Câu thơ tài hoa được nhiều người tìm đọc nhất hôm nay 03/11/2026

Mùa xuân trôi với dòng người
Mỗi màu áo một khoảng trời lướt qua
Tương tư hoa gạo quê nhà
Tự nhiên áo đỏ làm ta giật mình

Hoa gạo - Nguyễn Duy

Top 20 bài thơ có tổng lượt xem nhiều nhất hôm nay 03/11/2026

LẮNG GIỌT SẦU

Nếu vô tình hai đứa gặp lại nhau
Xin quay mặt vì nỗi đau còn đó
Không thể xóa hay quên và buông bỏ
Kí ức buồn còn hiện rõ trong tim

Nếu vô tình bất giác sự lặng im
Thì hãy bước đừng tìm câu hứa cũ
Bởi năm tháng đau thương kia góp đủ
Những đắng cay đã giữ nửa linh hồn

Nếu vô tình nhớ lại cảnh hoàng hôn
Mà ngày ấy ta bồn chồn mong đợi
Chờ đến lúc nước thủy triều dâng tới
Nhưng bàn tay xa tầm với một người

Nếu vô tình là nước mắt đôi mươi
Là đau đớn là nụ cười ngấn lệ
Là chua chát giữa dòng đời dâu bể
Thì hãy xem như thể chửa từng quen

Nếu vô tình con phố lịm ánh đèn
Đừng cố gắng bon chen vào kỉ niệm
Cũng đừng hỏi cũng xin đừng tìm kiếm
Bước qua nhau như trải nghiệm cuộc tình.

Tác giả: Thu Thảo

 

 

Nhớ Các Bạn Độc Giả Của “An Nam Tạp Chí”

Nhớ Các Bạn Độc Giả Của “An Nam Tạp Chí” (Tản Đà)

(Tặng An Nam tạp chí)

Nhớ ai, chẳng nhớ những là ai
Mây nước xa trông luống ngậm ngùi
“Tạp chí” mươi kỳ duyên đã nhạt
“An Nam” hai chữ mực hồ phai
Ba thu ngày tháng la đà uổng
Bốn bể âm thư vắng vẻ hoài
Bóng lặn tà dương, giời sẩm tối
Ếch kêu đầy phố tiếng xe hơi!

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Nhớ Các Bạn Độc Giả Của “An Nam Tạp Chí”” của tác giả Nguyễn Khắc Hiếu. Thuộc tập Khối Tình Con > Quyển III (1932), danh mục Thơ Tản Đà trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

 

NỐI VÒNG TAY LỚNTác giả / Thu Thảo

Đôi lời muốn gởi cho nhau
Việt Nam hứng chịu nỗi đau chia lìa
Chiến sĩ thức trọn canh khuya
Chăm lo nơi ở sẻ chia tâm tình

Gia đình xã hội văn minh
Covi nguy hiểm ,tình hình lây nhanh
Mỗi người chỉ việc chấp hành
Làm đúng quy định thật nhanh an toàn

Thật tâm mà nói bàng hoàng
Biết là trách nhiệm lo toan dân tình
Ai cũng muốn.. vợ con xinh
Nhưng mà thời thế buộc mình cách ly

Các bạn vùng dịch bị gì
Sẽ đem xét nghiệm, côvi ra liền
Mỗi người tự giác đầu tiên
Bản thân phải biết bớt phiền ưu lo

Quân dân bác sĩ dặn dò
Nghỉ ngơi ,dưỡng sức ,đừng lo lắng nhiều
Động viên các bạn bao nhiêu
Thì lòng của họ đau nhiều bạn ơi

Nhiều khi bác sĩ rã rời
Mồ hôi đẫm áo đang rơi ướt người
Họ nằm ngủ giống đười ươi
Nhường cho các bạn, ấm người trong chăn

Nhiều lần cảm thấy khó khăn
Nhưng mà vẫn cố vẫn hăng say làm
Vì lòng yêu nước Việt Nam
Vì lòng trung hiếu, nên làm thiện nhân

Chỉ mong các bạn hiểu dần
Cùng nhau vượt nỗi gian truân cuộc đời
Ai cũng ao ước nụ cười
Ngày mai tươi sáng bên người mình yêu

Chỉ cần hai mốt ngày nhiêu
Cách ly đúng cách ,thì đều về thôi
Đồng lòng đuổi dịch bệnh thôi
Để cùng con cháu nụ cười hân hoan

Muốn cho yên ổn an toàn
Mọi người bỏ tiệc liên hoan ,ở nhà
Chấp hành nghị định nước ta
Đẩy lùi Cô vít nhà nhà yên vui.

Tác giả: Thu Thảo

 

 

Trao Đổi

Trao Đổi (Tế Hanh)

Tôi dư một ít lời thơ,
Tôi dư thương sớm, sẵn ngơ ngẩn chiều;
Chất chen xa lạ vô liêu,
Trán đầy trăng gió, rất nhiều mùa thu…

Nhưng tôi nghèo lắm: than ôi
Đó đây lẻ chiếc trọn đời bơ vơ!
Tủi thân chỉ gặp hững hờ;
Lòng đơn lạnh lẽo nay chờ mai trông.

Bạn ơi! đây của đây lòng
Xin đem tặng bạn tặng không đủ rồi;
Có chăng mong mỏi đôi hồi
Bạn cười tôi với ngó tôi ít lần.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Trao Đổi” của tác giả Trần Tế Hanh. Thuộc tập Nghẹn Ngào (1939), danh mục Thơ Tế Hanh trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Top 19 Bài thơ hay của nhà thơ Đoàn Thịnh

Nhà thơ Đoàn Thịnh sinh ngày 19-5-1948, Quê quán xã Tự lập huyện Mê Linh thành phố Hà Nội. Ông tham gia quân nhân từ năm 1967 đến năm 1976. Sau đó làm việc trong bộ Công an từ năm 1977 đến năm 1998, nay đã nghỉ hưu. Hiện nay ông đang cư trú tại Khu nhà ở Công ty Sông Công, Hà Trì, Hà Cầu, Hà Đông Hà Nội. Ông đã xuất bản hai tập thơ: Mẹ ngồi đưa chiếc võng không, nhà xuất bản Hội nhà văn năm 2014, Tiếng nạng gỗ nhà xuất bản Hội nhà văn năm 2015. phongnguyet.info xin giới thiệu những bại thơ hay của ông.

Bài thơ: Bâng khuâng những điều không cuối

Bâng khuâng những điều không cuối
Thơ Đoàn Thịnh

Nào còn mo cau nối cầu mưa trưa hạ
Bèo lưng ao, hoa tím nốt một lần
Ngẩn ngơ, chiều như vẫn gợn bàn chân
Đất nồng ngái, đồng xa dầm ải.

Ơi! những cuối cùng nào còn lại
Vương nơi tôi, trong xác, trong hồn
Cho tôi hôn thêm nữa cái còn
Và hoá lửa thiêng những gì đã hoá.

Đâu, kẽo kẹt tre đu?
Nước giếng làng giờ như giọt ngọc
Vaị sung, buồng cau, bồ thóc
Móng trâu khua đường gạch sớm ra đồng…

Những cái cuối còn không?
Để gần xa, chạnh lòng nhớ về tiên tổ
Nhà mấy mươi tầng lô xô bóng đổ
Đường đan xen hối hả người đi
Đau đáu, ai tìm lại cũ, còn gì!

Vô cảm, thời gian cứ đi.
Xin kết lại sau nặng dày kí ức
Em gái lớn căng tràn làn ngực
Tóc mi xanh có như lá như chồi?

Hương vẫn dành, dù còn lạị một thôi
Để đi tận cùng và cho tận cuối
Gió vẫn gió
Sang mùa
Gội mới
Ta bâng khuâng không cuối, không cùng.

ĐoànThịnh

Bài thơ: CỨ HỎI


CỨ HỎI
Thơ Đoàn Thịnh

Cứ hỏi mãi chúng mình hai nửa
Là của nhau từ bấy đến giờ
Ngần ấy đã mà còn hỏi nữa
Có khi nào không của nhau chưa.

Cứ hỏi mãi chúng mình hai nửa
Vẫn của nhau dằng dặc mặn nồng.
Hai phần tóc giờ sâu bạc cả
Vẫn chạnh lòng thật của nhau không.

Và là khi cuối đận bà ông
Âu định mệnh hai ta một khuyết
Vẫn thẳm sâu âm dương cách biệt
Lo phần kia liệu có kẻ cùng.

Rồi mai nơi chín suối trùng phùng
Hai nửa vẫn cứ còn phải hỏi
Câu hỏi mãi mà chưa lần nói
Chỉ dạt dào , khắc khoải trong tim.
.

Bài thơ: Dấu chân


Dấu chân
Thơ Đoàn Thịnh

Mưa dầm đẫm mặt đường quê
Tôi đi bấm ngón bước rê về làng
Mới ngừng nước tạt dọc ngang
Bùn trơn hiện rõ hai hàng bước chân.

Bao năm đi, chẳng chân trần
Dấu dày, vệt dép xa gần còn đâu.
Bồi hồi ngón ríu vào nhau
Bâng khuâng in thớ đất nâu quê nhà.
Lâu rồi thấy dấu chân ta
Dấu chân thật của mẹ cha cho mình
Như ngô khoai nặn dáng hình
Như là tô bởi mực bình ao chuôm
Nét cong từ búp đa thôn
Phác nên tôi đã là khuôn cuộc đời.

Rồi mai dù mấy phương trời
Dấu chân đất mẹ mãi ngời nẻo xa.

ĐoànThịnh

Bài thơ: ĐÈN KHÊU

ĐÈN KHÊU
Thơ Đoàn Thịnh

Ngấn bấc em khêu mỗi độ hồng
Đèn em đốt ấm cả đêm đông
Dầu vơi dâng thấm như mạch máu
Cháy bởi tình yêu, nỗi nhớ mong.

Năm ấy em chong đèn vá áo
Nhá nhem xâu chỉ với luồn kim
Thế mà lành áo như không vá
Anh hiểu đường khâu tỏ từ tim.

Nay rồi dưới ánh điện sáng ngời
Ta đã qua thời vai sờn vải
Kìa ngón tay em còn mềm mại
Lấp lánh ken đan sợi tơ đời.

Anh bỗng thèm mang đôi mảnh vá
Để nhớ thêm nhau buổi bấc dầu
Em khêu thêm nữa tình thêm cháy
Bền chặt đôi mình những đường khâu.

ĐoànThịnh

Bài thơ: Đồng đội


Đồng đội
Thơ Đoàn Thịnh

Đồng đội gặp nhau còn chửa kịp ngồi
Cứ đứng lòng đường cầm tay chuyện như pháo nổ
Thằng Bắc cưới con tao vừa về với nó
Ai lại bố vợ bây giờ mặc áo lính Trường sơn!

Thằng Nam, B52 bẻ mấy dẻ sườn
Thế mà giờ vẫn xe ôm vun vút
Cái cậu Đông, nhớ không, cái thằng em út
Tiểu đội mình giờ nó đã giáo sư
Vẫn mùa đông thỉnh thoảng quấn khăn dù.

Tao và mày phải về nhà mấy thằng bạn nữa
Chúng nó vẫn nằm đâu trong rừng núi Quy nhơn
Làm con của Mẹ, bao năm đằng đẵng mỏi mòn
Vẫn chờ nó về, nó về với Mẹ.

Chuyện bỗng lặng hai thằng không thể kể
Mắt nhòe đi nấc nghẹn chẳng thành lời.

Thôi nào, qua rồi nhỉ mày ơi
Giờ chúng mình phải vui thật lực
Kìa quanh mình đời đang náo nức
Ta cười hơn xưa khi thắng trận trở về.

Không muốn bóp còi, anh bạn trẻ dừng xe
Giơ tay chào mà chúng mình chẳng biết
Chuyện phiếm ngang đường mà vui như tết
Đồng đội thế này mấy ai được phải không.

ĐOÀN THỊNH

Bài thơ: Muối

Muối
Thơ Đoàn Thịnh

Biết rằng là muối thế thôi
Còn bao thứ mặn quê tôi hơn nhiều
Mồ hôi lăn sớm chí chiều
Vo thành hạt chát hạt nghèo quanh năm .
Chang chang ruộng muối phơi nằm
Dãi trong nắng quái mưa dầm ai ơi
Cả làm mặn cho người
Còn mình vẫn nhạt chín mười áo cơm.

Đăm đăm nhìn xế chiều hôm
Ước cho hoa muối nở đơm ngọt ngào.

Tay nâng hạt mặn nao nao
Mồ hôi rơi lẫn tan vào mênh mông.

Đoàn Thịnh

Bài thơ: LŨ BẠN

LŨ BẠN
Thơ Đoàn Thịnh

Thuở ấy trẻ con lũ bạn chúng mình
Tóc sé, quần đùi, áo cài khuy lệch
Chân không dép giầy, da bì tựa sắt
Đá nhọn, mảnh sành cứ xéo như không.

Rét quắt lưng trâu bấc rít cứng đồng
Xếp đất cày, đốt phân bò để sưởi.
Đổ mưa rào là đồng trên ruộng dưới
Vồ cào cào, chai vỡ cứa vào tay.

Quản bút bằng tre, sách bọc báo ngày
Bờ đê vật nhau mực dây đầy áo.
Đụn rạ, bờ mương là hào, ụ pháo
Trận giả rìa làng mãi chẳng bên thua.

Giờ bần thần thấp thoáng dưới mưa
Nhớn nhác tìm đâu hòn bi lỗ đáo
Rưng rưng đa già, sù sì gốc gạo.
Thần ma ấy còn hay cũng vợi xa …

Rồi thì cùng vui vạch áo nhau ra
Xem núm rốn bao năm xa mấy khác
Ồ ,vẫn thế, sờ lên đầu đã bạc
Chỉ nụ cười trong vắt mắt trẻ xưa.

Đoàn Thịnh

Bài thơ: TẢN MẠN HAI CÂU

TẢN MẠN HAI CÂU
Thơ Đoàn Thịnh


– Trưa hè vài bát ngô rang
Một nồi nước vối cả làng cùng thơm.
– Lạ không cá nấu dọc mùng
Ăn mình thì ngứa, ăn cùng thì không.
– Đường quê vàng rộm rạ rơm
Ta yêu từng cọng để thơm cả đời.
– Khum tay vốc nước giếng khơi
Đừng làm lọt kẽ một thời mẹ cha
– Phòng to gác nhỏ ngăn ra
Bỗng thành hàng xóm bỗng là người quen.
– Chăn chung hẹp ngắn mỏng mền
Góp vào hơi ấm ta truyền sang nhau.
– Dù non cau quả, lá trầu
Vừa vôi nhai khéo vẫn màu đỏ môi .
– Đình làng chung chiếu dải ngồi
Vẫn phân miêng, vẫn rõ ngôi trẻ già.
– Sông dài biển rộng rồi ra
Cũng từ vũng nước quê ta mà thành.
– Chạy lười thì ắt phải đành
Thua chăm đi bộ mà nhanh mà bền.

Đoàn Thịnh

Bài thơ: ĐÊM VỠ


ĐÊM VỠ
Thơ Đoàn Thịnh

Chớp vỡ đêm
Không có gì kịp còn là tối
Mây đang tụm vào nhau rất vội
Làm cơn mưa khi sáng ra.

Những bông hoa, các loài hoa
Thì cứ vô tư ngủ
Mai vẫn thắm màu như ngày cũ
Chim trời không ánh sáng vẫn bay, cứ bay

Em vẫn đứng đây
Đêm sắp nửa rồi mà anh chưa trở lại
Trách tia chớp chẳng liền dài mãi
Cho không còn tối đen
Cho em không là chỉ lóe hiện bóng lên
Một nơi mình khi ấy …

Nếu bất kỳ lúc nào anh qua
Anh sẽ thấy bóng em như còn nguyên đợi đấy
Và khi có mình anh
Đêm đầy trăng bừng dậy
Nếu mình còn nhau.

Sáng 23-8-2018
ĐT

Bài thơ: CHÂN TRỜI


CHÂN TRỜI
Thơ Đoàn Thịnh

Đường chân trời khi đẹp nhất
Là bình minh và hoàng hôn
Tình cũng thế
Nếu mãi yêu thì mãi mãi còn…
Ngày sau mới
Chứ không là cuối.

Chiều xuống
Nắng buông
Gió vội
Hai người đã già
Bóng ngả dắt tay nhau…

28-8-018
Đ.T

Bài thơ: GỌI EM MUÔN LẦN


GỌI EM MUÔN LẦN
Thơ Đoàn Thịnh

Khi trước lặn ao bắt trai, mò hến
Nhô đầu lên vướng muống với rễ bèo
Gai cây gạo già khoét làm diều sáo
Hớp đẫy gió nồm cao vủt ngân reo…

Rồi ra đi “mang mọi thứ quê” theo
Xếp thật kỹ trong ba lô ra trận
Thư em viết giữa mùa màng vội bận
Nghuệch ngoạc đôi dòng, nước mắt anh rơi…
Chiến tranh qua, xuân trẻ cũng qua rồi
Đầu đội muống bèo giờ thưa tóc bạc
Ba lô sờn qua bao mùa trận mạc
Vẫn nguyên “quê” anh lại cõng trở về.

Chỉ lá thư, là đau xót, vụng về
Không kịp giữ để lửa bom đốt cháy
Đôi bàn tay anh quờ như điên dại
Gom chút tro còn nuốt cất vào tim

Khi đánh trận ngày, lúc chuyển quân đêm
Lời thư em như ngân vui trong ngực .
Giờ trở về vai chất đầy náo nức
Em đâu rồi …
Em đâu rồi …
Anh gọi mãi không thôi…

8-2018
ĐT

Bài thơ: TỤ KHÍ THANH THƠM


TỤ KHÍ THANH THƠM
Thơ Đoàn Thịnh

Bỏ ta tụt lại về đường quê xưa đất sét
Tất tả mùa chiêm chồng lấp dấu chân nhau
Đụn rơm vàng trâu bò nhai cả mùa giá rét
Lá sen xanh thơm mưa khum kín che đầu.

Bỏ lại ta về bước gióng tre ghép lại thành cầu
Em buông tóc dài in bóng mặt ao trong vắt nước
Ngửi thỏa thê cái mùi bao người mong được
Cây thị giữa làng lúc lỉu quả vàng thơm.

Dẫu chỉ nhớ về mẹ nhai búng lưng cơm
Muối vừa mặn vừng rang mớm ta lúc bé
Trong huyết quản qua suốt thời son trẻ
Vẫn da diết đậm bùi sung muối với cà kho…

Cho ta về đến tận cùng nhé, hãy cho
Một thuở quê hương lam lũ, tảo tần mà nghèo kiết
Nhưng mọi thứ chắt chiu muôn phần thanh khiết
Như sương sớm
Như trăng rằm
Như nhụy hoa xuân.

Để ta lột xác ta thêm đi nữa mấy lần
Chớ mải phù hoa mà ra phù du vô cảm
Nơi ta đứng đã phải ngàn đời bụi lấm
Mới được mượt mà nhiều ít hôm nay.

Xin trả ta về, về lại với ta ngay.
Cho thêm sáng lành mỗi bước lên cao tiếp
Nối dõi ông cha giữ trường tồn oanh liệt
Và muôn đời mãi tụ khí thanh thơm.

7-2018
ĐOÀN THỊNH

Bài thơ: HOA GẠO


HOA GẠO
Thơ Đoàn Thịnh

Lại ngập ngừng dừng chân chốn cũ
Hoa gạo rơi như ánh lửa phập phồng
Ngàn cánh đỏ như con mắt đỏ
Ngày nào em đứng đó dõi trông…

Giờ thì trên tay đã bế bồng
Em đành thế với người còn lại
Anh ơi, mộ phần đang đâu mãi
Cánh rừng nào có ngả một nhành lan.

Em thẫn thờ ngoảnh mặt về nam
Quờ tay với khăn thề trong gió
Anh hiện về vào hoa rực đỏ
Một chút thôi trĩu ở đầu cành…

Hoa gạo rơi như thể chẳng đành
Khép cánh nhỏ để người bước vội
Rồi mùa sau rồi hoa gạo gọi
Lại ngập ngừng
Em
Ráng đỏ
Chiều buông…

Bài thơ: MẸ NGỒI ĐƯA CHIẾC VÕNG KHÔNG


MẸ NGỒI ĐƯA CHIẾC VÕNG KHÔNG
Thơ Đoàn Thịnh

Mẹ ngồi đưa chiếc võng không
Lời ru nén chặt trong lòng, hỡi con

Cơm phần trưa tối hãy còn
Ủ quây trong chiếc chăn sờn mọi khi
Mẹ gom nào những viên bi
Cái quần cộc với nón mê chăn bò
Sách nằm trên giá thơm tho
Cùng bao thứ thuở học trò còn đây
Giúp cha công nọ, việc này
Vẫn lưu dấu ấm bàn tay tỏ mờ
Rồi con những lúc dại khờ
Mấy lần roi dạy, bây giờ mẹ đau.

Hết giặc rồi, con ở đầu
Quả thơm để rụng, buồng cau để chờ
Dây trầu vươn ngả dậu thưa
Nhà bên cùng xót đến giờ chưa nguôi
Ngước trông khuôn ảnh rạng cười
Như con vẫn đứng vẫn ngồi đâu đây.

Mẹ chao cánh võng nhẹ lay
Mà bao gió lộng ngàn mây trưa hè
Chân người thậm thịch bờ đê
Ngỡ như tiếng bước con về đến nơi.

Trăng khuya vằng vặc đầy trời
Đêm nay mẹ lại ru hời võng không.

Bài thơ: LỜI THẬT NHẸ


LỜI THẬT NHẸ
Thơ Đoàn Thịnh

Ta thuộc về nhau
Mà mấy khi đã là tất cả
Những cái thơm vừa thơm trên má
Biết đâu mắt môi nào lại đúng chỗ vừa xong

Ta cùng còn bao thứ chẳng thể không
Tình bạn, tình thương, khóc cười vô cớ
Chồng chất những đã rồi còn dang dở
Ai dám đành lòng buông hết cho chăng.

Đã thuộc về nhau
Nhưng riêng tư cứ mỗi nghĩ mỗi đằng
Đành vẫn thế dẫu lờ mờ nhận biết
Có thể ghép buộc hai phần khác biệt
Khóa chặt rồi mà chìa lại ở cả hai.

Vẫn hằng là mãi thắm với nhạt phai
Chỉ biết hay không đời là như thế
Chất keo sơn là lời trao nhè nhẹ
Hỏi hãy đều, ta vẫn chứ!
YÊU NHAU?

7-2018
ĐT

Bài thơ: CÂY LÁ CŨNG RUNG RINH


CÂY LÁ CŨNG RUNG RINH
Thơ Đoàn Thịnh

Em nhẹ gió nhấp mặt hồ gợn sóng
Lăn tăn anh mỗi nếp nước bồi hồi
Nếu phải bão thì cùng ngăn để thoảng
Chút ầm ào lại dìu dịu mà thôi.

Chẳng có đâu thuyền êm ả mãi trôi
Mưa táp giật buồm anh sờn toạc rách
Tay em khâu bằng chỉ yêu lành chặt
Thì đại dương nào ta chẳng vượt qua.

Những tưởng gần mà lại hóa quá xa
Biền biệt nhau vẫn như cùng tay dắt
Mỗi chặng đời dẫu đổi thay gương mặt
Nét ban đầu luôn thành dấu trong nhau

Ta bây giờ rồi nếu phải mai sau.
Em cứ trẻ còn anh thì ngược lại
Dù có không nhà và không con cái
Thì cánh buồm xưa mãi ngả cùng che.

Luôn có nhau đừng sót bận đi về
Tay chạm tay thấy mỗi lần thêm mới
Hoa ven đường khi mình qua nở vội
Giữa xanh rờn cây lá cũng rung rinh.

7-2018
ĐT

Bài thơ: VẪN MỘT MÀU


VẪN MỘT MÀU
Thơ Đoàn Thịnh

Vội gom bớt nắng cuối chiều hè
Để hoàng hôn xuống chẳng đỏ hoe
Vào mắt ai đêm chong đèn đợi
Một bóng đã xa mãi chẳng về.

Ví chẳng lỡ hờn mà thổi tắt
Để khó khêu cho lại sáng yêu
Như mút lạt đôi đầu chưa chặt
Tuột nhau ra hẫng cả hai chiều.

Nhưng đành thả thẫm về lại nắng
Người chỉ mong với tiếc chút thôi
Chốc thờ thẫn thoáng mờ dấu lại
Bởi lòng riêng đâu riêng một tôi.

Buồn về gỡ những là mối rối
Tình lại dần xa chẳng ngoái đầu
Biết sợi tơ lòng không dễ nối
Khi đã ngầm đứt ngậm từ lâu.

Người đi đằng ấy tôi đằng đâu
Mai rồi có tiếc mấy cho nhau
Nhưng gương vỡ soi gì cũng vỡ
Chỉ có màu yêu vẫn một màu.

7-2018
ĐT

Bài thơ: SAU NHẸ LỜI EM


SAU NHẸ LỜI EM
Thơ Đoàn Thịnh

Có những mùa thu chín
Mãi trong nhau khi xa
Cứ như bao mùa khác
Cũng là thu thiết tha.

Có những mùa thu ướt
Nước mắt ngâu nhạt nhòa
Giọt buồn đêm tý tách
Rơi lòng nhau vỡ òa

Có những mùa thu cạn
Tưởng khô hết khát khao
Nuốt đầy mong mây tụ
Cho thu đổ mưa rào

Thu nào của riêng mình
Em buông lời khe khẽ
Tiếng tim cùng thật nhẹ
Mình vô vàn thu nhau…

Trung thu 2018
ĐT.

Bài thơ: THƯƠNG DƯỚI CỎ XANH

THƯƠNG DƯỚI CỎ XANH

Thơ Đoàn Thịnh

Kính viếng chủ tịch nước

TRẦN ĐẠI QUANG

Người đi về cõi xa xăm

Trống trường khua với đêm rằm ngừng vui

Mới vừa đây, đã bùi ngùi

Việc cho dân phút cuối đời còn chăm.

Nan y bệnh hiểm đằm đằm

Người như trút nốt thân tằm kiệt tơ.

Trăng thu khi tỏ khi mờ

Một quầng sáng bạc buồn chờ tiễn đưa

Than ôi dang dở bến bờ

Thương thay lớn những ước mơ chưa thành

Rồi xanh thương dưới cỏ xanh

Đời yêu mãi nhớ công danh về Người.

23-9-2018

ĐT

Thơ Đoàn Thịnh giàu hình ảnh, đẹp về ngôn từ. Đọc thơ ông độc giả được trải qua rất nhiều cảm xúc khó quên.

Top 10 Bài văn phân tích bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà hay nhất

Thơ Tản Đà tràn đầy cảm xúc lãng mạn, lại vô cùng đậm đà bản sắc dân tộc. Thơ ông có những tìm tòi và sáng tạo rất mới mẻ. Thơ Tản Đà như một gạch nối giữa thơ cổ điển và thơ hiện đại Việt Nam. Bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” in trong tập “Khối tình con I” xuất bản năm 1917 là sự sáng tạo, mới mẻ với hình thức thất ngôn bát cú đường luật cổ điển, giọng thơ hóm hỉnh, pha một chút ngông. Qua đó, tác phẩm thể hiện tâm sự của con người bất hòa sâu sắc với thực tại, muốn thoát li bằng mộng tưởng lên cung trăng, bầu bạn với chị Hằng để thoát khỏi những thứ tầm thường ấy. Mời bạn đọc tham khảo một số bài văn phân tích bài thơ mà phongnguyet.info tổng hợp trong bài viết sau đây để thấy rõ hơn điều đó.

Bài văn phân tích bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà số 1

Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu xuất hiện trên văn đàn Việt Nam những năm đầu thế kỷ với một cá tính độc đáo: một nhà thơ của sầu và mộng, ngông và đa tình. Bài thơ Muốn làm thằng Cuội đã thể hiện rất rõ cá tính ấy của ông.

Bài thơ Muốn làm thằng Cuội in trong tập Khối tình con (1916). Mặc dù tác phẩm được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật song người đọc sẽ thấy ở đây, dưới cái hình thức còn là của thơ cổ ấy những dấu hiệu mới mẻ của cảm xúc. Tâm sự của nhà thơ ở một thời đại mới đã khiến cho cái hình thức thơ cũ có chiều hướng giảm nhẹ đi tính trang trọng, mực thước. Sự giản dị, trong sáng gần với khẩu ngữ tự nhiên làm nên nét duyên của bài thơ này.

Ngay từ nhan đề của bài thơ đã cho thấy một giọng điệu suồng sã, như là đã giải tỏa được một nhu cầu nói thật, thẳng thắn của nhà thơ và cũng lại cho thấy cái ngông nghênh, bất đắc chí: muốn ở đây như một nhu cầu bức xúc, chẳng cần giấu giếm, vòng vo. Nhưng muốn cái gì? Muốn làm cuội thì đích thực là muốn thoát lên trên rồi. ước vọng lên trên thơ mộng thế mà nói tựa như là muốn ăn, muốn uống, muốn ngủ… thật là thành thực!

Và, nếu muốn thoát tục, lên trên thì thiếu gì những hình mẫu tiên để ước sao cứ phải là thằng Cuội? Thằng chứ không phải chú – cũng là một kiểu nói ngông. Thế thì chính là thi sĩ đa tình này muốn lên cung trăng rồi!

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi,

Trần thế em nay chán nửa rồi!

Chị Hằng thì phải ở cung trăng chứ còn gì nữa! Thì ra thi sĩ của chúng ta muốn làm thằng Cuội để tâm sự cùng chị Hằng Nga xinh đẹp. Hai câu mở đầu bài thơ như một tiếng kêu than. Chẳng cần phải mượn cái khác để diễn tả nỗi buồn trong lòng mình, thi sĩ bộc bạch ngay nỗi lòng mình. Hai chữ buồn lắm thật chân thành.

Thi sĩ chỉ lòng mình ra trong tiếng gọi tha thiết. Ta thường gặp trong thơ Tản Đà một vẻ buồn chán, cái buồn lan trùm tất cả. Vì buồn lắm như thế nên thi sĩ mới “muốn làm thằng Cuội . Nhưng không phải là cái buồn vô cớ, càng không phải kiếm cớ buồn đẽ được lên tiên. Cái buồn ở đây là cái buồn đời, buồn chán cuộc đời tối tăm, đen bạc, đảo điên.

Không ít lần Tản Đà kêu chán đời: “Đời đáng trách biết thôi là đủ – Sự chán đời xin nhủ lại tri âm”, “Gió gió mưa mưa đã chán phèo – Sự đời nghĩ đến lại buồn teo”… Sống trong bối cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến những năm đầu thế kỉ XX, chẳng phải chỉ riêng Tản Đà buồn chán.

Không khí tù hãm, u uất của một dân tộc bị mất nước bao trùm hết thảy, đè nặng tâm trí con người, nhất lại là những con người nhạy cảm như thi nhân. Tâm trạng buồn chán là tâm trạng của thời đại. Có trăm ngàn vẻ buồn khác nhau song đều thấy điểm chung là sự bế tắc trước thực tại cuộc đời, từ đó mà sinh ra chán nản, bất mãn đối với thời cuộc.

Cái buồn của Tản Đà cũng bắt nguồn từ đấy. Và thế là thi sĩ tìm lối thoát bằng cách thoát li khỏi cuộc đời, sống trong một thế giới khác, thế giới mộng mơ, thần tiên. Thi nhân gọi trăng là chị, xưng với trăng là em thì vừa là muốn thân tình, gần gũi để giãi bày, vừa là chơi ngông. Bốn câu thơ tiếp càng thể hiện cái ngông của Tản Đà:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi

Ngông thực chất là một thái độ ứng xử đối với cuộc đời, một biểu hiện khác của sự chán ngán, bất mãn với thời cuộc. Phải là người yêu đời lắm, tha thiết với cuộc sống lắm thì mới tỏ ra buồn chán đến bất hòa trước cuộc đời đang rối ren, đen tối như thế. Câu 3 của bài thơ là lời ướm hỏi, rồi đến câu 4 là lời đề nghị. Nếu Cung quế chưa có ai thì chị cũng buồn, cũng cô đơn lắm nên hãy để em lên chơi cùng, em đỡ buồn mà chị cũng bớt cô đơn. Tính từ đây mà cũng ngang tàng đấy! Xin chị đừng từ chối nhé, bởi vì em có lí lẽ đây này:

Có bầu có bạn, cùng tri kỷ

Cùng gió cùng mây, thế mới vui.

Cái lí của thi nhân thật là thuyết phục. Song trong sự thuyết phục để thoát li, xa lánh trần thế ấy chúng ta thấy một thực trạng buồn vắng, cô đơn của tâm hồn thi sĩ. Vốn đa tình đa cảm nên thi nhân luôn luôn có khát vọng được người tri kỉ, mà cõi trần thì “Chung quanh những đá cùng cây; Biết người tri kỉ nơi đâu mà tìm”.

Cái vui của thi nhân là cái vui được tâm giao, tâm đồng. Gió, mây thơ mộng được không nếu chẳng có bầu có bạn”. Khát vọng lên trên, lánh đời ở đây thực ra là một cách bộc lộ khao khát đồng cảm, tri âm trong cuộc đời của Tản Đà. Và cái cách ở đây là ngông. Chưa hết, thi nhân còn vẽ ra viễn cảnh:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám

Tựa nhau trông xuống thế gian cười

Lãng mạn hết mức, tưởng tượng ra cảnh “tựa nhau” cùng chị Hằng thì quả là cái ngông đã đến đỉnh điểm. Tác giả hạ chữ cười ở cuối bài thật đắt. Cười ở đây chứng tỏ cái hả hê thỏa mãn khi trong ước vọng được thoát tục, rồi bỏ được trần ai mà lên tiên. Cười còn là thái độ mỉa mai, khinh khi cái cuộc đời đang đầy những sầu khổ, cô đơn dưới kia. Cười thách thức. Cười ngông.

Bài thơ tuân thủ khuôn mẫu của một bài thất ngôn bát cú Đường luật cổ điển. Nhưng nguồn cảm xúc tự nhiên, không chừng bay bổng đã tự tìm đến những lời thơ tựa như lời nói hàng ngày: “buồn lắm chị Hằng ơi”, “em nay chán nửa rồi”, “đã ai ngồi đây chưa”, “xin chị nhắc lên chơi”, “thế mới vui”, “tựa nhau trông xuống thế gian cười”; xưng hô khẩu ngữ (chị – em) tự nhiên, không đẽo gọt cầu kì và ngữ điệu biểu hiện đa dạng (ơi, rồi, đó chửa, xin, thế mới). Lên tiên, thoát tục là thi đề quen thuộc trong thơ cổ, ở đây cái không mới ấy đã được làm mới bằng giọng điệu, bằng lời thơ.

Cái ngông của Tản Đà trong bài thơ này là một hình thức ứng xử vốn nằm trong cốt cách của nhà nho tài tử trong thơ truyền thống. Song, như chúng ta đã thấy, cái ngông ấy lại là thái độ của Tản Đà đối với xã hội ta những năm đầu thế kỉ XX, bộc lộ một nguồn xúc cảm mới, đầy cá tính đa tình, phóng túng. Cái mơ mộng thành ra cái ngông thì quả là đậm chất riêng của Tản Đà.

Bài văn phân tích bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà số 2

Sau hơn mười năm đầu thế kỉ XX bước vào thời kì hiện đại hoá với những áng văn chương yêu nước nổi tiếng của Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu,… nền văn học nước ta bước vào giai đoạn chuyển biến cực kì sôi động. Từ những nãm 20 trở đi, trên văn đàn xuất hiện các nhà văn mạnh dạn đổi mới cả nội dung lẫn hình thức văn chương. Họ kết hợp những vẻ đẹp của truyền thống với yêu cầu cách tân của thời đại, sáng tác ra những tác phẩm thơ văn đặc sắc mang hơi thở của một lớp người giàu khát vọng, yêu nước, yêu đời, nhưng bế tắc,…

Một trong những người mở đầu cho dòng văn chương này là thi sĩ Tản Đà. Tản Đà đã sáng tác nhiều tác phẩm mà chỉ đọc tên, chúng ta cũng thấy rõ tính độc đáo, đầy mộng mơ, lãng mạn: Khối tình con I, II, III, Giấc mộng lớn, Giấc mộng con,… Trong tập thơ Khối tình con có bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” được nhiều người coi là độc đáo nhất. Quả đúng như vậy. Qua nhan đề tác phẩm và ít phút đọc – hiểu ban đầu, chúng ta đã cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.

Đây là một ước muốn khác đời, kì quặc, hay dãy là một giấc mơ kì thú, ngông nghênh, lãng mạn? Muốn làm thằng Cuội tức là muốn bay lên cung trăng, muốn thoát li cuộc đời trần giới để sống với trăng sao, tiên cảnh ư ? Tại sao nhà thơ lại có ước muốn ấy ? Ước muốn ấy có ý nghĩa gì ?… Biết bao câu hỏi thú vị hấp dẫn, lôi cuốn chúng ta.

Cũng là thơ thất ngôn bát cú theo luật thơ Đường, cũng viết bằng chữ Nôm, nhưng so với nhiều bài thơ Nôm thời kì vãn học trung đại và hai bài thơ ra đời trước đó ít năm của Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, nhưng hồn thơ, giọng điệu và ngôn từ của Muốn làm thằng Cuội có nhiều nét khác hẳn.

Bài thơ mang giọng điệu nhẹ nhàng, thanh thoát pha chút tình tứ hóm hỉnh, có nét phóng túng, ngông nghênh của một hồn thơ lãng mạn, thoát li. Hai câu thơ đầu (vào đề) là lời thở than buồn và chán của một thi sĩ, một con người trần thế :

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

Trần thế em nay chán nửa rồi,

Nét độc đáo dễ thấy là hai đại từ nhân xưng “chị” và “em” nghe thật duyên dáng. Nhân hóa vầng trăng, rồi nữ hóa trăng, gọi bằng cái tên Hằng (theo cách nói của nhiều thi sĩ xưa – Hằng Nga – ả Hằng), kèm theo đại từ “chị”, xưng mình là “em”, nhà thơ tạo ra một quan hệ bất ngờ, thân mật mà dân dã, đúng quan hệ để tâm sự sẻ chia nỗi niềm. Nỗi niềm của nhà thơ bộc bạch trực tiếp bằng hai từ biểu cảm buồn và chán.

Buồn trong đêm thu là tâm trạng quen thuộc của các vãn nhân nghệ sĩ xưa nay. Bởi vì, mùa thu về, dẫn theo hơi thu se lạnh, gió thu nhè nhẹ hiu hiu, cây cỏ mùa thu héo úa, đợi ngày tàn lụi,… Biết bao thi sĩ dân tộc từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, từ Hồ Xuân Hương đến Bà Huyện Thanh Quan, rồi Nguyễn Khuyến, Tú Xương,… đã từng thấm nỗi buồn của mùa thu để rồi làm đầm ướt những dòng thơ.

Là một thi sĩ tài danh, nhạy cảm, trước mùa thu, hẳn Tản Đà đã thấm cái hồn thu đất trời, cỏ cây tàn tạ và lây những dòng buồn của văn chương, của các thi sĩ. Đấy là nỗi buồn lãng mạn, nhè nhẹ, bâng khuâng, như vô cớ mà có duyên. Còn tâm trạng “chán nửa rồi” thì không còn là lãng mạn vô cớ kiểu nghệ sĩ nữa. Đó là nỗi buồn chán đẫm chất thế sự của một tâm hồn từng âu lo cho nước cho dân trong cảnh lầm than nô lệ.

Đêm thu… buồn, cộng Trần thế… chán, cảnh đất trời thiên nhiên cộng với cảnh đời tối tăm đau khổ đã xui giục nhà thơ cất tiếng thở than, để tìm người chia sẻ. Có lẽ chưa tìm dược ai xứng với mình, nên dành ngẩng mặt than với mây trời, với trăng sao. Trong vòm trời đêm mênh mông kia, có lẽ chí mặt trăng dáng làm tri kỉ. Bởi vì trăng sáng ngời, tròn trịa, phúc hậu, vô tư, vô ngôn mà đầy gợi cảm.

Dưới đôi mắt, đúng ra là qua trái tim nhạy cảm đa tình của mình, thi sĩ Tản Đà đã thấy ở vầng trăng hình ảnh một mĩ nhân có thể kết bạn tâm giao. Nhà thơ gọi trăng là “chị” – “chị Hằng”, tôn xưng người đối thoại là “chị”, nhận mình là “em” thật khéo, khéo trong ứng xử (nếu “chị Hằng” là có thật) và khéo trong dẫn dát ý thơ.

Hiện lên sau hai câu thơ cấu trúc kiểu lời gọi, tiếng than là một ước nguyện chân thành, tha thiết khiến người nghe, người được cậy nhờ không thể chối từ và người đọc thơ cũng không thể dừng lại. Đến bốn câu thực và luận, lời ước nguyện, cầu xin trở thành một giấc mơ độc đáo:

Cunq quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Có bầu, có bạn can chi tủi,

Cùng gió, cùng mây thế mới vui.

Nếu xét về luật bố cục và đối xứng Đường thi thì bốn câu trên đã phạm luật, không đúng nội dung của hai câu thực (tả thực) và hai câu luận (suy luận, mở rộng), từng cặp câu cũng chưa thật đối nhau trong ngôn từ và ý nghĩa. Song đọc lên, ta vẫn thấy ngôn ngữ trôi chảy, ý tứ khoáng đạt, hồn thơ phát triển tự nhiên, gắn bó hài hòa với hai câu mở đề, Đó là những dòng cách tân Đường luật để ý tình được tung phá, “cái tôi” thi sĩ được bay bổng, tự nhiên.

Bốn câu thơ cất lên những tiếng nói ước nguyện, những dự cảm thật độc đáo. Câu thứ nhất thăm dò “Cung quế đã ai ngồi đó chửa ?”. Câu thứ hai, không đợi trả lời, liền đề đạt, cầu xin mạnh dạn “Cành đa xin chị nhắc lên chơi”. Những hình ảnh “cung quế”, “cành đa”, “ai ngồi đó” gợi biết bao chuyện huyền thoại về “cung Quảng Hàn” (mặt trăng), về “cây đa, chú Cuội” mà nhiều người Việt Nam đều biết.

Đó đâu phải một nơi chốn của con người mà là những địa chỉ siêu nhiên, những con người siêu nhân chí có trong tưởng tượng, trong những giấc mơ. Phải chăng, khi cất lên những tiếng thơ đó, thi sĩ Tản Đà đang ru hồn mình vào trong một giấc mơ! Ta có cảm giác ông đang bé lại, nhỏ nhắn, tí hon như nhân vật chú Cuội ngày xưa bám vào “cành đa” bay lên, bay lcn, lên đến tận cung trăng, rồi từ từ hạ xuống, ngồi dưới gốc đa, bên cạnh chú Cuội. Sau đó là một cảnh tượng, một bức tranh kì thú :

Có bầu, có bạn can chi tủi,

Cùng gió, cùng mây thế mới vui.

Nhà thơ đã đến đích, được gặp chị Hằng, chú Cuội, được kết bạn với gió, mây. Hai cụm từ “can chi tủi” và “thế mới vui” thể hiện rõ tâm trạng thoả thuê, quên hết nỗi buồn khổ ở trần gian để tìm nguồn vui nơi tiên giới. Âm điệu của ngôn từ như ngân lên pha chút hóm hỉnh, cười đùa, ngông nghênh mà rất tình tứ.

Có thể nói, tâm hồn lãng mạn của thi nhân đã tìm được một địa chí lí tưởng dể thoát li. Lên tới mặt trăng, ẩn mình trong mây bay, gió cuốn tức là Tản Đà đã hoàn toàn xa lánh được cuộc đời “buồn chán”, xa lánh “cõi trần nhem nhuốc”. Nhưng ước nguyện của Tản Đà không chí hoàn toàn là trốn chạy, xa lánh.

Đó chính là những giấc mơ, những khát vọng chân chính của một con người luôn gắn bó với cuộc dời, luôn mong muốn cuộc đời nói chung, đời mình nói riêng có niềm vui, có hạnh phúc, được gặp những bạn bè nhân hậu, chân tình. Nhà thơ từng than thở :

Chung quanh những đá cùng cây,

Biết người tri kỉ đâu đây mà tìm.

Và đã từng ước mơ :

Kiếp sau xin chớ làm người,

Làm đôi chim nhạn tung trời mà hay .

Với ước nguyện Muốn làm thằng Cuội, cái khát vọng chính đáng kia bắt gặp một giấc mộng của hồn thơ đa tinh, trở thành một cách nói có phần ngông nghênh, ngạo đời, lãng mạn. Chán đời, buồn thu, giờ đây được sánh vai bầu bạn với người đẹp Hằng Nga, được vui chơi thoả thích với mây gió, còn gì thú hơn và làm sao còn cô đơn, sầu tủi được! Cam hứng lãng mạn của Tản Đà mang đậm dấu ấn thời đại và đi xa hơn người xưa là ở chỗ đó. Dấu ấn thời đại và tầm xa trong hổn thơ Tản Đà được đẩy thêm một bậc, bất ngờ là ở hai câu kết bài thơ:

Rồi cứ mồi năm rằm tháng tám,

Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Đêm trung thu, trăng sáng, người người ngẩng đầu chiêm ngưỡng trăng sao, báu trời, thì nhà thơ lại đang ngồi tít mãi trên cung trăng tựa vai người đẹp Hằng Nga nhìn xuống, ngắm nghía trần gian, rồi… cười. Vì sao nhà thơ cười ? Có thể vì đã đạt được ước mơ, khát vọng thoát li, xa lánh cõi đời trần tục, nên thỏa mãn, cười vui. Cũng có thể vì được đứng ớ vị trí tầm cao, đứng trên mọi thói đời nhỏ bé, thấp hèn, nên nhà thơ nhìn rõ những điều xấu xa, bẩn thỉu, đáng cười, đáng khinh của cõi trần chật hẹp nhỏ nhoi.

Cũng có thể đầy là cái cười tự trào, tự giễu mình… chơi ngông, hơn đời, khác đời. Một chữ cười mà mở ra hai ba nghĩa, thật thú vị. Phải chăng hai câu thơ kết, nhất là từ cuối cùng của bài thơ (“cười”) là đỉnh cao của hồn thơ lãng mạn, phong thái phóng khoáng, ngông nghênh mà rất duyên dáng, đa tình của Tản Đà.

Tóm lại, bài Muốn làm thằng Cuội là tâm sự của một con người bất hòa sâu sắc với xã hội tầm thường, xấu xa, muốn thoát li bằng mộng tưởng lên cung trăng để bầu bạn với chị Hằng, vui cùng mây gió. Đó là một giấc mơ kì thú, ngông nghênh, lãng mạn. Sức hấp dẫn của bài thơ chính là ở vẻ đẹp của giấc mơ ấy được thể hiện ở những từ ngữ, những hình ảnh đậm chất dân tộc, ở những tìm tòi đổi mới thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật của Tản Đà.

Nhờ những đổi mới trong hồn thơ, tìm tòi trong nghệ thuật, thi sĩ Tản Đà đã góp phần mở ra một giai đoạn cách tân sôi động, hào hứng cho lịch sử thơ ca hiện đại Việt Nam, đúng như nhà nghiên cứu Hoài Thanh nhận xét : “Tiên sinh đã cùng chúng tôi chia sẻ một nỗi khát vọng thiết tha, nỗi khát vọng thoát li ra ngoài cái tù túng, cái giả dối, cái khô khan của khuôn sáo… Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đương sắp sửa…”.

Bài văn phân tích bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà số 3

Tản Đà (1889-1939) tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu là một người đa tài ông làm thơ, làm văn và còn là một nhà viết kịch nổi tiếng của nước ta. Sở dĩ ông lấy bút danh là Tản Đà cũng là vì ông là một người yêu quê hương đất nước, ông muốn bút danh của mình gắn liền với quê hương, Tản Đà có nghĩa là sự gắn kết giữa núi Tản Viên và sông Đà của quê hương ông.

Ông nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa sáng tạo trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỉ XX. Ông viết những bài thơ lãng mạn với những ý tưởng rất ngông, đậm chất phóng khoáng, cá tính mạnh mẽ, ông cũng được đánh giá là người chuẩn bị cho sự nghiệp ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là “gạch nối liền giữa hai thời kì văn học cổ điển và hiện đại”. Thơ ông chủ yếu mang đậm màu sắc “ngông” tiêu biểu là bài thơ “Muốn làm thằng Cuội”.

Bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” được ra đời vào năm 1916 in trong tập Khối tình con (1916). Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, nhưng nó chịu ảnh hưởng của phong cách thơ ông, thể thơ dù dưới hình thức là thơ cổ nhưng có những dấu hiệu mới mẻ, khác của cảm xúc.

Đó là lời tâm sự của tác giả ở một thời đại mới đã khiến cho cái hình thức thơ cũ được giảm nhẹ đi phần nào tính trang trọng, nghiêm luật như trước. Trong ngôn từ cũng vậy sự giản dị cùng với khẩu ngữ tự nhiên đã làm nên cái sáng tạo, cái hay và nét riêng độc đáo cho bài thơ. Bài thơ tuy ngông nhưng vẫn mang giọng điệu nhẹ nhàng, pha thêm chút hóm hỉnh lãng mạn và cả thêm sự phóng túng ở bài thơ.

Ta bắt gặp một giọng điệu suồng sã ở ngay nhan đề của bài thơ, nói lêm cái ý muốn khác người, hay đó là một giấc mơ kì thú, có thêm phần ngông và tất nhiên có cả lãng mạn. Tác giả muốn làm thằng Cuội có nghĩa là muốn thoát khỏi thế giới trần tục và lên ở cùng cõi tiên.

Làm người thì họ muốn có những ước mơ như sống trong vinh hoa, hưởng lạc trọn đời nhưng còn tác giả tại sao ông lại muốn lên trời sống cũng trăng, sao? Ngay ở phần nhan đề chúng ta đã thấy rất riêng và hấp dẫn thì có lẽ nội dung của tác phẩm còn thú vị hơn nữa. Ở hai câu thơ đầu:

“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

Trần thế em nay chán nửa rồi”

Lời thơ tuôn ra như một lời than thở, buồn chán muốn được tâm sự cùng ai đó của một người trần thế. Ta bắt gặp hai đại từ nhân xưng “chị”, “em” tác giả tự nhận mình là em nghe rất thân mật gần gũi như đã quen từ lâu, thật êm tai. Đến bốn câu tiếp theo đó là lời ước nguyện:

“Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Có bầu, có bạn can chi tủi,

Cùng gió, cùng mây thế mới vui.

Ở bốn câu thơ này nếu xét về bố cục và đối xứng Đường thi thì đã phạm luật, không đúng với nội dung của hai câu thực, hai câu thực vốn là tả thực còn hai câu luận (suy luận và mở rộng), từ cặp câu chưa đối nhau trong ngôn từ và ngữ nghĩa. Nhưng ta vẫn thấy cái hay của bài thơ, từ ngữ sáng tạo, ngôn ngữ thơ phát triển tự nhiên ta thấy sự cách tân trong bài thơ này của Tản Đà.

Bốn câu thơ này nói về ước nguyện của tác giả và cầu xin ước mơ độc đáo của ông trở thành hiện thực. Đầu tiên ông hỏi dò xem đã có ai ở trên cung trăng hay là chưa. Sau đó ông tiếp cầu xin ngỏ lời muốn chị Hằng đưa mình lên cành đa chơi. Những hình ảnh trong thơ như “cung quế”, “cành đa”, đó là những nơi chỉ người tiên mới ở được và chỉ có ở trong tưởng tượng của người Việt ta hay thường nhắc tới câu chuyện cây đa chú cuội.

Ý thơ như là tác giả đang chìm đắm trong một giấc mơ đẹp. Và ở hai câu luận tác giả đã được thỏa lòng mong muốn của mình khi được bầu bạn với mây gió và cùng nhau chơi đùa trên cung trăng, thỏa lòng mong muốn “thế mới vui” như là tác giả đã quên đi hết nỗi buồn ở trần gian và được vui ở chốn tiên cảnh. Câu thơ mang cảm giảm hóm hỉnh, tinh nghịch khiến cho người đọc có cảm giác như đang phiêu lưu trên cung trăng cùng tác giả. Ở hai câu kết còn có sự bất ngờ vô cùng lớn:

“Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,

Tựa nhau trông xuống thế gian cười”.

Trung thu là đêm hạnh phúc của mỗi gia đình, gia đình sum họp ngoài trời cùng nhau ngắm trăng, trăng đêm trung thu là sáng nhất mọi người cùng nhau vui vẻ trò chuyện. Vậy mà nhà thơ lại khác, nhà thơ đang ngồi trên cung trăng, tựa lưng vào chị Hằng rồi cùng nhau trông xuống thế gian, ngắm nơi trần thế mọi người đang vui vẻ nhưng tại sao nhà thơ lại cười, là tại vì ông vui nên cười hay còn ngụ ý khác?

Đúng vậy nhà thơ cười là đang cười chế giễu vì nhà thơ đang ở tầm cao nên có thể thấy hết mọi chuyện đáng cười, đang khinh ở trên đời, cũng có thể nhà thơ đang tự cười mình có cái ý tưởng ngông nghênh khác đời.

Qua bài thơ “Muốn làm thằng cuội” ta thấy rõ cái ngông của ông trong đó, và cũng thấy được nỗi chán ghét nơi trần thế của ông, ông muốn bỏ nơi đó thật xa, ông muốn được lên ở cõi tiên, ông du dương trong giấc mơ, tưởng tượng của mình để được lên trời cao làm bạn với mây gió. Ta cũng thấy được sự cách tân Đường thi ở bài này, ông đã góp một phần quan trọng trong giai đoạn cách tân đổi mới thơ ca hiện đại Việt Nam.

Bài văn phân tích bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà số 4

Tản Đà là tài năng văn học lớn của Việt Nam, ông là gạch nối giữa văn học trung đại và hiện đại. Muốn làm thằng cuội thể hiện tâm trạng chán nản, bất hòa sâu sắc với thực tại tầm thường, muốn thoát li vào thế giới mộng tưởng của tác giả. Đồng thời bài thơ cũng thể hiện những cách tân mới mẻ, táo bạo trong sáng tác của ông.

Nhan đề bài thơ vô cùng đặc sắc, tác giả sử dụng từ “muốn” thể hiện khát khao chuyển đổi không gian sống và muốn hóa thân thành người khác, cụ thể ở đây là thành chú Cuội. Ngay từ nhan đề đã cho thấy cái tôi ngông nghênh và đa tình của nhà thơ. Một ước muốn xa vời nhưng hết sức thực tế vì tác giả muốn thoát khỏi thực tại tầm thường, thấp kém.

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi

Trần thế em nay chán nửa rồi.

Thực tại tầm thường, giả dối tác giả không biết tâm sự cùng ai đành tìm đến chị Hằng để giãi bày nỗi lòng của mình. Điều đó cho thấy sự cô đơn, lạc lõng của ông giữa cuộc đời. Đêm thu – thời điểm khơi gợi nỗi buồn trong những tâm hồn nhạy cảm – bởi vậy cõi lòng nhà thơ càng trở nên trống trải, cô đơn hơn.

Không chỉ buồn, sầu, cô đơn Tản Đà còn gửi cả vào câu thơ sự chán chường với cuộc đời. Ở câu thơ tác giả đã thể hiện trực tiếp cái cô đơn của bản thân, điều này vốn rất ít khi được thể hiện trong văn học trung đại. Tản Đà đã phá vỡ quy tắc của thơ ca cổ điển, thể hiện trực tiếp tình cảm cá nhân, đây chính là điểm mới mẻ trong thơ ông.

Chính bởi cuộc sống tầm thường nên tác giả có ao ước được thoát li cuộc đời trần thế. Cách thoát li thực tế của Tản Đà hết sức đặc biệt: muốn lên cung trăng làm bạn với chị Hằng. Câu hỏi thăm dò dường như chỉ là cái cớ: Cung quế đã ai ngồi đó chửa?, không chần chờ, không đợi câu trả lời của chị Hằng, ông đã đề nghị: “Cành đa xin chị nhắc lên chơi”. Cuộc đối thoại trong mộng tưởng của Tản Đà thật thơ mộng và tình tứ. Đồng thời thể hiện cái tôi ngông ngạo của ông.

Đẩy trí tưởng tượng của mình đi xa hơn một bước, tác giả tưởng tượng cảnh mình được ngồi ở cung quế trò chuyện vui đùa cùng chị Hằng. Nơi ấy tác giả thoát khỏi nỗi sầu, nỗi cô đơn vì đã có chị Hằng làm bạn: “Có bầu có bạn can chi tủi/ Cùng gió, cùng mây thế mới vui”. Những hình ảnh gió mây làm cho tâm hồn tác giả càng thêm bay bổng, lãng mạn hơn. Cái ngông của Tản Đà được thể hiện trong nguyện ước được thả hồn cùng gió mây để ngao du trong trời đất.

Hai câu thơ cuối thể hiện nguyện ước được mãi mãi ở nơi cung quế của tác giả. Các chữ “cứ mỗi năm” diễn tả dòng thời gian lặp đi lặp lại thể hiện mơ ước không muốn rời xa nơi đây. Và ở cung quê ông cùng chị Hằng “Tựa nhau trông xuống thế gian cười”, nụ cười của ông có thể hiểu theo nhiều ý nghĩa: cười bởi không thể thỏa mãn được khát vọng thoát li, xa lánh cõi trần gian hay cười vì mỉa mai, khinh bỉ cõi đời xô bồ, đen tối, ngột ngạt. Dù hiểu theo cách nào thì đó cũng thể hiện nỗi sầu của kẻ chán ghét và muốn thoát li thực tại.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, tuân thủ quy tắc về niêm luật nhưng không công thức, gò bó. Ý thơ phóng khoáng, tự do, bay bổng, mang đậm dấu ấn cá nhân. Thủ pháp đối lập cũng được vận dụng tài tình.

Qua bài thơ, Tản Đà đã gửi gắm nỗi niềm tâm sự của một người bất hòa sâu sắc với thực tại xã hội lúc bấy giờ, mong muốn thoát li vào cõi mộng tưởng. Bài thơ hấp dẫn ở giọng thơ ngông ngạo, trí tưởng tượng phong phú, cảm xúc mãnh liệt, bay bổng lại cũng vô cùng thiết tha, sâu lắng.

Bài văn phân tích bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà số 5

Tản Đà là một nhà thơ có phong cách nghệ thuật đặc biệt trong làng thi sĩ Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX. Bài “Muốn làm thằng Cuội” là bài thơ kiệt tác, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Tản Đà thi sĩ:

“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi.
Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió, cùng mây thế mới vui
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười”

Mở đầu bài thơ là một tiếng kêu “buồn lắm chị Hằng ơi!”. Một tiếng kêu đầy ắp tâm sự. Ba tiếng “Chị Hằng ơi!” rất biểu cảm, ý vị làm giọng thơ thiết tha thân mật. Câu thơ man mác sự buồn và chán. Tản Đà đã từng viết “Đời đáng chán hay không đáng chán?” Nay thì đã “chán nửa rồi”.

Bài thơ in trong tập “Khối tình con” xuất bản năm 1961, qua đó ta thấy rõ nguyên cớ sâu xa, buồn và chán vì trần thế, vì cuộc đời xấu xa, vì chế độ thực dân nửa phong kiến ngột ngạt, thối nát, tù hãm. Vì công danh dở dang: “Tài cao, phận thấp, chí khí uất”. Buồn vì non nước đang bị ngoại bang thống trị “lệ ai giàn giụa với giang sơn”. Đó là nỗi buồn của một hệ thống trong vòng nô lệ lầm than. Là một thi sĩ đa cảm, đa tình, nỗi buồn đã kết thành mối sầu: “Nửa ngòi bút ngỗng ba sinh lụy”

Một mối tơ tằm mấy đoạn vương”
(Đề khối tình con thứ nhất)
Một chữ “xin” rất chân thành tha thiết, như nài nỉ:

“Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành hoa xin chị nhắc lên chơi”

Hai câu thực đã làm rõ đề bài “Muốn làm thằng Cuội” ở nơi cung trăng, cung quế. Câu hỏi tu từ gợi nhiều man mác bâng khuâng. “Cành đa” đã trở thành cái thang bắc lên chín tầng mây xanh để “chị nhắc lên chơi” cung quế. Đó là giấc mộng thoát li. Mộng vì chán đời, ngán đời. Mộng có tính phủ định:

“Nghĩ đời lắm lúc không bằng mộng
Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời”

(Nhớ mộng) Có lên được cung quế mới đỡ “tủi”, mới thỏa thích, “thế mới vui”. Có chị Hằng bầu bạn; có gió, có mây cùng chơi với. Điệp ngữ (có, cùng) và phép đối được sáng tạo, có cả tiểu đội bình và đôi. Cách ngắt nhịp 2/2/3 tạo nên giọng thơ nhún nhảy lâng lâng. Thấm đẫm vần thơ là chất phong tình lãng mạn. Đọc lên nghe rất thú vị:

“Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió, cùng mây thế mới vui”

Đúng như nhà phê bình văn học Lê Thanh trong cuốn “Tản Đà thi sĩ” (1939) đã nhận xét “Thơ của ông (Tản Đà) là chất thơ trong như lọc với cảnh tượng không rõ rệt, những hình ảnh mờ mờ, ông vẽ những bức tranh tuyệt bút; với những tư tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ mộng, ông làm nên những câu thơ tuyệt mĩ…”.

Cái ngông, cái phong tình của thi sĩ đã dâng lên cực điểm. Đêm Rằm tháng Tám, là đêm trung thu đẹp nhất, chẳng còn buồn vị cô đơn nữa, thi sĩ được cùng chị Hằng “Tựa nhau trông xuống thế gian cười”. Cáicử chỉ “tựa nhau” và nụ cười ấy cũng là một giấc mộng đẹp. Thoáng một chút mỉa mai (cho trần thế) nhưng đầy thú vị được thoát li, được thỏa thích nơi cung quế:

“Rồi cứ mỗi năm Rằm tháng Tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười”

Cái kết thoát li. Một cách nói phong tình, tài hoa. Có đọc bài thơ Hầu Trời mới thấy được, cảm được cái hay, thú vị của bài “Muốn làm thằng Cuội”.Nửa đêm, Tản Đà tỉnh dậy đun nước pha trà, rồi ngâm thơ… Trời nghe giọng ngâm bèn sai hai tiên nữ xuống cõi trần rước thi sĩ bay lên. Thi sĩ đọc thơ cho Trời và bầy tiên nghe. Tất cả đều tấm tắc khen:

“Văn đã giàu thay, lại lắm lối
Trời nghe Trời cũng bật buồn cười!
Chư Tiên ao ước tranh nhau dặn:
Anh gánh lên đây bạn chợ Trời!”

(Hầu Trời)

Bài “Muốn làm thằng Cuội” là một bài thơ có thi đề độc đáo, thú vị. Giọng thơ nhẹ nhàng, thanh thoát, chơi vơi. Trí tưởng tượng phong phú, kì diệu. Chất mộng ảo, sắc màu lãng mạn thấm đẫm bài thơ.

Tuy có nói đến buồn, nói đến chán, có nói đến thoát li, có thấm vị phong tình… nhưng toàn bài thơ thoát lên một tinh thần phủ định thực tại xã hội thực dân nửa phong kiến xấu xa, khao khát được sống trong sạch hơn, thanh cao hơn, để mãi mãi giữ trọn thiên lương cao đẹp. Giá trị đích thực của bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” là ở chỗ ấy.

Bài văn phân tích bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà số 6

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là nhà thơ lớn nhất của dân tộc ta trong những năm đầu thế kỉ XX. Thơ Tản Đà là tiếng lòng của một cái tôi bất hòa sâu sắc với thực tại tầm thường, tù túng, muốn tìm cách thoát ly bằng mộng tưởng. Với một hồn thơ vừa phóng túng, vừa sầu mộng và rất ngông, Tản Đà đã thổi một luồng gió lãng mạn vào trong thi ca, dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đang sắp sửa (Hoài Thanh).

Bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” nằm trong cuốn Khối tình con I, xuất bản năm 1917. Bài thơ là lời nhà thơ nói với chị Hằng trong một đêm thu và xin chị cho lên cung trăng cùng chị để tránh xa cái trần thế đáng chán này.Bài thơ vẫn được viết theo thể thơ truyền thống của thi ca lúc bấy giờ: thể Đường luật bát cú.

Đọc kĩ bài thơ, ta thấy nhà thơ vẫn tuân thủ nghiêm chỉnh những quy tắc chặt chẽ của thể thơ cổ điển nhưng không gò bó, khô cứng, mà tự nhiên, thoải mái, lời thơ mặn mà, tình tứ và rất có duyên.Bài thơ mở đầu bằng một lời than thở, một tâm trạng, một nỗi lòng:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

Trần thế em nay chán nửa rồi

Trong câu thơ của Tản Đà, ta đọc được một nỗi sầu da diết khôn nguôi. Vì sao Tản Đà, một thanh niên đang phơi phới tuổi xuân, tài danh cũng đã nổi, lại trở nên sầu muộn như thế? Trong bài Giải sầu (1918), Tản Đà cũng đã từng viết: Từ độ sầu đến nay, ngày cũng có lúc sầu, đêm cũng có lúc sầu.

Mưa dầm lá rụng mà sầu, trăng trong gió mát mà càng sầu; một mình tĩnh mịch mà sầu, đông người cười nói mà càng sầu; nằm vắt tay lên trán mà sầu, đem thơ văn ngâm vịnh mà càng sầu… sầu không có mối, chém sao cho đứt sầu không có khối, đập sao cho tan… Phải chăng cái sầu trong thơ Tản Đà là cái sầu vẩn vơ, vô cớ? Không! Đó là nỗi buồn thời thế, buồn nhân sinh! Nỗi buồn ấy chỉ có thể có được ở những linh hồn cao khiết còn giữ được của một thời cái cốt cách vững vàng, cái phong thái thung dung (Hoài Thanh) như Tản Đà.

Cùng với nỗi buồn, Tản Đà chán ngán cuộc đời: Trần thế em nay chán nửa rồi. Thái độ chán đời của Tản Đà là thái độ bất hòa sâu sắc với cuộc đời, với cái xã hội phong kiến thực dân ngột ngạt tầm thường. Thái độ ấy bộc lộ một cá tính mạnh mẽ của một tâm hồn thanh cao không chịu uốn mình theo một khuôn phép của xã hội, không cam chịu một thân phận nô lệ thấp hèn.

Tâm trạng của Tản Đà, suy cho cùng, là nỗi đau đớn rất đáng quý, là nỗi buồn đẹp để người đời phải ngẫm suy. Bất hòa sâu sắc với thực tại, Tản Đà tìm cách thoát li thực tại. Khát vọng thoát li thực tại không chỉ có ở Tản Đà, mà nó là khát vọng của cả một lớp thanh niên trí thức đang sống trong không khí tù túng, u uất. Không ít nghệ sĩ đã tìm cách thoát li trong rượu, trong thơ, trong cuộc sống giang hồ tài tử, trong cõi bồng lai tiên cảnh mơ hồ của mộng tưởng. Với Tản Đà, cá tính ngông khiến thi nhân tìm cho mình một cách thoát li cũng rất đặc biệt, rất ngông:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Thật là một địa chỉ thoát li lí tưởng, vừa xa lánh hẳn cái trần thế đáng chán kia, vừa được sống trong một thế giới bồng lai tiên cảnh thành khiết, bên một thiếu nữ đẹp và bao dung như chị Hằng. Còn gì hơn thế!Điều đáng chú ý ở đây là việc bày tỏ khát vọng thoát li. Đầu tiên là một lời ướm hỏi: Cung quế đã ai ngồi đó chửa? Tiếp đến là một gợi ý: Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Giọng điệu thơ thật tự nhiên, vừa dí dỏm, vừa tha thiết, mặn mà, làm sao nỡ từ chối? Chẳng biết chị Hằng đã đồng ý chưa mà nhà thơ lại thích thú đến thế khi tưởng tượng ra cảnh sống bên cạnh tiên nga:

Có bầu, có bạn, can chi tủi,

Cùng gió, cùng mây, thế mới vui!

Vì sao Tản Đà cảm thấy sung sướng và hạnh phúc đến thế? Bởi lẽ ông đã tìm được tri kỉ: có bầu, có bạn, được hòa đồng với cuộc sống: cùng gió, cùng mây, không còn phải cô đơn, buồn tủi nữa.Thế có nghĩa là trước đây, ở trần thế, ông luôn cảm thấy mình lẻ loi, cô đơn, buồn tủi: Đông người cười nói mà càng sầu? Sống giữa chốn phồn hoa đô thị nhộn nhịp, hỏi đã mấy ai hiểu được nỗi lòng thi nhân?

Chung quanh những đá cùng cây

Biết người tri kỉ đâu đây mà tìm!

Nhớ lại từ thế kỉ trước, Bà huyện Thanh Quan cũng đã từng phải cô đơn, buồn tủi giữa đám tuỳ tùng, giữa những người xung quanh bà:Một mảnh tình riêng, ta với ta! Nếu như nữ sĩ xưa chỉ biết ôm mối sầu tủi, buồn thương trong lòng, thì Tản Đà không cam chịu, ông tìm đến với chị Hằng, cùng chị làm bầu bạn tâm tình để cho tâm hồn mình thư thái lại, để cho lòng mình rộng mở mà đón nhận thiên nhiên, đón nhận vẻ đẹp thanh tao của cuộc sống không vấy bẩn bụi trần.

Mối u uất trong tâm hồn thi nhân dường như đã được giải toả.Giấc mộng lên cung trăng của thi nhân thật lãng mạn, đầy chất đa tình và ngông. Giấc mộng thoát ly này hẳn phải khiến nhiều người ngỡ ngàng? Trong thơ văn xưa, đã có không ít người mơ lên cung trăng, thả hồn vào cõi tiên, nhưng liệu đã có ai như Tản Đà, đem theo nguyên vẹn cái: thói phong tình bất kính như thế? Mạch cảm xúc lãng mạn và ngông được đẩy lên cao độ bằng một hình ảnh tưởng tượng đầy bất ngờ và ý vị:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám

Tựa nhau trông xuống thế gian, cười.

Trong con mắt của Tản Đà, cõi trần bụi bặm kia giờ đây chỉ còn bé tí. Và nhà thơ bật cười thích thú với cái ý nghĩ đó. Một cái cười vừa thỏa mãn, vừa mỉa mai, bao dung. Thỏa mãn vì đã thực hiện được mộng tưởng thoát li, đã xa lánh được hẳn cái xã hội tầm thường, tù túng. Mỉa mai, bao dung vì cõi trần giờ đây chỉ còn bé tí, đâu có thể giam hãm được một tâm hồn đang bay bổng lên trên nó. Hai câu kết là đỉnh cao của một tâm hồn lãng mạn và ngông của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tiên sinh.

Bài thơ khép lại trong niềm sung sướng đến mãn nguyện của thi nhân vì đã thực hiện được giấc mộng thoát li. Thế mà mấy mươi thập kỉ sau người đời vẫn còn phải bàn luận về nó.

Bài văn phân tích bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà số 7

Trên văn đàn Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỉ XX, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu nổi lên như một hiện tượng đặc biệt, làm kinh ngạc và xôn xao dư luận. Là người của hai thể kỉ (theo cách nói của Hoài Thanh), ở tiên sinh vừa có lớp dấu ấn của nhà nho thế hệ cuối, vừa thoát thai một con người tự do dân chủ thời hiện đại. Cái tư chất phóng túng và gia đình của nhà nho tài tử là mảnh đất thích hợp cho “cái tôi” cá nhân lãng mạn tự do nảy nở.

“Cái tôi” đó ở Tản Đà, vừa bị trói buộc bởi chính những tư tưởng phong kiến của nhà thơ, vừa cảm thấy bế tắc trước thực trạng xã hội, luôn vùng vẫy tự giải thoát. Và trong thơ văn, nó đã bùng lên thành cảm hứng mãnh liệt muốn thoát li thực tại.Muốn làm thằng Cuội là bài thơ nằm trong mạch cảm hứng thoát li đó của Tản Đà, cùng với những bài Trời nắng, Tống biệt, Hầu trời (thơ)… và những Giấc mộng lớn, Giấc mộng con (mà Xuân Diệu gọi là “du kí”)… Xuất hiện trong tập Khối tình con năm 1916, có thề nói “Muốn làm thằng Cuội” là bài mở đầu cho lối thơ phóng túng, đầy ý tưởng lãng mạn cua Tản Đà.

Chúng ta thử hình dung lại không khí văn đàn những năm 20 đầu thế kỉ này, khi những áng văn xuôi quốc ngữ còn chập chững, chưa xa lắm đối với văn biền ngẫu, khi những giọng thơ nghiêng trang, mực thức kiểu thơ Đường còn phổ biến và trên báo chí đầy rẫy các truyện cổ diễn Nôm, thì một giọng thơ phóng túng như Tản Đà không thể không khiến cho người đọc ngỡ ngàng:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

Trần thế em nay chán nửa rồi…

Vẫn là lối thơ cũ: Thất ngôn bát cú Đường luật, thi liệu cổ: tràng, nhưng cách sử dụng câu chữ tài tình của thi nhân đã làm hồn thơ biến đổi, mới mẻ hẳn. Đối diện với mặt trăng – nguồn cảm hứng của muôn đời thi sĩ, có lẽ chỉ duy nhất Tản Đà là Muốn làm thằng Cuội! Cái ý tưởng vô cùng lãng mạn – bay lên cung trăng lại được diễn tả thành một ước muốn có phần ngộ nghĩnh: Muốn làm thằng Cuội.

Cái khác đời, cái ngông của Tản Đà là ở đó. Phải chăng thi nhân quá ngán sự đời, muốn mượn danh thằng Cuội để tha hồ nói láo cho vui? Nhưng trong bài thơ, ý định bông lơn cứ hòa lẫn với tâm trạng chán chường thực tại, làm cho giọng thơ có một vẻ rất đặc biệt: buồn da diết mà cứ tưng tửng như không! Hóa thân vào chủ thể trữ tình của bài thơ, thi nhân giãi bày nguyện vọng của mình:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

Trần thế em nay chán nửa rồi

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Tự cô chí kim, có lẽ Tản Đà mới có giọng suồng sã, thân mật “chị chị em em” với Hằng Nga như vậy. Nhà thơ cố tình hiểu chệch ý nghĩa giống cái trong từ Chị Hằng mà dân gian thường gọi thành ý nghĩa ngôi thứ trong cách xưng hô, biến nàng trăng xa vời thành bà chị thân thiết của mình và lấy đó làm đối tượng để… tâm sự.

Những lời nói cửa miệng: buồn lắm chị ơi! Em chán nửa rồi. Ai ngồi đó chửa? Chị nhắc lên chơi… đưa vào thơ một cách nhuần nhuyễn khiến những câu thơ Đường luật mất hẳn vẻ trang trọng, trở thành lời bộc lộ tâm tình hồn nhiên, dân dã. Thi nhân đã làm sống dậy những truyền thuyết thơ mộng trong dân gian về Hằng Nga – cung Quảng, chú cuội – cây đa… nhưng lại muốn xóa nhòa khoảng cách cõi tiên và cõi tục:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Chỉ một từ nhắc rất dân dã mà người thơ như trở thành bé bỏng, thành một chú Cuội không chỉ ngồi gốc cây đa mà còn muốn vắt vẻo cành đa để cận kề người đẹp cõi tiên. Đối với chàng thi sĩ đa tình, mộng và thực đã hòa làm một. Chàng có thể nỉ non với chị Hằng, than vãn về nỗi buồn trần thế, rủ rê người đẹp bầu bạn với mình để vui thú cùng mây gió.

Có bầu có bạn can chi tủi,

Cùng gió, cùng mây thế mới vui.

Hóa ra câu tuyên ngôn rất “vị nghệ thuật” của Xuân Diệu thời thơ mới: Là thi sĩ nghĩa là ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây đã được Tán Đà thi sĩ thực hành từ 20 năm trước! Nhà thơ nói với chị Hằng, nói cùng ai đó, mà cũng dường như tự nói với mình: chán trần thế thì lên tiên, lên tiên làm bạn với tiên, vui như thế can chi tủi! Và như thế tăng sức thuyết phục, bài thơ chốt lại bằng một viễn cảnh vô cùng thú vị:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,

Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Thi nhân đang sống trong một ảo, sống hết mình nên cảnh mộng mà người vẽ ra cứ hồn hậu như đời thực. Ở đây, ta cảm giác có sự đảo lộn tình thế. Hình như không phải nhà thơ là người được chị Hằng thương xót cho lên thượng giới nữa, mà chính Hằng Nga đã bị chàng thi sĩ rất ngông này kéo tuột từ trên cung Quảng xuống với những thú vui trần thế: có bầu có bạn, tựa nhau… cười.

Và người đọc cũng không thể không mỉm cười khi hình dung cảnh tượng: Cứ mỗi đêm rằm tháng tám, chờ lúc tất cả bàn dân thiên hạ ngẩng đầu ngắm trăng mà ao ước, chàng thi sĩ Tản Đà lại má sát má, vai kề vai với nàng trăng nheo mắt cả cười nhìn xuống cõi nhân gian bé tí.

Sau này, cảm hứng về chị Hằng, chú Cuội còn đẩy trí tưởng tượng của Tản Đà đi xa hơn nữa. Trong tập du kí Giấc mộng con, Tản Đà kể chuyện lên thượng giới gặp Đông Phương Sóc, được ông này cho biết về thân thế của mình như sau: Nguyên xưa ông ở trên này là một vị Khuê tinh, Thượng đế có lòng yêu lắm. Một khi ông dám làm thơ liệng sang cung Quảng Hàn, bị thằng Cuội bắt được đem trình Thượng đế. Ngài giận mới đày ông xuống hạ giới. Ông đã bị xuống hạ giới mà lại còn làm thơ, làm bài hát nói láo, như vẫn còn bờm xơm với Hằng Nga, làm cho Thượng đế càng giận, tăng thêm cái hạn đày ông hai mươi năm nữa…

Nói về Giấc mộng con để thấy rằng Muốn làm thằng Cuội chỉ là một bài thơ nhỏ mở đầu cho hàng loạt tác phẩm theo mạch cảm hứng thoát li thực tại của Tản Đà. Trong hoàn cảnh phức tạp của xã hội lúc bấy giờ, ý tưởng thoát lên tiên, trốn vào thơ hay vào mộng chưa phải sự bế tắc của xã hội.

“Muốn làm thằng Cuội” là một phản ứng đáng được ghi nhận của Tản Đà. Hơn nữa, bài thơ hé mở cho ta thấy tâm hồn đa cảm, lãng mạn và ngòi bút phóng túng của nhà thơ. Cái tài của thi nhân ở chỗ dùng ngay những câu dung dị như lời nói cửa của thi nhân ở chỗ dùng ngay vào những ý tưởng độc đáo, biến chúng thành những câu đầy chất thơ.

Có thể nói, tư tưởng mãnh liệt tự nó đã phá vỡ cái vỏ khuôn mẫu, trói buộc để tìm lấy cách thể hiện thích hợp. Muốn làm thằng Cuội nảy sinh từ trong quy luật đó. Ngay ở trong bài thơ nhỏ này của Tản Đà, ta có thể thấy mầm mống của sự đổi mới dòng “thơ cũ”, báo hiệu cho thời kì Thơ mới về sau mà Tản Đà được coi là người mở đường không ai thay thế nổi.

Bài văn phân tích bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà số 8

Được mệnh danh là dấu gạch nối giữa hai thời đại văn học, thơ Tản Đà phóng túng, ngông nghênh với nội dung nhiều lần khiến độc giả bất ngờ, ngỡ ngàng. Một trong những bài thơ rất nổi tiếng của ông đó là bài thơ: “Muốn làm thằng Cuội”.

Ngay từ những câu mở đầu bài thơ, Tản Đà đã làm cho độc giả phải thích thú:

Đêm thu buồn lắm! Chị Hằng ơi!

Trần thế em nay chán nửa rồi.

Hai câu thơ hiện lên với tưởng tượng về một đêm mùa thu với trăng sáng soi xuống trần thế. Nhà thơ trong tư thế ngắm trăng sáng mà liên tưởng tới câu chuyện cổ tích trên cung trăng có chị Hằng mà thốt lên với trăng, với chị Hằng trong hai dấu chấm than nặng trĩu. Cách gọi “chị Hằng” thật thân mật, tự nhiên, gần gũi”.

Nhà thơ như đang tâm sự về cảnh “buồn” của mình đồng thời bộc lộ tâm trạng trước cuộc sống thực tại “chán nửa”. Phải chăng, sống trong một xã hội tù hãm, uất ức, khi mà đất nước mất chủ quyền, con người mất tự do, những kẻ hãnh tiến thì thi nhau ganh đua bỏ mặc vận mệnh giang sơn, ông buồn chán vì phận tài hoa mà lận đận, không đủ sức thay đổi hiện thực bi kịch. Tản Đà bộc lộ ước muốn của mình:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Phong cách của Tản Đà có thể tóm gọn trong một chữ “ngông” trong một thái độ phóng túng coi thường khuôn phép trói buộc cá tính, ông luôn khiến cho độc giả phải bất ngờ bởi những ý tưởng trong những vần thơ của mình. Ông đã bộc lộ ước muốn của mình qua một câu hỏi rất bất ngờ cùng lời “xin” hết sức tự nhiên, chân thành, xin chị Hằng dùng cành đa để nhấc ông lên cung trăng để ông giống chú Cuội. Và ông đưa ra lí do đó là:

Có bầu, có bạn, can chi tủi,

Cùng gió, cùng mây, thế mới vui.

Tản Đà đã đề nghị kết bạn với chị Hằng, bộc lộ một mong muốn có bạn để bớt tủi, có lẽ dưới trần thế ông đang rất cô đơn, khó mà tìm được tri âm tri kỉ nên chỉ có thể lên chốn cung trăng, chốn mộng tưởng để mong vơi nỗi cô đơn ấy. Điều này còn bộc lộ mong muốn phiêu diêu cùng mây cùng gió trong không gian thơ mộng, rộng lớn, không bị bó buộc. Khi ấy:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám.

Tựa nhau trông xuống thế gian, cười.

Vào rằm tháng tám, khi ấy trăng là sáng nhất, tròn nhất, có người cho rằng vào khi ấy, người ta thậm chí có thể nhìn thấy cây đa và chú Cuội ngồi dưới. Tản Đà muốn mình được lên cung trăng sống trong cảnh bồng lai, thoát li hiện thực, tránh xa tất cả hiện thực đen tối âm u lên chốn tiên cảnh vô tư thanh tao rồi để khi nhìn xuống trần gian thì sáng khoái cười lũ người quyền thế phàm phu trang giành, ganh đua nhau, cười sự vô vị, trống rỗng của một thế gian mà ông đã “chán nửa”.

Hơn thế, đây còn là cái cười mãn nguyện khi đã thoát li khỏi trần thế, thoát khỏi hố đen mà ông bất hào sâu sắc bấy lâu. Chữ “cười” được tách ra bởi dấu phẩy chính là để nhấn mạnh ý nghĩa ấy.Với thể thơ thất ngôn bát cú mà không hề khuôn khổ, bài thơ mang đến cho người đọc sự dễ dàng trong việc tiếp cận và hiểu.

Tuy rằng ước muốn làm thằng Cuội có vẻ như hoang đường nhưng Tản Đà cũng giống đa phần các trí thức đương thời, chỉ muốn thoát li khỏi thực tại tù túng, héo hon bởi họ là nhưng người có tài, có chí nhưng chỉ đành bó tay bất lực trước thời cuộc và chỉ biết gửi nỗi chán chường ấy vào thi ca, vào những ước muốn thoát li.

Bài thơ là cái ngông đáng trân trọng của Tản Đà trong một thế cuộc vần xoay đen tối của đất nước. Đọc bài thơ, người đọc có tâm thế thoải mái trong sự tiếp thu tâm tư của tác giả nói riêng và các trí thức đương thời nói chung.

Bài văn phân tích bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà số 9

Tản Đà là một nhà thơ sớm nổi tiếng. Thơ ông tràn đầy cảm xúc lãng mạn, rất đậm đà bản sắc dân tộc và có những sáng tạo mới mẻ. Có thể nói thơ Tản Đà là một gạch nối giữa thơ cổ điển và thơ hiện đại Việt Nam. “Muốn làm thằng Cuội” là bài thơ đặc sắc của ông.

Bài thơ được viết theo thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Bài thơ mở đầu là lời kể tự nhiên, là lời tâm sự với nỗi buồn man mác:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

Trần thế em nay chán nửa rồi.

Nhà thơ có nỗi buồn nơi trần thế nên ngẩng đầu tâm sự với chị Hằng vào một đêm thu. Nhà thơ buồn vì người đời ở thế gian, hoặc cũng có thể buồn vì chí hướng của ông không thực hiện được. Cái trần thế mà nhà thơ đang sống có lẽ là bất công, ngột ngạt đến khó chịu. Nhưng dù buồn chán, nhà thơ vẫn tâm sự ngọt ngào với chị Hằng, thổ lộ cho chị biết cuộc sống ở trần thế. Lời tác giả với chị Hằng cũng là lời tâm sự thân thiết.

Lời tâm tình ấy đã tạo nên một khoảng cách rất gần giữa trần thế và vũ trụ. Vầng trăng từ xưa đến nay vốn là nguồn cảm xúc của thi sĩ. Nhưng hôm nay, vầng trăng là người để nhà thơ san sẻ nỗi niềm tâm sự. Nhà thơ muốn xin chị Hằng giúp đỡ để thoát khỏi cái thực tại tầm thường, xấu xa nơi trần thế. Tản Đà đã thể hiện rõ nguyện vọng của mình:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Nhà thơ hỏi thẳng có ai ngồi trên cung quế đó chưa rồi mới bám vào cây đa xin chị Hằng đưa lên cung trăng. Tản Đà muốn làm thằng Cuội là muốn thoát li cuộc sống bằng mộng tưởng lên cung trăng để bầu bạn với chị Hằng. Ở đây ta cảm nhận cái ngông của Tản Đà, nhưng cái “ngông” ấy không phải để người ta ghét bỏ mà cái “ngông” thật đáng yêu vì nó thật sự thanh cao.

Ông muốn sống ẩn dật để thoát li khỏi xã hội tầm thường, xấu xa để đời mình không vướng bụi mờ, không mắc phải cái tầm thường nơi trần thế.Nhà thơ đã thể hiện mục đích của mình khi lên cung quế, nó không những thoát li cuộc sống thực tại, vứt bỏ cái buồn của mình mà còn tìm đến với bầu bạn, tìm đến với thiên nhiên khoáng đạt của đất trời:

Có bầu, có bạn, can chi tủi

Cùng gió, cùng mây, thế mới vui.

Nhà thơ thật lãng mạn pha chút ngông nghênh rất đáng yêu, ông muốn đổi mới cuộc sống mình, muốn tìm đến cái tốt đẹp, tìm đến cuộc sống có ý nghĩa.Kết thúc bài thơ đã nêu bật ra ý nguyện của Tản Đà. Ông muốn làm thằng Cuội để không bao giờ sống dưới trần gian bế tắc ấy nữa. Ông sẽ mãi mãi ở trên cung trăng:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám

Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Tiếng cười của Tản Đà khi được ở cung trăng có nhiều ý nghĩa. Vui cười với các em thiếu nhi ở thế gian nhân ngày Tết trung thu, cười cái bon chen ở trần thế, cười cái xã hội bế tắc ở buổi giao thời. Cũng có thể là cái cười chua xót trong lòng “như mảnh vỡ thuỷ tinh” và cũng có thể là tiếng cười hả hê vì đã đạt ý nguyện thoát li được xã hội đen tối.

Thấp thoáng trong tiếng cười ấy cổ sự ngạo mạn về cảnh đời ở thế gian, những việc làm nực cười của xã hội dưới con mắt của nhà thơ.Bài thơ là một khát vọng lãng mạn đầy ý nghĩa. Lời thơ có sức tưởng tượng dồi dào, phóng túng, táo bạo nhưng rất duyên dáng, tế nhị.

Bài thơ có sức hấp dẫn người đọc, giúp người đọc đồng cảm với con người phải sống trong xã hội giao thời “nửa cười nửa khóc”. Hồn thơ lãng mạn pha chút ngông nghênh, nó vừa mang tính chất cổ điển vừa mang tính hiện đại. Tất cả những yếu tố đó tạo nên cái hay của bài thơ và cái hay của nhà thơ.

Bài văn phân tích bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà số 10

Hi vọng qua bài viết trên, bạn đọc có thể tham khảo được cách phân tích tác phẩm để làm tốt nhất bài văn của mình. Chúc các bạn học tốt.

Chị Duyên Anh Hải

Chị Duyên Anh Hải (Tế Hanh)

Đêm khủng khiếp trong những đêm khủng khiếp

Nếp bãi biển xóm nghèo thiêm thiếp
bóng tối hãi hùng như lưới bủa âm u
gió rung cây hay bước động quân thù
Tiếng sóng thét, tiếng sóng gầm, bốn bề tiếng sóng

Nhớ quê hương những ngày ấm nóng
khi con chim tu hú gọi mùa hè
tiếng sóng bên thềm như chẳng có ai nghe
như hoà lẫn trong mái chèo nhịp nước
Đời lao động tưng bừng theo điệu hát
ánh đuốc thâu đêm mờ cả trăng sao
gió đưa thơm mùi cá nướng ngạt ngào
những vảy cá rải trên đường lấp lánh

Thế mà nay bốn bề vắng lạnh!
bóng thiên nhiên nuốt chửng bóng con người
tiếng sóng miên man như lấp mặt cuộc đời
đêm tối mịt tận đáy hồn xâm chiếm
Chỉ đau nhói ánh đèn pin Mỹ Diệm
loé trong đêm như mắt cú rình mò
cả xóm nghèo ôm ngực giữa cơn ho
Tiếng sóng thét, tiếng sóng gầm, bốn bề tiếng sóng

***

Ngôi chùa vắng im lìm cửa đóng
trên bàn thờ mấy tượng Phật khoanh tay
bọn Quốc gia trong tiệc rượu no say
máu be bét một thân người cuối góc
treo khắp vách, đường xanh kẻ sọc
những chiếc bao như nấm mả chôn người
Giữa căn nhà: miếng sắt đỏ nung sôi
những cùm kẹp còn tanh mùi thịt sống
Cái mặt lợn trong hình tên “Tổng thống”
híp mắt hằn thù như bảo lũ tay sai:
lấy máu nhiều thêm để tao nhuộm ngày mai…

Hải dần tỉnh… mơ màng qua sóng biển
sống lại trong anh những ngày kháng chiến:
Anh đã cùng các bạn giữ quê hương
như bầy con săn sóc mẹ bên giường
bãi cát trắng không hề in bóng giặc
Nhớ em Ái hy sinh khi bị bắt
nhớ anh Dương trong bão biển không lùi
nhớ nục cười đồng chí bí thư
hai lần cầm tay anh nhắc:
“tôi ra miền Bắc
anh ở lại thôn nhà
hứa cùng nhau xứng đáng với quê ta”

Hải bỗng nghe tận cùng da thịt nát
như thấm tràn một luồng nước mát
ngực muốn vỡ ra trăm quả núi đè lên
mắt mở trừng sao chỉ thấy đêm đen?
sao bốn phía không còn không khí nữa?
nghìn kim đâm?
Hải thở chẳng ra hơi
– Em Duyên ơi! em ở lại trên đời
em ở lại nuôi con
Anh chết mất!

***

Căn nhà nhỏ quỳ trên bãi cát
gió mắc vào tấm lưới rách tả tơi
Duyên ôm con tựa cột ngó ra trời
chồng bị bắt, mất còn chẳng biết!
tiếng sóng vỗ vang từ cõi chết
Hoà bình gì mà mới có hai năm
cả xóm thôn tan nát như bằm:
người bị đánh, người bị tù, người bị giết
Cơn đói vây quanh cùng bóng chết
những chiếc bao sòng sọc đường xanh
như bóng ma trên nước nổi lềnh bềnh
sóng xô đẩy những thây người tan rã
dân ở biển mà ghê mùi vị cá!
Bọn Quốc gia còn hăm doạ láng giềng
không người nào được giúp mẹ con Duyên
Đôi vú mẹ, con ơi, dòng sữa cạn!
một hạt gạo cõng hai ba củ sắn
chị nhìn con ốm yếu xanh xao
và miếng cơm mắc nghẹn nuốt không vào…

Duyên ngủ thiếp như nhánh cây mệt mỏi
trong giấc mơ Duyên thấy mình với Hải
dắt nhau đi trên bãi biển hoà bình
lần đầu tiên không tiếng súng chiến tranh
chỉ khúc hát nhân dân chài lưới
Hai vợ chồng đi như ngày mới cưới
Duyên buộc vào nón chiếc quai nhung
chồng vừa mua sau buổi lễ ăn mừng
lần đầu tiên chị mang áo trắng
Hai vợ chồng đi từ chiều còn nắng
đến đầu hôm mặt biển trăng lên
mái tóc Duyên đen nhánh xoã trong đêm
thuyền gối sóng chập chờn trôi đến xứ
không còn nỗi khổ nghèo, không còn quân quỷ dữ…
Bỗng cất lên tiếng gọi: ba! ba!
Duyên giật mình cúi xuống nựng con thơ
tiếng sóng vẫn bốn bề ào ạt…
Nhưng hình ảnh thân yêu như nến thắp
dắt dìu Duyên từng bước giữa đêm đen
chuyền sức cho Duyên chống lũ đê hèn…

***

Sao mặt biển sáng nay tối lại?
sấp mặt trời những chiếc thuyền quay lái?
tiếng kêu thất thanh đạp sóng bay vào:
“Đồng bào ơi! chúng giết! hỡi đồng bào!
chúng giết chết, đồng bào ơi! anh Hải!”
Cả thôn xóm rùng rùng ra chật bãi
Duyên ôm con như pho tượng đứng nhìn
mặt mày chồng vết máu hãy còn in
ngực nát bét
Một cụ già lên tiếng:
“Tôi đứng mũi bỗng nghe tay lưới chuyển
liền kéo lên – một chiếc bao xanh
máu nhuộm bầm
vội mở thấy thây anh
cổ trẹo buộc vào tảng đá
thịt sưng tím nước thấm vào sắp rã…
Chị Duyên ơi! trời chẳng phụ người hiền
nên chúng tôi vớt được anh lên
anh ở với bà con, nghe anh Hải!

Ngày hôm ấy
mặc bọn Diệm cản ngăn
cả dân chài bỏ việc
sóng dâng lên những lời thương tiếc
Ôi! mối tình bóng tối muốn chia tan
tình nhân dân đất nước giữ vẹn toàn
Trên biên giới cõi đời và cõi chết

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Chị Duyên Anh Hải” của tác giả Trần Tế Hanh. Thuộc tập Tiếng Sóng (1960), danh mục Thơ Tế Hanh trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Mặt Quê Hương

Mặt Quê Hương (Tế Hanh)

Mặt em như tấm gương
Anh nhìn thấy quê hương

Kìa đôi mắt, đôi mắt
Dòng sông yêu trong vắt

Kìa vừng trán thanh thanh
Khoảng trời xa yên lành

Miệng em cười tươi thắm
Như vườn xanh nắng ấm

Hơi thở em chan hoà
Như hơi thở quê ta

Hôm qua ai thù giặc
Mà môi em mím chặt?

Hôm nay ai xót thương
Mà mi em mờ sương?

Ôi miền Nam yêu dấu
Trên mặt em yêu dấu

Ôi tháng năm nhớ thương
Mặt em là quê hương.

(1-1-1963)

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Mặt Quê Hương” của tác giả Trần Tế Hanh. Thuộc danh mục Thơ Tế Hanh trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Nhà thơ Tản Đà và các tập thơ Tây Thi (1922), Thiên Thai (1922)

Nhà thơ Tản Đà có nhiều tập thơ nổi tiếng và được đánh giá rất cao. Đó cũng thể hiện được tài năng và phong cách thơ ca của nhà thơ này. Bởi sau nhiều thăng trầm biến cố trong cuộc sống, các nhà thơ, nhà văn đương thời đã nhìn nhận lại những cống hiến của Tản Đà trên văn đàn. Và ông cũng được đánh giá là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thời kỳ nối tiếp. Đó là quá trình ra đời và phát triển của Thơ Mới. Để hiểu thêm về nhận định này chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn các bài thơ trong hai tập Tây Thi và Thiên Thai. Cùng đón đọc nhé!

Nội Dung

Ngô vương được Tây Thi cùng Trịnh Đán, dựng đài Cô Tô, cung Quán Nhai, ngày đêm mê chơi, hoang dâm vô độ. Sau quân Việt sang đánh Ngô, Ngô bị tàn phá.

Một vai đào bán rau, đi qua tàn cung vua Ngô, đứng ngậm ngùi nói:

I
Trái núi nọ mặt trời ngang xế,
Đầu ghềnh kia mây kéo đen rầm.
Trông tàn cung ngao ngán trong tâm,
Cảm cố quốc lâm râm hạt luỵ.
Vãn:
Hạt luỵ lâm râm cố quốc,
Giấc mê hồn chẳng thuốc mà ra.
Câu – Ngô vẫn nước non nhà
(Ngô vương ơi!)
Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa.

Vãn xong quăng bỏ gánh rau, hoá điên. Hát giọng điên:
Đức ông ăn mặn,
Gà thiến đi tu.
Nhởn nhơ cô thoã lên chùa.
A Di Đà Phật, Nam mô, đắt hàng.
Chuyến đò ngang, mình sau ta trước,
Kiếp tài tình, mặt nước chân mây.
Sông kia núi nọ còn đây,
Nực cười ông vua Trụ say mê nghiêng thành.
Thành nghiêng quán đổ tan tành,
Trước sân con hươu rỡn, trong mành con rện sa.
Cành mai quả bẩy quả ba,
Ới đàn con chim thước bay ra lạc loài.
Lạc loài phấn nhạt hương phai,
Cám thương ai hữ con người, ới hỡi, răng đen.

II
Ào ào trống gióng,
Phơi phới cờ bay,
Hay hỡi là hay,
Lạ ơi là lạ!
Nửa đường rụng tía rơi hồng,
Cảm thương con chim nhạn vợ chồng Bắc Nam.
Mịt mù khói toả động Lam,
Triết vương khuất mặt, cổ am lạnh lùng.
Tơ lý hồng, tơ lý hồng, hồng tơ hồng tơ lý hồng,
Phương này có sông, sông Nhị Hà, sông Nhị Hà,
Sóng kêu dồn dã.
Phương này có núi, núi Ba Vì. Núi Ba Vì
Khuất ngả lầu tây.
Đấy mong chồng, cho đây nhớ vợ!
Mảnh chung tình phân trở đôi nơi.
Đôi nơi chung dưới một trời,
Lúc sầu, lúc oán, lúc giận, cười, (ới hỡi) lại tươi.

Khi Tây Thi, Trịnh Đán còn ở nhà quê Chữ La; Tây Thi cầm tấm lụa đào ra ngồi giặt ở suối, Trịnh Đán thời ra quanh bờ suối hái rau, cùng nhau bắt vần mà hát:
Tây Thi hát giọng kể thư Sài Gòn,
Trịnh Đán thời bắt sang Nam Xuân.

Tây Thi:
Thân em như tấm lụa đào,
Duyên tơ đã chắp nhuộm vào thêm tươi.

Trịnh Đán:
Một giòng suối mát thảnh thơi,
Lơ thơ ria đá một vài ngọn xanh.

Tây Thi:
Nao nao giòng nước uốn quanh,
Thướt tha lá lụa, rung rinh bóng người.

Trịnh Đán:
Rau leo quanh quẩn chân đồi,
Suối xa xa đến tận trời, ai hay?

Tây Thi:
Kìa trông con bướm xa bay,
Ấy ai tô phấn cho mày, bướm ơi!

Trịnh Đán:
Tung tăng đàn cá giong chơi,
Giữa giòng một cánh huê rơi nhẹ vèo.

Lớp này là lúc Phạm Lãi đem Tây Thi, Trịnh Đán sang cống Ngô mà vua Câu Tiễn để tiễn biệt ba người.

Phạm Lãi, Tây Thi, Trịnh Đán và quân lính ra một bên.

Câu Tiễn cùng phu nhân, mẹ Tây Thi, mẹ Trịnh Đán cùng ra một bên.

Câu Tiễn nói:
Này như đại phu ơi!
Nước Ô Việt ta mà có sự cống Ngô như thế này:
Nỗi gia quốc nghĩ càng đau dạ.
Ta sai quan Đại phu đi thời:
Đạo chủ thần, ngươi chớ từ nan.
Thôi thôi, ta tiễn Đại phu ra tới đây,
Trường đình nửa khắc hợp tan,
Mà làm cho Quả nhân đây,
Nước mắt hai hàng lã chã.
Gánh ly tình đôi ngả sầu thương.

Câu Tiễn phu nhân vãn:
Gian nan vận nước dậm trường,
Mối sầu theo một bước đường một xa.

Câu Tiễn cùng Phu nhân mỗi người cầm một chén rượu đưa cho Phạm Lãi và cùng vãn:
Nước non một chén quan hà,
Đường xa muôn dậm, châu sa mấy hàng.

Phạm Lãi hai tay cầm lấy hai chén rượu, một chân quỳ mà uống, rồi vừa lạy, vừa vãn:
Cúi đầu trăm lạy quân vương,
Cơn sầu phá tấm gan vàng chia hai.

Mẹ Tây Thi, mẹ Trịnh Đán trông vào hai con cùng vãn:
Từ đây góc bể bên trời,
(Con ơi!)
Con đi xa cách quê người chiếc thân.

Tây Thi, Trịnh Đán cùng vãn:
Muôn vàn từ giã quân, thân,
(Mẹ ơi!)
Thân con biển Sở sông Tần quản bao?

Phạm Lãi nói:
Xin tâu cùng Quân vương,
Hai cốc rượu đã cam lòng biệt,
Một mũi gươm xin cắt mối sầu.
Tâu Quân vương trở lại cung lầu
Để thần hạ tận lao quốc sự.
Câu Tiễn cùng Phu nhân vào.

Mẹ Tây Thi, mẹ Trịnh Đán cùng hai con vãn:
Roi câu thẳng gióng dậm trường,
(Quân vương ơi!)
Trượng phu khi cũng hai hàng chứa chan.

Tây Thi, Trịnh Đán cùng vãn:
Ngại ngùng muôn dậm quan san,
(Mẹ ơi!)
Hiếu trung hai gánh khôn đền cả hai.

Phạm Lãi vãn:
Giang san đèo nặng hai vai,
Cờ xa ai cắm lưng trời con con.

Tây Thi, Trịnh Đán cùng vãn:
Những là lạ nước lạ non,
Ngô thành vừa một tháng tròn tới nơi.

Hai bà mẹ lưu luyến, Phạm Lãi phải nói để giải tình rồi hai bà mẹ cùng vào. Phạm Lãi đem Tây Thi, Trịnh Đán cùng quân lính đăng trình. Phạm Lãi nói:
Hồng nhật trung thiên,
Hoàng lô mãn địa,
Tây giang đông tẩu,
Bắc nhạn nam phi.
Phong thê thê,
Vân mạn mạn;
Hành hoãn hoãn,
Chí mang mang.

(Lưu Thần, Nguyễn Triệu đi hái thuốc cùng hát điệu “Đường trường”)

Huề thủ anh ơi, đồng hành,
Đôi chúng ta nay huề thủ đồng hành.
Đoạn kim phạt mộc nhất tình cái chỗ dị hương.
Vật sâm nhung anh trải nếm đã thường,
Chán mùi nhân thế tìm đường thuốc tiên.
Con đường xa mà đã có bạn hiền,
Vén mây vạch đá ta liền có nhau.
Trông non xanh, anh ơi! xanh ngắt một mầu,
Chim kêu, vượn hót, huê rầu, rồi lại lá bay.
Cái cảnh thần tiên chưa dễ mà ai hay,
Thiên thai trông tỏ lối này phải chưa?
Tấm tình riêng ta những ước từ xưa:
Đoan dương hái thuốc mới bây giờ cùng nhau.
Chốn nhân gian trăm tuổi bạc đầu,
Trường sinh có phúc ngõ hầu ta gặp tiên.

Hai tiên nữ cùng Lưu Thần, Nguyễn Triệu kết duyên, các bạn tiên đem đào lại mừng cùng hát điệu “Thể loan”)

Tay tiên một quả tiên đào,
Nửa dâng mừng chị, nửa chào gập anh.
Gió đông phong đánh rợn suối tình,
Đưa đường trỏ nẻo để đôi mình lại đây.
Rượu bồ đào chưa nhắp đã say,
Trăm hoa giao kết một cây đèn trời.
Chốn tiên cung đông mặt họp nhờ,
Nợ trần, luỵ thế, mặc người nhân gian.
Cảnh Bồng Lai ngày tháng thanh nhàn,
Trăm nghìn êm ấm, muôn vàn ái ân.
Chúc cho đôi chữ trường xuân,
Rêu phong động biếc, đào ngăn bụi hồng.

(Lưu, Nguyễn xin về, hai tiên nữ tống biệt)

Hai tiên nữ nói: Hai chàng nay đã nhớ đến quê hương mà muốn về, chúng tôi nghĩ giữ lại làm sao cho tiện! Vậy xin kính đưa ra tới cửa động này mà có nhời thưa rằng:

Hai chàng,
Bởi tiền thế nhiều phần phúc đức,
Nên ngày nay kết bạn tiên cung.
Nhưng nợ trần vướng vít gỡ chưa xong,
Xui cõi tục mơ mòng còn tưởng nhớ!
Nay đến lúc kẻ đi người ở,
Thôi từ nay vĩnh cách tràng ly.
Ngãi trăm năm còn một khúc ca thi,
Dâng quân tải để làm nghi tống biệt.

Ngâm: Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi!
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi…

Trên đây là những bài thơ trong tập Tây Thi và Thiên Thai của Tản Đà mà chúng tôi muốn giới thiệu với bạn. Thông qua các bài thơ này bạn sẽ hiểu thêm về khả năng và phong cách sáng tác văn chương của ông. Hơn nữa trong thơ của ông cũng chất chứa các quan niệm, góc nhìn về nhân tình thế thái. Bên cạnh các chùm thơ này ông còn dành thời gian cho các chùm thơ dịch xuất sắc. Đừng quên đón đọc những bài viết tiếp theo của chúng tôi để cùng tìm hiểu và cảm nhận thơ của ông bạn nhé!

Những câu nói về tình yêu cực hay bằng Tiếng Anh dành riêng cho các bạn gái

Vẻ đẹp của tình yêu là điều mà tất cả mọi người trên thế giới này đều tôn vinh, dù bằng bất kỳ thứ ngôn ngữ nào. Hôm nay với mong muốn mang đến cho bạn một bài viết hay cũng như giúp vốn từ Tiếng Anh của bạn được nâng cao hơn, phongnguyet.info xin tổng hợp Những câu nói về tình yêu cực hay bằng Tiếng Anh dành riêng cho các bạn gái để dành tặng cho các bạn đọc thân thiết. Mời bạn cùng thưởng thức.

nhung-cau-noi-ve-tinh-yeu-cuc-hay-bang-tieng-anh-danh-rieng-cho-cac-ban-gai-1

nhung-cau-noi-ve-tinh-yeu-cuc-hay-bang-tieng-anh-danh-rieng-cho-cac-ban-gai-2

nhung-cau-noi-ve-tinh-yeu-cuc-hay-bang-tieng-anh-danh-rieng-cho-cac-ban-gai-3

nhung-cau-noi-ve-tinh-yeu-cuc-hay-bang-tieng-anh-danh-rieng-cho-cac-ban-gai-4

nhung-cau-noi-ve-tinh-yeu-cuc-hay-bang-tieng-anh-danh-rieng-cho-cac-ban-gai-5

Những câu nói về tình yêu cực hay bằng Tiếng Anh dành riêng cho các bạn gái

nhung-cau-noi-ve-tinh-yeu-cuc-hay-bang-tieng-anh-danh-rieng-cho-cac-ban-gai-6

nhung-cau-noi-ve-tinh-yeu-cuc-hay-bang-tieng-anh-danh-rieng-cho-cac-ban-gai-7

nhung-cau-noi-ve-tinh-yeu-cuc-hay-bang-tieng-anh-danh-rieng-cho-cac-ban-gai-8

nhung-cau-noi-ve-tinh-yeu-cuc-hay-bang-tieng-anh-danh-rieng-cho-cac-ban-gai-9

nhung-cau-noi-ve-tinh-yeu-cuc-hay-bang-tieng-anh-danh-rieng-cho-cac-ban-gai-10

Những câu nói về tình yêu cực hay bằng Tiếng Anh dành riêng cho các bạn gái

nhung-cau-noi-ve-tinh-yeu-cuc-hay-bang-tieng-anh-danh-rieng-cho-cac-ban-gai-11

nhung-cau-noi-ve-tinh-yeu-cuc-hay-bang-tieng-anh-danh-rieng-cho-cac-ban-gai-12

Hy vọng bài viết Những câu nói về tình yêu cực hay bằng Tiếng Anh dành riêng cho các bạn gái trên đây của phongnguyet.info đã giúp bạn có thêm cái nhìn khác về tình yêu đôi lứa. Chúc bạn có được niềm hạnh phúc trong tình yêu như mình hằng ao ước. Vì tất cả chúng ta, đặc biệt là các cô gái đều có quyền yêu và được yêu. Hãy cùng chúng tôi chia sẻ bài viết này đến với nhiều người hơn nữa nhé!