ

Chờ em một chút thôi
Rồi ngày mai mình sẽ
Cùng bên nhau vui vẻ
Chia sẻ những buồn vui

Cho nhau cả ngọt bùi
Chôn vùi đi quá khứ
Lỗi lầm mình tha thứ
Bao dung giữ yêu thương

Gặp nhau nửa chặng đường
Tuổi dường như mấy độ
Nếm bao nhiêu nỗi khổ
Loang lổ vết thương lòng

Đời…số kiếp long đong
Hên.. vòng tay sưởi ấm
Xui…ôm vào lệ đẫm
Đủ thấm thía một đời

Thôi.. đừng nói xa xôi
Mình vun bồi anh nhé
Dệt Thiên đường mới mẻ
Lướt nhẹ đến bên nhau

Dù cho đã từng đau
Chẳng sao đâu anh hỡi
Mỗi ngày niềm vui mới
Đang đợi đón chúng ta .

Tác giả: Thu Thảo

 

 

Bài Ca Bình Bắc

Bài Ca Bình Bắc (Vũ Hoàng Chương)

Kể từ đấy
Mặt trời mọc ở phương Ðông, ngùn ngụt lửa
Mặt trời lặn ở phương Ðoài, máu chứa chan
Đã sáu mươi ngàn lần …
Và từ đấy cũng sáu mươi ngàn lần
Trăng tỏ bóng nơi rừng cây đất Bắc
Trăng mờ gương nơi đồng lúa miền Nam
Ruộng dâu kia bao độ sóng dâng tràn
Hãy dừng lại thời gian
Trả lời ta – Có phải?
Dưới vầng nguyệt lạnh lùng quan ải
Dưới vầng dương thiêu đốt quan san
Lớp hưng phế xô nghiêng từng triều đại
Mà chí lớn dọc ngang
Mà nghiệp lớn huy hoàng
Vẫn ngàn thu còn mãi
Vẫn ngàn thu người áo vải đất Quy Nhơn

Ôi người xưa Bắc Bình Vương
Ðống Ða một trận năm đường giáp công
Ðạn vèo năm cửa Thăng Long
Trắng gò xương chất, đỏ sông máu màng
Chừ đây lại đã xuân sang
Giữa cố quận một mùa xuân nghịch lữ
Ai kia lòng có mang mang
Ðầy vơi sầu xứ – Hãy cùng ta
Ngẩng đầu lên, hướng về đây tâm sự
Nghe từng trang lịch sử thét từng trang

Một phút oai thần dậy sấm
Tan vía cường bang
Cho bóng kẻ ngồi trên lưng bạch tượng
Cao chót vót năm mầu mây chiêm ngưỡng
Dài mênh mông vượt khỏi lũy Nam Quan
Và khoảng khắc
Ðổ xuôi chiều vươn ngược hướng
Bao trùm lên đầu cuối thời gian
Bóng ấy đã ghi sâu vào tâm tưởng
Khắc sâu vào trí nhớ dân gian
Một bành voi che lấp mấy ngai vàng

Ôi Nguyễn Huệ người anh hùng áo vải
Muôn chiến công, một chiến công dồn lại
Một tấm lòng, muôn vạn tấm lòng mang
Ngọn cờ vung, bao tính mệnh sẵn sàng
Người cất bước, cả non sông một dải
Vươn mình theo – dãy Hoành Sơn mê mải
Chạy dọc lên thông cảm ý ngang tàng
Cùng chồm dậy đáp lời hô vĩ đại
Chín con rồng bơi ngược Cửu Long Giang
Người ra Bắc, oai thanh mờ nhật nguyệt
Khí thế kia làm rung động càn khôn
Lệnh ban xuống, lời lời tâm huyết
Nẻo trường chinh ai dám bước chân chồn
Gươm thiêng cựa vỏ
Giặc không mồ chôn
Voi thiêng chuyển vó
Nát lũy tan đồn
Ôi một hành ca hề, gào mây thét gió
Mà ý tướng, lòng quân hề, bền sắt tươi son

Hưởng ứng sông hồ giục núi non
“Thắt vòng vây lại” tiếng hô giòn
Tơi bời máu giặc, trăng liềm múa
Tan tác xương thù, ngựa đá bon

Sim rừng, lúa ruộng, tre thôn
Lòng say phá địch, khúc dồn tiến quân
Vinh quang hẹn với phong trần
Ðống Ða gò ấy mùa xuân năm nào

Nhớ trận Ðống Ða hề thương mùa xuân tới
Sầu xuân vời vợi
Xuân tứ nao nao
Nghe đêm trừ tịch hề, máu nở hoa đào
Ngập giấc xuân tiêu hề, lửa trùm quan tái
Trời đất vô cùng hề, một khúc hát ngao
Chí khí cũ gầm trong da thịt mới
Vẳng đáy sâu tiềm thức, tiếng mài dao
Ðèo Tam Ðiệp hề, lệnh truyền vang dội
Sóng sông Mã hề ngựa hí xôn xao
Mặt nước Lô Giang hề, là trầm biếc khói
Mây núi Tản Viên hề, lọng tía giương cao
Rằng: “Ðây bóng kẻ anh hào
Ðã về ngự trên ngã ba thời đại”
Gấm vóc giang sơn hề, còn đây một dải

Thì nghiệp lớn vẻ vang
Thì mộng lớn huy hoàng
Vẫn ngàn thu còn mãi
Ôi ngàn thu người áo vải đất Quy Nhơn

Nay cuộc thế sao nhòa, bụi vẩn
Lũ chúng ta trên ngã ba đường
Ghi ngày giỗ trận
Mơ BẮC BÌNH VƯƠNG
Lòng đấy thôn trang hề, lòng đây thị trấn
Mười ngã tâm tư hề, một nén tâm hương
Ðồng thanh rằng: “Quyết noi gương”

Ðể một mai bông thắm cỏ xanh rờn
Ca trống trận thôi lay bóng nguyệt
Mừng trời đất gió bụi tan cơn
Chúng ta sẽ không hổ với người xưa
Một trận Ðống Ða nghìn thu oanh liệt
Vì ta sau trước lòng kiên quyết
Vàng chẳng hề phai, đá chẳng sờn.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Bài Ca Bình Bắc” của tác giả Vũ Hoàng Chương. Thuộc tập Hoa Đăng (1959), danh mục Thơ Vũ Hoàng Chương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Đơn Khiếu Ong, Bướm Của Bách Hoa Tâu Lên Đức Thượng Đế

Đơn Khiếu Ong, Bướm Của Bách Hoa Tâu Lên Đức Thượng Đế (Tản Đà)

Bụi trần vùi rấp, kêu lên xin thấu đến từng xanh
Đèn giời sáng soi, trông xuống rủ thương cho phận bạc
Chị em tôi
Con nhà xanh vỏ
Nặng nghiệp má đào
Dì gió rủ rê
Ông tơ ghét bỏ
Cha sinh mẹ dưỡng, công trình trải mấy tuyết sương
Sớm điểm chiều tô, nghề nghiệp biết bao hương phấn
Những mong được xôn xao bạn yến, một cười ắt hẳn nghìn vàng
Nào ngờ đâu sơ sác thân vờ, trăm mờ không còn một mảnh
Thời nguyên:
Có những kẻ quần hồ áo cánh, phấp phới hôm mai
Lại nhiều ông đầu mũ lưng đai, vo ve ngày tháng
Vườn hồng tỏ nẻo
Lá thắm đưa tin
Chơi cho liễu chán đào chê, ngả nghiêng lơi lả
Rút cục đông bay tây séo, bỗng tếch tình lang
Gió lật giăng lừa, nghĩ những oán thương cho số kiếp
Nhị tàn hương tạ, nói càng hổ thẹn với giang sơn
Khoá buồng xuân muốn để đợi ngày
Trách dì gió vì ai mở lối
Bầu con bẽ nhớn, tụi Sở Khanh đâu đã dẫn mo vào
Trắng đốm vàng pha, phường Bạc Hạnh dám còn đem mặt đến
Bộ xỏ lá trông đà lộn ruột
Sức thơ đào nghĩ lại non gan
Xót thương phận mỏng cánh chuồn, cắn ngọn cỏ quì tâu nơi chứng quả
Muôn đội uy vang tiếng sét, phá từng mây đánh hết giống chơi vòi
Một lá tu đơn
Trăm hoa kí kết

Lan, Cúc, Đào, Sen, Mai, Trà…

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Đơn Khiếu Ong, Bướm Của Bách Hoa Tâu Lên Đức Thượng Đế” của tác giả Nguyễn Khắc Hiếu. Thuộc tập Khối Tình Con > Quyển II (1918), danh mục Thơ Tản Đà trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Top 10 Bài thơ hay của nhà thơ Nguyễn Duy

Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh ngày 7/12/1948 tại xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn, Thanh Hoá. Năm 1966 ông nhập ngũ, trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin. Nguyễn Duy từng tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường Khe Sanh, Đường 9 – Nam Lào, rồi sau này là mặt trận phía Nam, mặt trận phía Bắc (1979). Sau đó ông giải ngũ, làm việc tại tuần báo Văn nghệ, Hội nhà văn Việt Nam và là Trưởng đại diện của báo này tại phía Nam.

Nguyễn Duy làm thơ rất sớm. Tác phẩm đầu tay của ông là bài thơ Trên sân trường viết từ đầu những năm 60, khi còn là một học sinh phổ thông ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá. Nhưng phải mãi đến năm 1973, ông mới thực sự nổi tiếng với chùm thơ đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt Nam. Và cũng bắt đầu từ đấy, chúng ta có Nguyễn Duy, một thi sĩ đặc sắc cuối những năm chiến tranh và lại rực rỡ trong hoà bình. Ông được tặng Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. phongnguyet.info xin giới thiệu những bài thơ hay của ông.

Bài thơ: Tre Việt Nam

Tre Việt Nam

Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh

Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu

Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm

Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre không ở riêng
Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người
Chẳng may thân gãy cành rơi
Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con

Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre
Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu

Mai sau,
Mai sau,
Mai sau…
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh

1970-1972

Nguồn: Nguyễn Duy, Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, 1973

Bài thơ: Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa…

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa…

Thơ Nguyễn Duy

Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

Cái cò… sung chát đào chua…
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm…
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ… mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng

Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương…

Saigon, mùa thu 1986

Nguồn: Nguyễn Duy, Mẹ và Em, Nxb Thanh Hoá, 1987

Bài thơ: Ánh trăng

Ánh trăng

Thơ Nguyễn Duy

Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với biển
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỷ

Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa

Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường

Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn

Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng

Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình

TP. Hồ Chí Minh, 1978

Nguồn: Nguyễn Duy, Ánh trăng, NXB Tác phẩm mới, 1984

Bài thơ: Đò Lèn

Đò Lèn

Thơ Nguyễn Duy

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần
cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm

Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!

9-1983

Bài thơ này được sử dụng làm bài đọc thêm trong chương trình SGK Ngữ văn 12 từ 2007.

Nguồn: Nguyễn Duy, Ánh trăng, Nxb Tác phẩm mới, 1984

Bài thơ: Đánh thức tiềm lực

Đánh thức tiềm lực

Thơ Nguyễn Duy

Tiễn đưa anh S.D. đi làm kinh tế

Hãy thức dậy, đất đai!
cho áo em tôi không còn vá vai
cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn…
xin bắt đầu từ cơm no, áo ấm
rồi thì đi xa hơn – đẹp, và giàu, và sung sướng hơn

Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non
châu báu vô biên dưới thềm lục địa
rừng đại ngàn bạc vàng là thế
phù sa muôn đời như sữa mẹ
sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể
còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào?
lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?

***

Lúc này ta làm thơ cho nhau
đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên…

***

Tôi lớn lên bên bờ bãi sông Hồng
trong màu mỡ phù sa máu loãng
giặc giã từ con châu chấu, con cào cào
mương máng, đê điều ngổn ngang chiến hào
trang sử đất ngoằn ngoèo trận mạc
giọt mồ hôi nào có gì to tát
bao nhiêu đời mặn chát các dòng sông
bao nhiêu thời vỡ đê trắng đất mất đồng
thuyền vỏ trấu mỏng manh ba chìm bảy nổi
khúc dân ca cũng bèo dạt mây trôi
hột gạo nõn nà hao gầy đi vì thiên tai
đói thâm niên
đói truyền đời
điệu múa cổ cũng chậm buồn như đói…

***

Tôi đã qua những chặng đường miền Trung bỏng rát và dai dẳng
một bên là Trường-Sơn-cây-xanh
bên còn lại Trường-Sơn-cát-trắng
đồng bằng hình lá lúa gầy nhẳng
cơn bão chưa qua, hạn hán đổ tới rồi
ngọn cỏ nhọn thành gai mà trốn không khỏi úa
đất nứt nẻ ngỡ da người nứt nẻ
cơn gió Lào rát ruột lắm em ơi!

Hạt giống ở đây chết đi sống lại
hạt gạo kết tinh như hạt muối
cây lúa đứng lên cũng đạp đất đội trời

***

Tôi về quê em – châu thổ sáng ngời
sông Cửu Long giãn mình ra biển
đất cuồn cuộn sinh sôi và dịch chuyển
cây mắm cây tràm lặn lội mở đường đi

Đất tân sinh ngỡ ngọt ngào trên mặt
lòng còn chát chua nào mặn nào phèn
má sung sức và ba cường tráng thế
man mác âu sầu trong câu hát ru em

Đã qua đi những huyền thoại cũ mèm
những đồng lúa ma không trồng mà gặt
những ruộng cá không nuôi mà sẵn bắt
những ghểnh cẳng, vuốt râu mà làm chơi ăn thật
miếng ăn nào không nước mắt mồ hôi!

Ruộng bát ngát đó thôi, và gạo đắt đó thôi
đất ghiền phân vô cơ như người ghiền á phiện
con rầy nâu khoét rỗng cả mùa màng
thóc bỏ mục ngoài mưa thiếu xăng dầu vận chuyển
phà Cần Thơ lê lết người ăn xin
cây đàn hát rong não nề câu vọng cổ
quán nhậu lai rai – nơi thừa thiếu trốn tìm

***

Này, đất nước của ba miền cày ruộng
chưa đủ no cho đều khắp ba miền
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên…

***

Lúc này tôi làm thơ tặng em
em có nghĩ tôi là đồ vô dụng?
vô dụng lấy đi của cuộc sống những gì
và trả lại được gì cho cuộc sống?

Em có nghĩ tôi là con chích choè ăn và gại mỏ?

Em có nghĩ tôi là tay chuyên sản xuất hàng giả?

Em có nghĩ tôi là kẻ thợ chữ đục đẽo nát cả giấy
múa võ bán cao trên trang viết mong manh?
tình nghĩa nhập nhằng với cái hư danh
tờ giấy chép văn thành tờ giấy bạc

Em có nghĩ…
mà thôi!

***

Xin em nhìn kia – người cuốc đất
(tôi cũng từng chai tay cuốc đất)
cái cuốc theo ta đời này, đời khác
lưỡi cuốc nhỏ nhoi liếm sạch cánh đồng rồi
dướn mình cao
chĩa cuốc lên trời
bổ xuống đánh phập
đẹp lắm chứ cái tạo hình cuốc đất!

Xin em nhìn – người gánh phân, gánh thóc
(tôi cũng từng mòn vai gánh phân, gánh thóc)
kẽo kẹt hai vai một nhịp cầu vồng
đẹp lắm chứ cái tạo hình gồng gánh!

Những cái đẹp thế kia… em có chạnh lòng không?
cái đẹp gợi về thuở ngày xưa ngày xửa
nhịp theo tiết tấu chậm buồn
cái đẹp ấy lẽ ra không nên tồn tại nữa!

Em có chạnh lòng chăng
giữa thành phố huy hoàng bạt ngàn quán nhậu
bỗng hiện lù lù cái xe hơi chạy than
vệt than rơi toé lửa mặt đường

Em có chạnh lòng chăng
xích lô đạp càng ngày càng nghênh ngang
xích lô máy và xe lam chạy dầu vừa nã đại liên vừa phun khói độc
người đi bộ vừa đi vừa nghĩ về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên…

***

Tôi trót sinh ra nơi làng quê nghèo
quen cái thói hay nói về gian khổ
dễ chạnh lòng trước cảnh thương tâm

Làng tôi xưa toàn nhà tranh vách đất
bãi tha ma không một cái mả xây
mùa gặt hái rơm nhiều, thóc ít
lũ trẻ chúng tôi vầy đất tối ngày

Thuở tới trường cũng đầu trần chân đất
chữ viết loằng ngoằng củ sắn ngọn khoai
thầy giáo giảng rằng
nước ta giàu lắm!…
lớp lớp trẻ con cứ thế học thuộc bài

***

Lúc này
tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa
ta biết buồn để biết lạc quan
và, để nhắn lại sau ta cho lớp lớp trẻ con
(dù sau này dầu mỏ đã phun lên
quặng bô-xít cao nguyên đã thành nồi thành soong
thành tàu bay hay tàu vũ trụ…
dù sau này có như thế… như thế… đi nữa
thì chúng ta vẫn cứ nên nhắn lại)
rằng
đừng quên đất nước mình nghèo!

Lúc này
tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa
tuổi thanh xuân trọn vẹn cuộc chiến tranh
sau lưng ta là kỷ niệm bi tráng
trước mặt ta vẫn con đường gập ghềnh
vẫn trang trọng tấm lòng trung thực
dù có thể lỗi lầm – làm thế nào mà biết trước
dù có sao thì cũng phải chân thành

Xưa mẹ ru ta ngủ yên lành
để khôn lớn ta hát bài đánh thức
có lẽ nào người lớn cứ ru nhau
ru tiềm lực ngủ vùi trong thớ thịt

***

Tiềm lực còn ngủ yên
trong quả tim mắc bệnh đập cầm chừng

Tiềm lực còn ngủ yên
trong bộ óc mang khối u tự mãn

Tiềm lực còn ngủ yên
trong con mắt lờ đờ thuỷ tinh thể

Tiềm lực còn ngủ yên
trong lỗ tai viêm chai màng nhĩ

Tiềm lực còn ngủ yên
trong ống mũi khò khè không nhận biết mùi thơm

Tiềm lực còn ngủ yên
trong lớp da biếng lười cảm giác

Năng động lên nào
từ mỗi tế bào, từ mỗi giác quan
cố nhiên cần lưu ý tính năng động của cái lưỡi

***

Cần lưu ý
lời nói thật thà có thể bị buộc tội
lời nịnh hót dối lừa có thể được tuyên dương
đạo đức giả có thể thành dịch tả
lòng tốt lơ ngơ có thể lạc đường

Cần lưu ý
có cái miệng làm chức năng cái bẫy
sau nụ cười là lởm chởm răng cưa
có cái môi mỏng rát hơn lá mía
hôn má bên này bật máu má bên kia
có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa
khái niệm bắn ra không biết lối thu về

Cần lưu ý
có lắm sự nhân danh lạ lắm
mượn áo thánh thần che lốt ma ranh
nhân danh thiện tâm làm điều ác đức
rao vị nhân sinh để bán món vị mình

Cần lưu ý
có lắm nghề lạ lắm
nghề mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau
nghề chửi đổng, nghề ngổi lê, nghề vu cáo
nghề ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồng bào
có cả nghề siêu nghề gọi là nghề không làm gì cả
thọc gậy bánh xe cũng một thứ nghề…

Bộ sưu tập những điều ngang trái ấy
phù chú ma tà ru tiềm lực ngủ mê

***

Tôi muốn được làm tiếng hát của em
tiếng trong sáng của nắng và gió
tiếng chát chúa của máy và búa
tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai
tiếng trần trụi của lưỡi cuốc
lang thang
khắp đất nước
hát bài hát
ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC…

Tp. Hồ Chí Minh 1980-1982

Đoạn đầu bài thơ này được sử dụng trong đề thi tốt nghiệp THPT quốc gia môn Ngữ văn năm 2018.

Nguồn: Nguyễn Duy, Mẹ và Em, NXB Thanh Hoá, 1987

Bài thơ: Hơi ấm ổ rơm

Hơi ấm ổ rơm

Thơ Nguyễn Duy

Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm
Bà mẹ đón tôi trong gió đêm
– Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ
Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ
Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm

Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác gầy gò

Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no
Riêng cái ấm nồng nàn như lửa
Cái mộc mạc lên hương của lúa
Đâu dễ chia cho tất cả mọi người

Bình Lục – một đêm lỡ đường

Nguồn: Nguyễn Duy, Cát trắng, Nxb Quân đội nhân dân, 1973

Bài thơ: Tiếng hát mùa gặt

Tiếng hát mùa gặt

Lúa chín
Đồng chiêm phả nắng lên không
Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng
Gió nâng tiếng hát chói chang
Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời

Gặt lúa
Tay nhè nhẹ chút người ơi
Trông đôi hạt rụng hạt rơi xót lòng
Dễ rơi là hạt đầu bông
Công một nén, của một đồng là đây

Tuốt lúa
Mảnh sân trăng lúa chất đầy
Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình
Rơm vò từng búi rối tinh
Thân rơm rách để hạt lành lúa ơi

Phơi khô
Nắng non mầm mục mất thôi
Vì đời lúa đó mà phơi cho giòn
Nắng già hạt gạo thêm ngon
Bưng lưng cơm trắng nắng còn thơm tho

Quạt sạch
Cám ơn cơn gió vô tư
Quạt đi vù vù rác rưởi vương rơi
Hạt nào lép cứ bay thôi
Gió lên cho lúa sáng ngời mặt gương!

Đông Vệ – vụ chiêm 1971

Nguồn: Nguyễn Duy, Cát trắng, Nxb Quân đội nhân dân, 1973

Bài thơ: Vườn cây của ba

Vườn cây của ba

Thơ Nguyễn Duy

Má trồng toàn những cây dễ thương
Nào là hoa, là rau, là lúa
Còn ba trồng toàn cây dễ sợ
Cây xù xì, cây lại có gai

Cái gai bưởi đụng vào thì chảy máu
Trái sầu riêng rớt xuống thì đầu u
Nhựa hột điều dính vào là rách áo
Cây dừa cao eo ơi, cao là cao

Cây ba trồng sống lâu thiệt là lâu
Mưa chẳng dập gió lay chẳng đổ
Thân xù xì cứ đứng trơ trơ
Cành gai góc đâm ngang tua tủa

Bưởi, sầu riêng, dừa, điều nhiều nhiều nữa
Cho em bốn mùa vị ngọt hương thơm
Vườn của ba cây trồng thì dễ sợ
Mà trái nào cũng thiệt dễ thương.

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phan Nhân phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

Bài thơ: Đà Lạt một lần trăng

Đà Lạt một lần trăng

Thơ Nguyễn Duy

Trăng ảo ảnh lập lờ trong sương trắng
ngọn gió nhà ai thấp thoáng ở bên đồi
tiếng móng ngựa gõ ròn trên dốc vắng
nghe mơ hồ một chiếc lá thông rơi

Em nhóm bếp bằng củi ngo chẻ nhỏ
ngọn lửa lấp đi khoảng vắng giữa hai người
tôi lơ đãng nhìn em nhìn lơ đãng
siêu nước pha trà vừa ấp úng sôi

Em biết chứ, chả ai lơ đãng cả
hòn than kia đang đỏ đến hết lòng
mà ngọn lửa cứ giả vờ le lói
mùi nhựa thông theo sợi khói đi vòng…

Đà Lạt, 1984

Nguồn: Nguyễn Duy, Ánh trăng, Nxb Tác phẩm mới, 1984

Bài thơ: Được yêu như thể ca dao

Được yêu như thể ca dao

Thơ Nguyễn Duy

Bao giờ cho tới ngày xưa
yêu như các cụ cho vừa lòng ta
cái thời chưa nhiễm SIDA
yêu lăn yêu lóc la đà đã chưa

Ðược yêu như các cụ xưa
cũng trăng gió cũng mây mưa ào ào
được yêu như thể ca dao
đủ phờ phạc đất đủ lao đao trời

Tây Tàu cũng thế thì thôi
y chang cay đắng ngọt bùi khổ đau
không trầu mà cũng chẳng cau
làm sao cho thắm môi nhau thì làm

(22-12-1993)

Nguồn: Nguyễn Duy, Về, NXB Hội nhà văn, 1994

Trịnh Công Sơn đã có nhận xét về Nguyễn Duy: “Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó…”.

Không Đề 34

Không Đề 34 (Thu Bồn)

Mùa thu trong veo bước nhẹ
Rừng phả lên ngàn vạn ánh lân tinh
Đêm đẫm sao trời anh khát quá
A di đà phật khát chúng sinh

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Không Đề 34” của tác giả Hà Đức Trọng. Thuộc tập 100 Bài Thơ Tình Nhờ Em Đặt Tên (1992), danh mục Thơ Thu Bồn trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Chợ Ngày Xuân

Chợ Ngày Xuân (Anh Thơ)

Mưa vừa tạnh, nắng bừng trên quán mới,
Trên cây đa lấp loáng gió lao xao
Trên những giải lưng điều bay phấp phới,
Các cô nàng lơ lẳng nón quai thao.

Chợ đông quá! Chỗ này vài chiếu bạc,
Những chàng trai ô mới mở dương vây;
Cười nói, nói luôn mồm và chỗ khác
Mấy cụ ngồi nhắm rượu gật gù say.

Nhưng đông nhất quán hàng người đoán thẻ
– Một lão già kính trắng, bịt khăn đen –
Các cô gái chen nhau vào, vui vẻ
Nghe Thánh truyền sắp đắt mối lương duyên.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Chợ Ngày Xuân” của tác giả Vương Kiều Ân. Thuộc tập Bức Tranh Quê (1941), danh mục Thơ Anh Thơ trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Tiễn Người Làm Thơ

Tiễn Người Làm Thơ (Hồ Xuân Hương)

Dắt díu đưa nhau đến cửa chiền
Cũng đòi học nói nói không nên
Ai về nhắn nhủ phường lòi tói
Muốn sống đem vôi quét trả đền

(Bản khắc 1922)

– Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Tiễn khách
Câu 1: Dắt díu đi đâu đến cảnh chiền
Câu 3: Ai về nhắn bảo phường lòi tói
Câu 4: Muốn sống đem vôi quét cửa đền

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Tiễn Người Làm Thơ” của tác giả Hồ Xuân Hương. Thuộc tập Thơ Nôm Truyền Tụng, danh mục Thơ Hồ Xuân Hương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!