Câu thơ tài hoa được nhiều người tìm đọc nhất hôm nay 22/03/2026

Bên hồ ngồi dưới bóng thông
Người yêu ta lặng lẽ trông nhạn về
Cành mềm yếu,lá lê thê
Chập chờn sóng tóc vuốt ve má hồng

Lòng son sắt - Huy Thông

Top 20 bài thơ có tổng lượt xem nhiều nhất hôm nay 22/03/2026

Tây Hồ Vọng Nguyệt

Tây Hồ Vọng Nguyệt

Tây Hồ Vọng Nguyệt (Tản Đà)

Hiu hắt hồ Tây chiếc lá rơi
Đêm thu vằng vặc bóng theo người
Mảnh tình xẻ nửa ngây vì nước
Tri kỷ trông lên đứng tận giời
Những ngán cành đa khôn quấn quít
Mà hay mặt sóng cũng chơi vơi
Ai lên cung quế nhờ thăm hỏi
Soi khắp trần gian có thấy ai?

Bài này vừa làm xong, là vì nghe nói có người thiếu nữ tại Nam Định, tên là cô Nguyệt thông biết chữ nho và yêu mến văn quốc ngữ; có ra bài thơ này để kén mặt tài nhân. Sự không biết có không, nhưng thấy 4 chữ đề sinh đẹp hữu tình, nhân lúc cao hứng nghĩ chơi: áng văn chương quả có khách hồng quần, cách mây nước cũng có phần thanh nhân. Trong toàn bài không chữ nào trùng nhau và chừa chữ (giăng) không dám dùng đến, là một cách trang trọng để biệt đãi khách Hằng Nga.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Tây Hồ Vọng Nguyệt” của tác giả Nguyễn Khắc Hiếu. Thuộc tập Khối Tình Con > Quyển I (1916), danh mục Thơ Tản Đà trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Thái Sinh Cưới Ngũ Nương

Thái Sinh Cưới Ngũ Nương

Thái Sinh Cưới Ngũ Nương (Nguyễn Bính)

Bóng tà đã tắt hai người chia tay
Độ trời mỏi cánh chim bay.
Đò đưa chuyến cuối tiễn ngày sang đêm.
Nhà lan ngõ trúc êm đềm
160. Đôi song đựng nguyệt bốn thềm đông hoa
Giai nhân trong ngọc trắng ngà,
Vốn dòng họ Triệu, tên là Ngũ nương,
Từ lâu ngõ kín cao tường,
Hai thân, nửa mái tóc sương, chầu trời
165. Tủi mình là gái mồ côi
Ngã ba đường cái đầy lời bướm ong.
Vậy nên khoá chặt khuê phòng,
Đem thân liễu yếu vun trồng hoa tươi.
Lụa đào chưa lọt tay ai,
170. Mùa hoa bán cất cho người mua buôn.
Bụi hồng chăng ở chân son,
Xuân xanh tuổi mới trăng tròn gương nga.
Anh mai, chị cúc, em trà,
Đầy vườn hồng hạnh, một nhà chi lan.
175. Phụ thân truyền lại ngón đàn,
Cho con từ buổi từ quan trở về.
Lời trung vua chẳng thèm nghe.
Cái thanh cao ép một bề thì thôi.
Về nhà dạy trẻ đàn chơi
180. Vinh hoa với đám mây trôi khác gì?
Hạc vàng đôi chiếc bay đi
Nghìn thu trần thế có về nữa đâu.
Bỗng nhiên trời thảm đất sầu,
Khăn tang hai dải trên đầu Ngũ Nương.
185. Cửa nhà này chút lửa hương,
Bốn dây tơ héo, một vườn hoa tươi.
Ngũ Nương chẳng chút biếng lười,
Hoa đầy sớm sớm, đàn vơi chiều chiều.
Gái tơ yên phận nhà nghèo,
190. Nghĩ chi lá thắm, chỉ điều vẩn vơ.
Nào hay vì mấy đường tơ,
Xui nên chắp nối giấc mơ một người.
Có không, duyên nợ bởi trời,
Thái sinh ngay buổi được lời bạn khuyên
195. Vội về trình với thông huyên
Xin cho mình được kết duyên cùng người
Rằng con đã lớn khôn rồi,
Chăm nghiên bút để biếng lười thần hôn
Công cha nghĩa mẹ tày non,
200. Một con lỗi đạo làm con sao đành?
Xin cho được kết duyên lành
Để cho bên hiếu, bên tình vẹn đôi.
Hai thân nghe nói mỉm cười
Rồi ra ta sẽ mượn người dò la,
205. Ví bằng là gái nết na,
Nhà nghèo thì chọn dâu da nhà nghèo.
Để yên cha mẹ liệu chiều,
Con còn trẻ, cố mà theo học hành.
Chớ đam mê vào một chữ tình,
210. Mà hư mà phụ công trình mẹ cha.

Hết mùa lá rụng thu qua
Vườn mai bừng nở năm ba cánh gầy
Khắp trời vẫn một màu mây
Gió trôi heo hút mưa bay lạnh lùng,
215. Ai mà gối chiếc đêm đông,
Người ta lấy vợ lấy chồng ngổn ngang
Vấn danh nạp thái huy hoàng
Trong thôn đón rể, ngoài làng đưa dâu,
Liền liền như gió mưa mau,
220. Trai lành gái tốt đua nhau đá vàng
Mặt sông băng giá chưa tan,
Thái sinh đã cưới được nàng Ngũ Nương,
Động phòng tỏ sáp thêm hương,
Mắt xanh tài tử, má hường giai nhân.
225. Duyên tế ngộ, nghĩa châu trần
Giữa mùa đôngmùa xuân chen vào.
Chuyền tay hợp cẩn rượu đào
Trong thiên hạ dám men nào đọ say,
Lung linh cuối mắt, đầu mày,
230. Có tay trắng ngọc chờ tay trắng ngà.
Nồng nàn e ấp thiết tha,
Nửa như bạn mới, nửa là người xưa.

Sinh rằng: “Từ buổi vương tơ,
Lương duyên nào có ai ngờ đêm nay.
235. Kiếp xưa tu hẳn đã dày,
Mới xui chim phượng về cây ngô đồng.
Giờ đây nên vợ nên chồng,
Trăm năm thật đã thoả lòng khát khao.”

Ngũ Nương e ấp cúi đầu,
240. Mặt hoa da phấn ửng màu chu sa.
“Dám thưa thân phận đàn bà,
Mười hai bến nước có là lênh đênh
Được rày hương lửa ba sinh,
Se duyên quân tử gửi tình tri âm.
245. Trước là phụng dưỡng song thân,
Sau là sửa túi nâng khăn hầu chàng,
Mong sao trọn nghĩa đá vàng,
Lấy chồng thì gánh giang sơn nhà chồng.
Thiếp tôi vụng dại má hồng,
250. Dám xin quân tử lấy lòng mà thương.”

Sinh rằng: “Hoa đuốc phòng hương”
Em ơi! Nói chuyện đường trường ấy chi?
Chén này em hãy cạn đi,
Bóng dương xin hướng hoa quỳ đêm nay.”

255. Thưa rằng: “Giai lão từ đây,
Phải chi tình nghĩa một ngày hay sao.
Vì chàng thương đến má đào,
Xin cho giãi tỏ thấp cao đôi lời.
Khuyên chàng đừng lấy làm chơi.
260. Chăm bên tình ái, bỏ lười văn chương.
Vẻ gì một chút phấn hương,
Gắng đi cho hết con đường năm xe.
Nửa mai gió lạnh hoa hoè
Lấy đâu vốn liếng trảy về kinh đô?
265. Tài trai sự nghiệp là to,
Có coi đâu nặng chuyến đò thê nhi!
Đã lòng vàng chữ vu quy.
Phấn son thiếp dám tiếc gì phấn son?”

Sinh rằng: “Biển cạn non mòn,
270. Những lời em nói xin chôn vào lòng,
Trăm năm kết một giải đồng,
Đắm say duyên mới mặn nồng tình xuân.
Ngẫm xem lời nói tân nhân,
Kính yêu giờ lại bội phần kính yêu.
275. Mùi trinh bạch, nét yêu kiều,
Thái sinh chẳng dám ra chiều lả lơi.
Ngũ nương nàng nhẹ chén mời,
Phô răng thạch lựu, hé môi anh đào.
Tóc mây cánh phượng bồng cao,
280. Còn giai nhân đến thế nào nữa không?”
Sinh rằng: “Non nước hằng mong,
Cho nghe đôi tiếng tơ đồng được chăng?”
“Đã lời dạy đến xin vâng,
Chỉ e tài mọn phu quân chê cười.”
285. Bồ đào tửu, dạ quang bôi,
Tiếng Tỳ bà chẳng giục người lên yên
Một đàn năm ngón tay tiên,
Một đàn chim mộng triền miên bay về
Đàn như tỉnh, đàn như mê,
290. Đàn se vời vợi, đàn về đăm đăm,
Tri âm đàn gọi tri âm,
Đàn ngời ánh ngọc, đàn ngâm giọng vàng.
Phải đây là lúc hợp hoan?
Một bàn tay bốn dây đàn nở hoa.
295. Ngổn ngang nhưng vẫn khoan hoà.
Người nghe lẳng lặng để mà đắm say.
Khôn ngăn ý đẹp tràn đầy.
Thái sinh nắm lấy bàn tay đương đàn:
“Như em tài sắc song toàn:
300. Anh thề sẽ đúc nhà vàng đón em.”

Ngẩn ngơ bốn mắt trao nhìn,
Đôi môi hé nụ cười duyên não nùng!
Bên ngoài mưa gió mùa đông
Lò hương đã nguội sáp hồng thì vơi
305. Màn the đôi cánh buông rồi,
Chăn hương gối phấn một trời phấn hương
Mắt ngà men rượu yêu đương.
Thái sinh dần rõ Ngũ nương nõn nà.
Tóc nhung viền suốt thân ngà,
310. Nhuỵ hồng e ấp tinh hoa đầu mùa.
Rùng mình như nếm mơ chua,
Cái tái tê muốn vỡ bờ hợp hoan.
Nồng sôi ý phượng tình loan,
Hỡi ơi! Bó thắt đôi làn cánh tay
315. Thèm mà nín, khát mà say,
Xốn xang nhựa mạnh tuôn đầy búp tơ.
Mày cao đôi má chín nhừ,
Tân nhân ứa lệ, hoen mờ mắt xanh.
Thoắt mà đêm đã tàn canh,
320. Sáng bong bóng cá, qua mành mưa bay.
Nhành hoa tươi ngại ánh ngày,
Tiếng gà ướt rướt, giọng đầy nước mưa.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Thái Sinh Cưới Ngũ Nương” của tác giả Nguyễn Trọng Bính. Thuộc tập Tỳ Bà Truyện (1942), danh mục Thơ Nguyễn Bính trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Top 10 Bài thơ hay của nhà thơ Bế Kiến Quốc

Top 10 Bài thơ hay của nhà thơ Bế Kiến Quốc

Nhà thơ Bế Kiến Quốc sinh ngày 19/05/1949, quê quán Hà Nội, hiện ở tại Hà Nội. Tốt nghiệp đại học Tổng Hợp Hà Nội, ngành Ngữ văn. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1981).

Năm 1970 Bế Quốc Kiến tốt nghiệp đại học, làm công tác văn hóa thông tin nhiều năm ở Hà Tây, sau đó chuyển về công tác tại Tuần báo Văn Nghệ. ông đã tham gia khóa cao cấp rút gọn của Học viện Văn học Gorki (Liên Xô cũ), lớp viết văn ngắn hạn của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông từng là trưởng ban thơ của tuần báo Văn nghệ.

Tác phẩm đã xuất bản: Những dòng sông (thơ, in chung, 1979), Chú ngựa mã sao (truyện thơ thiếu nhi, 1979), Dòng suối thần kỳ (truyện thơ thiếu nhi, 1984), Cuối rễ đầu cành (thơ, 1994).

Nhà thơ đã được nhận giải nhì cuộc thi thơ của tuần báo Văn nghệ năm 1969 (bài thơ Những dòng sông). Giải thưởng cuộc vận động viết về thương binh liệt sĩ, 1973. Giải thưởng cuộc thi sáng tác cho thiếu nhi năm 1979 và 1985. Giải thưởng cuộc thi viết về tài trí Việt Nam, năm 1995 – 1996 của tạp chí Thế giới mới, giải thưởng cuộc thi ký của báo Sài gòn Giải phóng, năm 1985, và cuộc thi ký của Đài Tiếng nói Việt Nam, 1986.

Bài thơ: Hoa huệ

Hoa huệ

Thơ Bế Kiến Quốc

Hoa huệ trắng. Và bức tường cũng trắng.
Sao bóng hoa trên tường lại đen ?

Em đừng nhìn đi đâu nữa em
Anh không biết vì sao anh có lỗi
Nhưng mãi mãi vẫn còn câu hỏi:
Sao bóng hoa trên tường lại đen…

(1969-1987)

Bài thơ này nhiều người nhầm là của tác giả Henrich Hainơ (Đức), nhưng đúng là của Bế Kiến Quốc.

Bài thơ: Ai trồng cây

Ai trồng cây

Thơ Bế Kiến Quốc

Ai trồng cây
Người đó có tiếng hát
Trên vòm cây
Chim hót lời mê say

Ai trồng cây
Người đó có ngọn gió
Rung cành cây
Hoa lá đùa lay lay

Ai trồng cây
Người đó có bóng mát
Trong vòm cây
Quên nắng xa đường dài

Ai trồng cây
Người đó có hạnh phúc
Mong chờ cây
Mau lớn theo từng ngày

Ai trồng cây…
Em trồng cây…
Em trồng cây…

Bài thơ này đã được Thanh Ly phổ nhạc thành bài hát Trồng cây.

Nguồn: Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3, tập 1, NXB Giáo dục, 1997

Bài thơ: Bóc lịch

Bóc lịch

Thơ Bế Kiến Quốc

Em cầm tờ lịch cũ
– Ngày hôm qua đâu rồi?
Ra ngoài sân hỏi bố
Xoa đầu em bố cười:

– Ngày hôm qua ở lại
Trên cành hoa trong vườn
Nụ hồng lớn thêm mãi
Đợi đến ngày toả hương

– Ngày hôm qua ở lại
Trong hạt lúa mẹ trồng
Cánh đồng chờ gặt hái
Chín vàng màu ước mong

– Ngày hôm qua ở lại
Trong vở hồng của con
Con học hành chăm chỉ
Là ngày qua vẫn còn…

Nguồn: Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, tập 2, NXB Giáo dục, 2002

Bài thơ: Đợi thu về

Đợi thu về

Thơ Bế Kiến Quốc

Hôm nay anh đợi thu về
Gió heo may
Khắp bốn bề heo may
Lá xao xác giữa ngàn cây
Chiều êm ái một màu mây dịu lành

Đất trời hồi hộp cùng anh
Có em về nữa là thành mùa thu…

24-9-1976

Bài thơ: Chiếc vòng đá nhỏ

Chiếc vòng đá nhỏ

Thơ Bế Kiến Quốc

Chiếc vòng đá nhỏ cổ tay ai
Chẳng biết đầu tiên ai đẽo mài
Rồi ai mua tặng, ai âu yếm
Trao vòng đá nhỏ cổ tay ai…

Xui khiến chiều nay anh lặng im
Giấu điều muốn nói tận trong tim
Gặp gỡ muộn màng thương biếc biếc
Chiếc vòng đá nhỏ cổ tay em.

Long Hưng, ngày 4-7-1984

Bài thơ: Tự nguyện

Tự nguyện

Thơ Bế Kiến Quốc

Với xứ quê em – sống hết mình
Yêu em – yêu trọn cả lòng anh

Anh chậm mùa sen đến Tháp Mười
Dòng kinh đầy nước, lục bình trôi
Rặng tràm buông trắng chùm hoa mới
Chiếc xuồng ba lá dập dềnh bơi…

Nhịp sống bao đời nay vẫn vậy
Mà anh thì gấp, bởi từ lâu
Đã mong tới gặp dòng sông ấy
Sông của niềm vui, của nỗi đau…

Chen chúc xe đò, anh cũng chen
Xe lam ba bánh đường gập ghềnh
Có khi tắc ráng luồn kinh rạch
Anh muốn đi sao được khắp miền.

Hoà tiếng cười vang nghiêng mặt sóng
Xuồng cắt lúa đụng xuồng rước dâu…
Để rơi nước mắt trong im lặng
Nghe kể Long Hưng một thuở nào…

Thao thức canh khuya nhhững khóm bần
Mái dầm đâu khẽ dưới vầng trăng
Đèn ai trong lá xanh không ngủ
Có nỗi niềm chi chưa nói năng…

Cao Bắc phà sang sông lộng gió
Tiền Giang dào dạt nắng đôi bờ
Phù sa dư dật nuôi đồng lúa
Nuôi những anh hùng dám ước mơ.

Cảm nhận đầy tràn mọi giác quan
Lòng anh mê mải với miền Nam
Những loài cây mới, tên hoa mới
Giọng nói quê hương quá dịu dàng.

Những khúc dân ca tình láy luyến
Ướt mềm câu hát, ý sâu xa
Mù u xin hãy vì anh chín
Điệu lý qua cầu anh được qua.

Cách mạng bao nhiêu chuyện nhiệm mầu
Nhân dân – ấm nóng nắng trời cao
Má ơi, xin được làm con má
Giữ vẹn lòng ta có trước sau…

Mối tình thứ nhất cùng Nam Bộ
Yêu hết mình luôn, sống hết mình
Bông sen đang hẹn mùa sen nở
Ôi xứ quê này – xứ của anh!…

Sa Đéc, 18-7. Sài Gòn 19-7-1984

Bài thơ: Có một người đợi tôi

Có một người đợi tôi

Thơ Bế Kiến Quốc

Có một nơi
Có một người đợi tôi

Dù ngày qua, ngày tới
Cành rụng lá, đâm chồi
Hoa đổi mùa hoa mới
Người đợi còn đợi tôi

Dù bạn bè cùng lứa
Đã lựa đôi vào đôi
Dù bao chàng tới cửa
Người đợi còn đợi tôi…

Tôi đi, tôi kiếm tìm
Giữ tình yêu trong tim

Nếu bóng chiều dần xế
Tôi cũng chẳng buồn nhiều
Nếu con đường vắng vẻ
Tôi cũng chẳng buồn nhiều

Đôi ba người con gái
Đã tặng tôi lời yêu
Nếu họ đòi cả lại
Tôi cũng chẳng buồn nhiều…

Tôi đi. Và tôi biết
Tin yêu vào cuộc đời
Dù tôi đến chậm nhất
Người đợi còn đợi tôi…

Bài thơ: Cuối rễ đàu cành

Cuối rễ đầu cành

Thơ Bế Kiến Quốc

Vươn mãi vào bề sâu
Cái rễ non tìm đường cho cây
Qua sỏi đá có khi tướp máu

Hướng mãi lên chiều cao
Cái cành non vượt mưa đông nắng hạ
Nảy chiếc lá như người sinh nở

Ai đang ngồi hát trước mùa xuân
Cuộc đời như thể tự nhiên xanh
Chỉ có đất yêu cây thì đất biết
Những cơn đâu nơi cuối rễ đầu cành…

Bài thơ: Dâu da xoan

Dâu da xoan

Thơ Bế Kiến Quốc

Dâu da xoan đứng phố hàng Ngang
Đứng dạn dĩ giữa bụi đường náo nhiệt
Giữa Ray-băng Sen-kô A-di-đat…
Mấy ai nhìn ai biết dâu da xoan

Người quản lý biểu dương nền kinh tế thị trường
Người tiêu thụ hài lòng muốn mua gì cũng có
Tôi, người làm thơ đi ngang nơi phố chợ
Thương và lo cho em dâu da xoan…

Mùa xoan vần, trời đất bắt đầu xuân
Mùa cây cối rủ nhau vào lễ hội
Biết bao nỗi vu vơ rồi con người cần tới
Dẫu có tiền không ai bán mà mua

Nhưng sớm nay tôi chợt đứng sững sờ
Phố hàng Ngang dâu da xoan nở trắng
Và mưa rơi thật dịu dàng, êm lặng
Cho một người nào đó ngạc nhiên hoa…

(2-1992)

Bài thơ: Tiếng dòng sông

Tiếng dòng sông

Thơ Bế Kiến Quốc

Một buổi trưa, dưới bóng cây râm mát
Gần văn phòng đoàn khảo sát sông Đà
Tôi nhìn thấy mấy công nhân người Việt
Đang dạy tiếng Việt Nam cho một bạn chuyên gia
– “Sông Đà” – “Sôn Đa”… – “Sông Đà” – “Sôn Đa”…
“Sôn Đa”, “Sôn Đa”… nghe gần như Vôn-ga
Âm thanh ấy mát lành như tiếng nước
Sông quê anh sông nào bên đất Nga?

Đến quê đây, ăn cái nước sông Đà
Nếm chùm nhãn đất phù sa nuôi ngọt
Chịu sức nắng trưa mùa hè thiêu đốt
Đêm chập chờn nhớ một dòng sông xa…

Có bao nhiêu dòng sông anh đã qua
Người chuyên gia một đời làm khảo sát
Ở bao lán công trường, uống nước bao nguồn nước
Trong giọng Nga pha giọng nói bao miền…

“Sôn Đa” “Vôn-ga” – Hai cái tên thân quen
Rồi có lúc nói mơ anh gọi lẫn
Hạnh phúc lớn là làm ra ánh sáng
Dẫu quê nào: Sông Việt với Sông Nga.

Anh tập nói: “Sôn Đa”. Tôi thầm nhắc: “Sông Đà”
Lắng nghe trong giọng mình một tình yêu mới mẻ
Như thể lần đầu tiên gọi tên sông là thế
Tên ngọt ngào nghe sao lòng ngân nga…

Sông quê anh sông nào bên đất Nga?
Tên dẫu khác, mọi dòng sông đều đẹp.
Ăn cái nước sông Đà sẽ thấm dần giọng Việt
Một hôm nao sẽ gọi rõ: “Sông Đà!”
Tiếng dòng sông trong giọng một người Nga…

Hà Sơn Bình, 2-7-1976

Bài thơ được in trong tuyển tập thơ “Sông Đà thơ xưa và nay”

Những bài thơ của Bế Kiến Quốc sống mãi với thời gian. Đọc thơ ông độc giả như được sống lại với tuổi thơ của mình.

Vô Đề

Vô Đề

Vô Đề (Hàn Mặc Tử)

Trời đất vô cùng bến ở đâu
Một vùng hoa cỏ giống như nhau
Giếng vàng lá rụng khô khan nước
Hòn đá rêu phong lợt lạt màu
Hồn quỷ về kêu, cây thảm thiết
Bóng trăng đi mất, gió lao xao
Ai ngờ trong đám dân quê ấy
Có kẻ gian phi mới ló đầu

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Vô Đề” của tác giả Nguyễn Trọng Trí. Thuộc tập Lệ Thanh Thi Tập, danh mục Thơ Hàn Mặc Tử trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Bí Mật Acropole

Bí Mật Acropole

Bí Mật Acropole (Vũ Hoàng Chương)

Đỉnh hoang phế, đây hoàng hôn nhân loại
Đang vây quanh chờ giải đáp một lời
Muôn nếp sống, từ ba chiều băng hoại
Của văn minh, tìm dấu trở về nôi

Trèo ngược dốc hai mươi lăm thế kỷ
Ta bước lên sầu đá dựng lưng đồi
Hỡi tàn tích giữa Athènes huyền bí
Acropole, thi sĩ Việt chào ngươi!

Đá vẫn ngậm sầu trong cơn thử thách
Với thời gian, không hàng phục buông trôi
Nên kho báu chẳng hóa thân từ thạch
Cũng vàng thưa sắt ứng mãi quanh ngôi

Vàng với sắt: những gông cùm hãnh diện
Đeo trên mình Thế kỷ thứ Hai mươi
Đứa nô lệ nào đây lê gót đến
Acropole… mà ngơ ngác nhìn ngươi?

Mặc gió táp, mảnh thành xưa đứng sững
Cột chênh vênh không nhả nóc lâu đài
Mấy pho tượng gối què chân vẫn cứng
Không cúi đầu, tuy đá chỉ còn vai

Ta cố hình dung mặt hoa Thần Nữ
Đá căng tròn ngực tượng bỗng đầy vơi…
Nghe trang sách Vô Ngôn vừa gợn chữ:
Mau ném đi tất cả, hỡi Con Người!

Thi sĩ Việt trong tay không tấc sắt
Chưa giết một ai trên nẻo luân hồi
Vàng-hoen-máu chưa một lần để mắt
Acropole, ta đã hiểu lòng ngươi!

Và, cũng mặc gió thời gian hí lộng
Ta ung dung thả bước xuống chân đồi
Lấy vần điệu chuốt pho thần tượng sống
Hiện thành Thơ lời giải đáp thay ai

Athènes, 10-7-1965

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Bí Mật Acropole” của tác giả Vũ Hoàng Chương. Thuộc tập Cành Mai Trắng Mộng (1968) > Thi Phẩm, danh mục Thơ Vũ Hoàng Chương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Câu nói hay về tiền tài sâu sắc nhất đáng để bạn suy ngẫm

Nhiều khi đồng tiền không còn đơn thuần mang giá trị về vật chất mà nó còn chứa đựng nhiều ý nghĩa khác. Những câu nói hay về tiền sẽ mang đến cho bạn một cái nhìn khách quan và tổng thể về ý nghĩa của đồng tiền.

Tiền vẫn được người ta biết đến như là thước đo vật chất trong xã hội. Tuy chủ yếu được làm bằng giấy nhưng tiền lại có một giá trị vô cùng to lớn.Tổng hợp những câu nói hay về tiền tài sâu sắc nhất sau đây sẽ giúp bạn suy ngẫm lại về tầm quan trọng cũng như giá trị của đồng tiền trong cuộc sống hiện đại ngày nay.

1. Bạn có thể trẻ mà không có tiền nhưng bạn không thể già mà thiếu nó đâu –Tennessee Williams.

2. Nếu bạn muốn biết giá trị của tiền, hãy thử đi vay một ít xem – Benjamin Franklin.

3. Để kiếm một triệu, hãy bắt đầu với 900.000 – Morton Shulman.

4. Nếu bạn phải hỏi giá, bạn không có khả năng thanh toán đâu – J.P. Morgan.

5. Đừng có nằm ườn trên giường nữa, trừ phi bạn nằm đó mà vẫn làm ra tiền –George Burns.

6. Đừng kết hôn vì tiền. Bạn có thể vay với giá rẻ hơn nhiều mà – Scotts Proverb.

7. *“Cho” thì tốt hơn là “cho mượn”, nhất là khi chúng tốn kém gần như nhau –Philip Gibbs.

8. Hồi trẻ tôi nghĩ rằng tiền là điều quan trọng nhất trong cuộc sống. Bây giờ, khi đã già, tôi hiểu rằng đúng là như vậy – Oscar Wilde.

9. Tiền không mua cho bạn được hạnh phúc, nhưng nó làm cho sự nghèo khổ dễ chịu hơn – Spike Milligan.

10. Chưa bao giờ tôi gặp một tình huống mà tiền chỉ làm cho câu chuyện tồi tệ đi –Clinton Jones.

11. Người nào nói rằng tiền không mua được hạnh phúc rõ là không biết đi shopping ở đâu – Bo Derek.

12. Hãy cho tôi một cơ hội để chứng minh là tiền không mua được hạnh phúc – Pike Milligan.

13. Hạnh phúc để làm gì cơ chứ? Nó có mua được tiền đâu – Henry Youngman.

14. Tôi ước rằng Karl dành nhiều thời gian hơn để kiếm tiền (tư bản), hơn là chỉ có viết về nó – Jenny Marx, vợ Karl Marx.

15. Những người sống đúng với khả năng tài chính của mình là những người không có trí tưởng tượng – Oscar Wilde.

16. Nếu phân mà là thứ đáng giá thì chắc là người nghèo đã được sinh ra không có hậu môn – Henry Miller.

17. Tiền bạc chưa bao giờ và sẽ không bao giờ khiến con người hạnh phúc, trong bản chất nó không có gì có thể tạo ra hạnh phúc. Một người càng có nó nhiều bao nhiêu càng muốn nó nhiều bấy nhiêu.
18. Với người nghĩ rằng tiền có thể làm được mọi thứ, ta có thể nghi ngờ anh ta làm mọi thứ vì tiền.
19. Tiền là phương tiện của những người thông mình – Tiền là mục tiêu của những kẻ ngu ngốc.

20. Tiền không quan trọng – Nhưng những vấn đề quan trọng đều giải quyết bằng tiền.
21. Muốn có tiền thì phải dám vay tiền.
22. Ai tiết kiệm tiền, người đó sống không thiếu thốn.
23. Tiền bạc là phương tiện của kẻ thông minh, là mục đích của kẻ ngu dốt. Bạn đừng đặt sự tín nhiệm nơi tiền bạc mà đặt tiền bạc nơi tín nhiệm.
24. Giá trị của đồng tiền nằm ở cách tiêu. Giá trị của con người nằm ở cách yêu.
25. Tiền bạc và thời gian là những gánh nặng ghê gớm nhất của cuộc đời… và những kẻ bất hạnh nhất là những người sở hữu chúng nhiều hơn mình có thể sử dụng.
26. Tiền bạc chưa bao giờ và sẽ không bao giờ khiến con người hạnh phúc, trong bản chất nó không có gì có thể tạo ra hạnh phúc. Một người càng có nó nhiều bao nhiêu càng muốn nó nhiều bấy nhiêu.

27. Có tiền hay không có tiền, không phải thể hiện ở chỗ anh ăn sơn hào hải vị còn tôi ăn rau ăn cháo; không phải ở chỗ tôi ngủ trên nửa cái giường còn anh ngủ trên một cái giường; không phải ở chỗ anh ở biệt thự tôi ở nhà tranh; mà nó còn chỉ thể hiện rõ khi phải đối mặt với bệnh tật. Nếu có tiền, anh có thể đến bệnh viện tốt nhất, tìm bác sĩ giỏi nhất và như thế tính mạng sẽ được an toàn. Còn nếu anh không có tiền, bất lực vẫn chỉ là bất lực.
28. Hiểu biết giá trị của tiền bạc và luôn biết hy sinh tiền bạc vì bổn phận hoặc vì nhân nghĩa, đó là một đức hạnh thực sự.
29. Mọi sự vật khác chỉ có thể thỏa mãn một ước muốn, chỉ có tiền là tuyệt đối, vì đấy là sự thỏa mãn một cách trừu tượng mọi ước muốn.
30. Khi một nghệ sĩ hay một tác giả khoe rằng mình đã kiếm được tiền, vô tình họ báo cho ta biết họ đang đổi nghề.
31. Người giàu nhất là người tiết kiệm. Người nghèo nhất là người hà tiện.
32. Hiểu biết giá trị của tiền bạc và luôn biết hy sinh tiền bạc vì bổn phận hoặc vì nhân nghĩa, đó là một đức hạnh thực sự.
33. Không biết chịu đựng cái nghèo là một điều hổ thẹn, không chịu làm việc để xua đuổi cái nghèo lại là điều đáng hổ thẹn hơn.

Tiền và tình yêu là hai đề tài mới nghe qua thì tưởng như không có gì liên quan đến nhau. Tuy nhiên, tiền và tình lại là hai chủ đề xoay quanh cuộc sống của con người và luôn được con người nhắc đến. Những câu nói hay về tiền và tình sau đây sẽ giúp bạn cảm nhận rõ hơn mỗi quan hệ mật thiết, bổ trợ nhau giữa tiền và tình.

1. Tiền không thể mua được hạnh phúc, nhưng nó lại giúp cho sự đau khổ trở nên dễ chịu hơn.
– Helen Gurley Brown –

2. Tiền không phải là thứ quan trọng nhất trên thế giới mà đó là tình yêu. Nhưng thật may mắn, tôi là người yêu tiền.
– Jackie Mason –

3. Những ai nói tiền không thể mua được hạnh phúc đơn giản bởi họ không biết mua nó ở đâu.
– Bo Derek –

4. Tiền không mua được hạnh phúc chẳng phải vì tiền không có đủ sức mạnh mà là vì không ai bán hạnh phúc.
– Khuyết Danh –

5. Có tiền, ta có thể mua được một ngôi nhà nhưng không mua được một tổ ấm.
– Khuyết Danh –

6. Tiền mang lại hạnh phúc với những người biết sử dụng chúng, biết dùng nó để đem đến niềm vui cho những con người bất hạnh.
– Khuyết Danh –

7. Tình yêu không bắt nguồn từ tiền bạc nhưng tiền bạc nuôi dưỡng tình yêu.
– Khuyết Danh –

8. Tôi không cần tiền, tôi chỉ cần tình yêu… Nhưng không có tiền, tình yêu của tôi sẽ chết.
– Khuyết Danh –

9. Người nghèo cũng thèm tiền. Người giàu cũng thèm tiền. Chỉ người anh minh mới thèm hạnh phúc.
– Khuyết Danh –

10. Người ta nói tình yêu quan trọng hơn tiền bạc, nhưng bạn đã bao giờ thử thanh toán hóa đơn với một cái ôm chưa?
– Khuyết Danh –

11. Có tiền thì thật là tuyệt vì tiền có thể mua được nhiều thứ bạn thích. Tuy nhiên thỉnh thoảng cũng phải kiểm tra lại xem bạn đã bị mất đi thứ gì mà tiền không thể mua được hay chưa.
– Geogre Lorimer –

12. Tiền bạc cũng giống như tình yêu, nó sẽ giết chết từ từ và đau đớn những người cứ giữ khư khư nó bên mình và ngược lại, sẽ làm cho những ai biết sử dụng nó một cách khôn ngoan được hạnh phúc.
– Kahlil Gibran –

13. Điều chúng ta thực sự muốn làm là điều thực sự có ý nghĩa với chúng ta. Khi chúng ta làm hững điều có ý nghĩa, tiền sẽ tự động đến với ta và những cơ hội cũng sẽ mở ra, chúng ta sẽ cảm thấy có ích và công việc chúng ta làm trở thành một niềm vui.
– Julia Cameron –

14. Bạn chỉ có thể toàn tâm toàn ý khi được làm những gì bạn yêu thích. Đừng lấy tiền làm mục tiêu của mình. Thay vào đó hãy theo đuổi những điều bạn yêu thích và cố gắng làm thật tốt. Đến khi đó, bạn sẽ nhận được ánh mắt tôn trọng và ngưỡng mộ từ những người xung quanh.
– Maya Angelou –

15. Tiền bạc chưa bao giờ và sẽ không bao giờ khiến con người hạnh phúc, trong bản chất nó không có gì có thể tạo ra hạnh phúc. Một người càng có nó nhiều bao nhiêu càng muốn nó nhiều bấy nhiêu.
– Benjamin Franklin –

16. Chính là một dạng màu mè học đòi về tinh thần khiến người ta nghĩ rằng mình có thể thiếu tiền mà hạnh phúc.
– Albert Camus –

17. Tuy tiền bạc không thể mua được hạnh phúc, chắc chắn là nó giúp bạn chọn hình thức thống khổ cho mình.
– Khuyết Danh –

18. Người ta bảo tiền bạc không mang lại hạnh phúc, nhưng dù vậy ai cũng muốn tự mình chứng minh điều đó.
– Khuyết Danh –

19, Hy vọng là thức ăn củ người nghèo
Thalès

20, Khi tiền bạc nói ra thì sự thật yên lặng
Ngạn ngữ Nga

21, Tuổi thơ ngây yêu nhau vì tình, nhưng tuổi biết nghĩ phần lớn yêu nhau vì tiền.
Khuyết danh

22, Tiền bạc hoặc là phục vụ, hoặc là cai trị chủ của nó.
Horace

23, Tiền bạc là nguồn gốc của mọi tội lỗi.
Lord Beavierbrook

24, Nếu bạn muốn giàu có, chẳng những phải học cách làm ra tiền ma còn phải biết cách dùng tiền.
Franklin

25. Tiền bạc là lưỡi rìu chia đôi những bằng hữu tưởng như bất khả phân.
Ngạn ngữ Ấn Độ

26, Ở đâu vàng bạc chiếm tâm hồn thì tin tưởng, hi vọng và yêu thương bị tống ra khỏi cửa.
Ngạn ngữ Đan Mạch

27, Sự nghèo khổ sẽ nhẹ nhàng hơn nếu hai người yêu nhau tha thiết.
Eugene Le Roy

28, Tiền bạc cho ta khúc vui nhưng không cho ta hạnh phúc.
Henry Ibsen

29, Tiền là quyền lực, bạn phải có khát vọng khi nắm giữ nó.
Rusell H.Conwell

30, Sự nghiệp chậm đến, nhưng cái nghèo thì luôn luôn ở trong tầm tay mọi người.
Suner

Đồng tiền có một sức mạnh, sức cuốn hút đến lạ kì đối với mỗi người. Cũng vì sức mạnh của nó mà con người ta thường mang tham vọng kiếm được nhiều tiền, nhưng tiền có phải là tất cả? Mời các bạn cùng xem qua những câu status tiền bạc và danh ngôn hay về tiền bạc sau đây để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của tiền bạc nhé!

1, Khi có nhiều tiền người ta khao khát tình yêu chân thật, khi chân thành yêu mãi mà vẫn đói, người ta khao khát tiền.
Tư tưởng Phương Tây

2, Tiền bạc cũng như đàn bà: muốn giữ nó thì phải săn sóc nó, bằng không nó đi tạo hạnh phúc cho người khác.
E. Bourdet

3, Kẻ nào tin rằng tiền bạc làm được mọi sự thì kẻ ấy dám làm mọi sự để có tiền bạc.
Dante

4, Khi đòi lại tiền đã cho vay, bạn thường khám phá ra rằng mình đã biến một người bạn tốt trở thành kẻ thù.
Plaute

5, Vay mượn cũng chẳng tốt hơn ăn mày là bao.
Lessing

6, Chủ nợ có trí nhớ tốt hơn con nợ.
Benjamin Franklin

7, Trời cho ta giàu sang sung sướng là chiều chuộng ta để cho ta dễ làm lành; trời bắt ta nghèo khổ lo buồn là mài giũa ta để cho ta kiên gan, bền chí.
Trương Hoành Cừ

8, Trên đời có ba thứ nguy hiểm nhất: Rượu ngon làm ta mất trí, tiền bạc nhiều làm ta bất chính, vợ đẹp làm ta đau khổ nhiều. Vì: rượu ngon khiến ta thích uống; tiền nhiều thường làm mờ át lương tri; vợ đẹp thường hay phản bội. Vì thế tốt nhất là mất cả ba.
J.P.Sartre

9, Không lo ít của bằng lo chia của không đều.
Khổng Tử

10, Có tiền mua tiên cũng được, trừ hạnh phúc.
S. Guitơri

11, Khi đồng tiền lên tiếng là khi sự thật im lặng.
Tục ngữ Nga

12, Đàn ông không có tiền như sói không răng.
Tục ngữ Pháp

13, Muốn biết giá trị của đồng tiền thì bạn hãy đi hỏi những người nghèo.
Tục ngữ Bungari

14, Những đồng tiền giống như những nô lệ – nếu không theo dõi, chúng sẽ đi khỏi.
Tục ngữ Congo

15, Cái túi càng nhẹ đi bao nhiêu thì nỗi buồn càng nặng bấy nhiêu.
Tục ngữ Nam Tư

16, Ai không trả được bằng tiền túi, người đó phải trả bằng chính bản thân mình.
Tục ngữ Nga

17, Tiền bạc của người giàu là ở trong túi, của người nghèo là ở trong tim.
Tục ngữ Nga

18, Của cải đi tìm của cải.
Tục ngữ Pháp

19, Của hồi môn của nhà giàu giống như chiếc giường đầy gai góc; không nằm xuống thì mệt mà nằm xuống thì đau.
Tục ngữ Anh

20, Tiếng khóc của người thừa kế là nụ cười bị che giấu đi.
Tục ngữ La Tinh

» Danh ngôn hay nhất về tiền bạc & tham vọng trong tình yêu, cuộc sống
21, Dù có đeo vàng đi chăng nữa, con lừa vẫn là con lừa.
Tục ngữ Anh

22, Tiền bạc là đầy tớ tốt nhưng là ông chủ xấu.
Horace

23, Nhiều người tim teo lại khi túi bạc phì lên.
E. Banning

24, Sự phát triển của chính trị, pháp quyền, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật… đều lấy kinh tế làm cơ sở. Nhưng chúng lại ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng tới cơ sở kinh tế.
Engels

25, Hiểu biết giá trị của tiền bạc và luôn biết hy sinh tiền bạc vì bổn phận hoặc vì ý nghĩa, ấy là một đức hạnh thật sự.
Senancourt

26, Muối thì tốt để ăn ở mọi nơi trên thế giới; tiền bạc thì tốt để sử dụng mọi nơi trên thế giới.
Tục ngữ Trung Quốc

27, Nếu tiền đi trước, tất cả các con đường đều rộng mở.
W. Shakespeare

28, Tiền bạc hoặc là phục vụ, hoặc là cai trị chủ của nó.
Quintus Horatius Flaccus

29, Tiền là bạc giá của hạnh phúc.
E. Goncourt

30, Tiền bạc là phương tiện của người thông minh, là mục đích của những kẻ ngu ngốc.
Đơcuốcxen

31, Tiền bạc chưa bao giờ và sẽ không bao giờ khiến con người hạnh phúc, trong bản chất nó không có gì có thể tạo ra hạnh phúc. Một người càng có nó nhiều bao nhiêu càng muốn nó nhiều bấy nhiêu.
Benjamin Franklin

32, Tình yêu làm được một cái gì đấy. Tiền bạc làm được tất cả.
Ngạn ngữ Đức

33, Một cuộc sống sung sướng khi bắt đầu bằng tình yêu và được chấm dứt bằng tham vọng.
B. Pascal

34, Danh tiếng là hương thơm của những việc làm anh hùng.
Socrates

35, Trên đời có 3 thứ làm ta đau khổ: rượu ngon làm ta mất trí, tiền nhiều làm ta bất chính, vợ đẹp làm ta đau khổ.
J.P.Sartre

36, Người con gái có thể ca hát khi mất đi tình yêu, nhưng người giữ của không thể hát ca khi mất đi tiền bạc.
Ruskin (Anh)

37, Với người nghĩ rằng tiền có thể làm được mọi thứ, ta có thể nghi ngờ anh ta làm mọi thứ vì tiền.
Benjamin Franklin

39, Buồn phiền của người nghèo ở chỗ họ không thể có số tiền đó, phiền muộn của người giàu ở chỗ họ không thể liên tục có số tiền đó.
Hoover (Mỹ)

40, Học vấn do người siêng năng đạt được, tài sản do người tinh tế sở hữu, quyền lợi do người dũng cảm nắm giữ, thiên đường do người lương thiện xây dựng.
Franklin (Mỹ)

» Những câu nói hay về tham vọng & tiền bạc trong cuộc đời, nhân sinh
41, Công việc là cái thú của cuộc sinh tồn. Đời sống không mục đích, đời sống không gắng gỏi thì thật là tẻ nhạt. Sự lười biếng đem đến sự rã rượi, sự rã rượi sinh ra sự chán chường.
Amiel

42, Đừng bao giờ nên lo toan vào một công việc mà mình không chắc chắn, không đóng vai chủ động. Thà làm một việc nhỏ có lợi hơn là theo đuổi một công việc lớn lao không đâu.
Lord Beaverbrook

43, Người đàn ông khởi sự bằng tình yêu, kết thúc bằng tham vọng, và thường chỉ cảm thấy thật bình thản khi họ chết.
Jean De La Bruyere

44, Danh dự là viên kim cương mà đức hạnh đeo nơi tay.
Voltaire

45, Nhân nghĩa làm cao con người. Tiền tài danh vọng làm nhục con người.
Euclide

Đọc xong những câu nói hay về tiền, chắc hẳn bạn đã hiểu hơn được phần nào rằng tiền là quan trọng nhưng tiền không phải là tất cả. Không phải ở mọi trường hợp tiền đều mang đến cho con người ta hạnh phúc. Bởi ngoài tiền ra thì tình yêu, tình bạn, tình thân còn quan trọng hơn gấp nhiều lần mà tiền thì lại không mua được những điều này.

Hãy biết trần quý cuộc sống này, kiếm tiền bằng chính sức lao động của mình mà đừng để đồng tiền làm thay đổi bản chất tốt đẹp của con người bạn nhé.Hãy luôn đồng hành cùng phongnguyet.info để có cơ hội chia sẻ thêm nhiều câu nói hay như: , về nụ cười, về tình yêu, cuộc sống … bạn nhé !

 

Top 10 Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” của Hạ Tri Chương

Top 10 Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” của Hạ Tri Chương

Hạ Tri Chương (659-744) đỗ tiến sĩ năm 695, sinh sống, học tập và làm quan trên 50 năm ở kinh đô Trường An, rất được Đường Huyền Tông vị nể. Sau đó, ông xin từ quan về làm đạo sĩ. Ông là bạn vong niên của thi hào Lí Bạch, thích uống rượu, tính tình hào phóng. Đến nay, ông còn để lại 20 bài thơ. Bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” được viết nhân lần tác giả tình cờ về thăm quê vào năm 744, khi ông đã 86 tuổi. Bài thơ thể hiện một cách chân thực mà sâu sắc, hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình yêu quê hương thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân trở về quê cũ. Mời các bạn tham khảo một số bài văn phân tích tác phẩm đã được phongnguyet.info tổng hợp trong bài viết sau đây.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 1

Bài thơ Hồi hương ngẫu thư là một bài thơ hay gợi cho ta nhiều xúc động. Tác giả sử dụng tiểu đối thành công, tạo nên những vần thơ hàm súc, gợi cho người đọc bao liên tưởng về nỗi lòng của khách li hương. Bài thơ là tiếng lòng của Hạ Tri Chương, yêu quê hương tha thiết, thuỷ chung, thấm đẫm trên từng vần thơ.

Hạ Tri Chương một thi sĩ lớn đời Đường. Ông sinh (659 – 744) quê ở Cối Khê – Chiết Giang – Trung Quốc. Ông đậu tiến sĩ năm 36 tuổi, là đại quan của triều Đường được nhà Vua và quần thần rất trọng vọng. Thơ ông chan chứa lòng yêu quê hương đất nước. Một trong những bài thơ đặc sắc về chủ đề này được người đời truyền tụng là Hồi hương ngẫu thư:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi

Hương âm vô cải, mấn mao tồi

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?

Cũng như Lý Bạch, Hạ Tri Chương xa quê từ lúc còn thơ bé. Quê hương với bao kỉ niệm thân thương, gần gũi với tuổi thơ ấu của mỗi người. Có lẽ chẳng mấy ai muốn xa quê, nơi đã gắn bó thành máu, thành hồn. Mở đầu bài thơ bằng thủ pháp tiểu đối đã nêu lên một cảnh ngộ: tác giả phải từ biệt gia đình từ lúc ấu thơ, từ nhỏ không được sống ở quê. Nơi đất khách quê người gợi bao buồn khổ. Rồi đến khi tóc đã pha sương mới có dịp được trở về:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi

(Khi đi trẻ, lúc về già)

Xa quê từ ngày còn thơ bé, khi trở lại đã già rồi. Thời gian cách biệt không phải là 3 năm, 15 năm mà hơn nửa thế kỉ, gần một đời người sao lại không thương nhớ? Cảnh ngộ ấy là bi kịch của vị quan đời Đường trên con đường công danh. Cuộc đời đầy sóng gió, con người ta với một lần sinh ra và một lần vĩnh viễn ra đi vào cõi vĩnh hằng. Do vậy cuộc sống của họ luôn cố gắng phấn đấu cho được một chút công danh. Với Hạ Tri Chương công danh đã thành đạt nhưng phải li gia, xa quê nhà yêu dấu của mình. Có thế nói rằng đây chính là khối sầu, là một nỗi đau của bất cứ ai lâm vào cảnh ngộ này.

Ra đi từ lúc ấu thơ và khi trở lại

Hương âm vô cải, mấn mao tồi

(Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao)

Ở đây tác giả dùng phép tiểu đối để khẳng định tình cảm của tác giả với quê nhà. Quê hương trở thành máu thịt, tâm hồn đối với mỗi con người. Nó trở thành một phần cuộc đời của mỗi con người. Do vậy suốt một đời xa quê, mái tóc đã điểm sương, nhuốm màu của thời gian, gió sương cát bụi phong trần, nhưng hương âm (giọng quê) vẫn không thay đổi. Giọng quê chính là hơi thở, tiếng nói của quê hương. Trong giọng nói ấy mang hơi thở của đất mẹ, của quê cha đất tổ mà dẫu ở phương trời nào cũng không thay đổi. Chi tiết này cho thấy tình cảm của tác giả luôn gắn bó với quê hương, nơi dòng sữa ngọt ngào, tiếng ru, tình thương của mẹ hiền…Chỉ có những kẻ mất gốc thì mới thay đổi giọng quê, mới coi thường tiếng mẹ đẻ.

Trong cái biến đổi sương pha mái đầu và cái không đổi “giọng quê vẫn thế” thể hiện tấm lòng chung thuỷ, sắt son với nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Tình cảm ấy thật đẹp, thật đáng tự hào với Hạ Tri Chương. Hơn nửa thế kỉ làm quan phục vụ triều đình tại Kinh đô Tràng An, đứng trên đỉnh cao danh vọng, sống trong nhung lụa vàng son thế mà tình cố hương trong ông vẫn không thay đổi. Đó là điều đáng kính phục. Trở về nơi mà gần cả cuộc đời đã xa nó, đương nhiên sẽ gặp những nghịch lý.

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?

Khi đi xa nay trở lại nhà đã trở thành khách lạ, khi đi cũng như lũ trẻ bây giờ, lúc này trở lại đã là bác, là ông. Thời gian xa quê đằng đẵng theo năm tháng. Bạn bè tuổi thơ ngày xưa ai còn ai mất? Có lẽ họ cũng đã “sương pha mái đầu” cả rồi. Ngoảnh lại thời gian ôi đã ngót gần hết một đời người. Thời gian trôi đến không ngờ.

Trẻ con nhìn lạ không chào

Hỏi rằng: khách ở chốn nào lại chơi?

Một câu hỏi hồn nhiên ngây thơ của nhi đồng để lại trong lòng tác giả nỗi buồn man mác bâng khuâng. Tuổi già sức yếu mới trở lại cố hương. Tình yêu quê hương của Hạ Tri Trương đẹp đẽ biết bao. Ta còn nhớ Tố Hữu đã từng viết:

Ngày đi, tóc hãy còn xanh

Mai về, dù bạc tóc anh, cũng về!

(Nước non ngàn dặm)

Bài thơ Hồi hương ngẫu thư là một bài thơ hay gợi cho ta nhiều xúc động. Tác giả sử dụng tiểu đối thành công, tạo nên những vần thơ hàm súc, gợi cho người đọc bao liên tưởng về nỗi lòng của khách li hương. Bài thơ là tiếng lòng của Hạ Tri Chương, yêu quê hương tha thiết, thuỷ chung, thấm đẫm trên từng vần thơ.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 2

Cùng nói về chủ đề nhớ quê hương, Lí Bạch trong bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh với giọng văn nhẹ nhàng mà thấm thía cho người đọc thấy tình cảm của người con thấy trăng mà nhớ về quê hương. Còn trong bài Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương lại đem đến cho người đọc những cảm xúc, tình cảm mới mẻ, đặc sắc riêng.

Tác phẩm được ông viết sau hơn năm mươi năm xa cách quê hương, cho đến những ngày cuối đời, ông từ quan trở về quê nhà. Hồi hương ngẫu thư bao gồm hai bài thơ, bài được trích trong sách là bài thơ thứ nhất. Tác phẩm không chỉ thể hiện tình yêu quê hương tha thiết mà còn thể hiện nỗi xót xa, ngậm ngùi khi trở về quê nhà.

Hai câu thơ đầu nêu lên hoàn cảnh về quê: “Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi/ Hương âm vô cải mấm mao tồi”. Câu thơ là kể mà thực chất là để bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng: khi đi tuổi trẻ, cống hiến hết sức mình cho đất nước, khi trở về đã là ông lão râu tóc bạc trắng. Nghệ thuật đối lập: thiếu tiểu – lão đại, li gia – hồi càng khiến nỗi xót xa trở nên đậm nét hơn. Nửa đời người ông đã xa quê hương, nay trở về thời gian được sống, được gắn bó với nơi chôn rau cắt rốn còn lại vô cùng ngắn ngủi. Bởi vậy câu thơ vang lên như một lời thở than đầy ngậm ngùi.

Câu thơ thứ hai thể hiện rõ nhất tình yêu quê hương của ông. Câu thơ này ông tiếp tục sử dụng nghệ thuật đối: hương âm – mấm mao, vô cải – tồi. Bao trùm lên toàn bộ câu thơ là sự tương phản, đối lập giữa cái đổi thay và cái không đổi thay. Thời gian có thể làm thay đổi ngoại hình, diện mạo, sức khỏe, tuổi tác của một con người nhưng không thể làm mất đi hồn cốt quê hương trong con người ấy. Hạ Tri Chương cũng như vậy, dù nửa đời người phải xa cách quê hương, mái tóc đã pha sương nhưng có một thứ duy nhất không thay đổi, chính là giọng quê. Tác giả đã lấy cái thay đổi để làm nổi bật lên cái không thay đổi, từ đó khẳng định tình cảm gắn bó máu thịt, bền chặt cuả mình với quê hương. Hai câu thơ cuối tạo ra tình huống bi hài:

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai

Xa quê đã lâu ngày, trẻ con nhìn thấy không chào cũng là điều dễ hiểu. Nhưng dù thế, rơi vào tình huống đó lòng ông cũng không khỏi ngậm ngùi, chua xót. Câu thơ phảng phất nỗi buồn sau nụ cười đùa vui, hóm hỉnh.

Ta có thể thấy sự chuyển đổi giọng điệu giữa hai câu đầu và hai câu sau khá rõ nét. Nếu như hai câu đầu chủ yếu mang giọng khách quan, cái ngậm ngùi chỉ được thể hiện ngầm ẩn. Dấu ấn thời gian in đậm nét trong các câu thơ, mọi thứ đều thay đổi duy chỉ có giọng quê là vẫn giữa nguyên. Trong hai câu sau hoàn cảnh trở nên ngang trái, trớ trêu: nhà thơ trở thành khách trên chính quê hương của mình. Sự tươi tỉnh, hồn nhiên, cùng câu hỏi của bọn trẻ đã làm rõ hơn sự thay đổi của con người, của quê hương. Như vậy, ẩn sau giọng điệu bi hài, hóm hỉnh là cảm giác buồn bã, ngậm ngùi của một người con luôn tha thiết yêu quê hương.

Bài thơ có kết cấu độc đáo, giữa hai phần tự nhiên, hợp lý, gây được bất ngờ cho người đọc. Tác giả vận dụng nghệ thuật đối tài tình cho thấy sự đổi thay của nhiều yếu tố song chỉ có tình yêu quê hương của tác giả là không đổi. Ngôn ngữ dồn nén, giàu sức biểu cảm.

Với lớp ngôn từ vừa đùa vui, hóm hỉnh vừa ngậm ngùi, buồn bã đã cho thấy tình yêu quê hương tha thiết, sâu nặng của tác giả. Qua tác phẩm này ta cũng thấy được tình yêu quê hương là một tình cảm thiêng liên và đáng trân trọng.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 3

Tha hương, xa xứ là nỗi bi kịch lớn trong đời của mỗi người, nhất là đối với các nhà thơ có tâm hồn nhạy cảm, họ càng thấm thía và đau xót hơn về nỗi đau ấy. Hạ Tri Trương là người từng trải qua nỗi sầu xa sứ, ông phải rời quê từ thuở trẻ để lên kinh đô lập nghiệp. Ở nơi đất khách quê người nỗi nhớ cố hương luôn thường trực canh cách trong lòng ông, chính vì thế được trở về quê hương lòng người trào dâng bao cảm xúc khôn tả. Bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê”, Hạ Tri Trương đã thể hiện sâu sắc khoảnh khắc vừa chân thực vừa xúc động nghẹn ngào của một người con xa quê lâu ngày trở về.

Bao năm xa quê sống ở nơi đất khách với cuộc sống mới có vinh hoa phú quý, có công danh sự nghiệp những quê hương vẫn là bến đỗ bình yên mà nhà thơ luôn hướng về: “Thiếu tiểu lí gia lão đại hồi”. Câu thơ thoáng qua ngỡ chỉ là lời kể đơn thuần chân thực những phải cảm nhận kĩ mới thấy được nó chất chứa bao nghịch cảnh buồn thương, đau xót. Những cặp từ đối lập thiếu – lão, tiểu – đại mở ra vòng xoay của thời gian, đó cũng là thước đo độ dài quãng thời gian xa quê của tác giả.

Khoảng cách từ thuở trẻ đến khi đã già thực sự rất dài, nó đằng đẵng, mênh mông triền miên gần một kiếp người. Câu thơ đã cho thấy sự đau xót, tiếc nuối về khoảng thời gian đã qua với những điều còn chưa trọn vẹn. Tuổi trẻ rời quê ra đi, mải miết chạy theo con đường công danh, khi công thành danh toại cũng là lúc tuổi trẻ đã tàn phai, trong phút giây lắng lại của cuộc đời, quê hương vẫn là nơi duy nhất nhà thơ tìm về, điều này cho thấy trái tim ông chưa bao giờ thôi hướng về cội nguồn, gốc rễ của mình.

Chính những tình cảm sâu nặng đối với quê hương đã khiến ông luôn trân quý và giữ gìn những gì thuộc về bản sắc quê nhà, trong đó tiêu biểu nhất là giọng quê. “Hương âm vô cải mấn mao tồi”. Thời gian lạnh lùng trôi làm tàn phai tuổi trẻ của con người, sóng gió cuộc đời xô bồ làm bạc đi mái tóc của con người nhưng tất cả những điều đó không bao giờ làm phái mờ dấu ấn của quê hương đó là giọng quê. Sắc điệu giọng nói của con người chính là sự biểu hiện cụ thể của chất quê, hồn quê. Câu thơ với thủ pháp đối đã cho thấy cái đổi thay và điều bất biến của con người tác qua đó nhấn mạnh sự bền bỉ, nguyên vẹn của tình cảm quê hương trong tâm hồn tác giả.

Hạ Tri Trương ở nơi kinh đô, được nhà vua trọng dụng, cuộc sống nơi phồn hoa hoàn toàn cho phép ông có thế quay lưng với quê hương, thay đổi tất cả để trở thành con người đô thị quyền quý, sang trọng. Thế nhưng ông vẫn giữ được giọng quê, giữ được những cốt cách, gốc gác của quê nhà, điều này thực sự rất đáng trân trọng. Bao năm xa quê nhưng tình quê không đổi, câu thơ đã cho thấy tấm lòng thủy chung, son sắt một lòng hướng về quê hương của nhà thơ.

Yêu quê hương tha thiết, gắn bó thủy chung với cội nguồn của mình, cho nên Hạ Tri Trương luôn mong muốn một ngày được trở về, gặp lại người thân bạn bè, gặp lại những kí ức của một thời đã qua trong niềm hân hoan, chào đón. Vậy mà chính khoảnh khắc trở về quê cũ, ông đã phải trải qua bi kịch trở thành người khách lạ trên chính quê hương của mình.

“Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai”

Vẫn là cảnh cũ, là những hồi ức một thời nhưng người xưa nay đã không còn. Hình ảnh đầu tiên mà nhà thơ bắt gặp đó chính là lũ trẻ con, ngày ông ra đi khỏi chốn quê cũ có khi bố mẹ chúng còn chưa ra đời, nay ông trở về lũ trẻ hồn nhiên xem ông là người xa lạ. Dù biết đó là lẽ thường nhưng nhà thơ vẫn không khỏi chạnh lòng. Không một ai nhận ra ông, không một người đón tiếp ông, ông trở nên bơ vơ lạc lõng ngay trên mảnh đất quê hương mình. Trẻ con vô tư, hiếu khách chào hỏi “khách ở nơi nào đến chơi” càng kiến ông trở nên nhói lòng. Tiếng “khách” được thốt lên một cách thực sự hồn nhiên nhưng khiến Hạ Tri Trương vừa bất ngờ vừa buồn tủi, xót xa. Ông phải đón nhận nghịch lí trở thành khách lạ trên chính quê hương mình. Nỗi bi kịch của Hạ Tri Trương thật đáng cảm động và thương xót

Với những hình ảnh đối lập, từ ngữ trong sáng, giản dị, hàm súc bài thơ đã thể hiện một cách chân thực mà sâu sắc tình yêu quê hương tha thiết, thủy chung của người con xa sứ. Bài thơ khép lại nhưng nó lại mở ra những ý nghĩa lớn lao trong lòng người. Quê hương là mảnh đất thiêng liêng của mỗi con người, vì thế ta hãy biết trân trọng và hướng về nó.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 4

Hạ Tri Chương (659 – 744), tự Quý Chân, quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc huyện Tiên Sơn, tình Chiết Giang, Trung Quốc). Ông đậu tiến sĩ năm 695, làm quan trên 50 năm ở thủ đô Trường An. Tài và đức của ông khiến cho vua Đường Huyền Tông vị nể. Đến năm 85 tuổi, Hạ Tri Chương mới về quê sống và chưa đầy một năm sau thì qua đời. Bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê được sáng tác khi ông vừa đặt chân lên mảnh đất cố hương.

Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?
(Phạm Sĩ Vĩ dịch)

Bài thơ phản ánh chân thực tâm trạng xúc động, buồn vui lẫn lộn của một người xa nhà đã lâu trong khoảnh khắc vừa mới trở về quê cũ, qua đó thể hiện tình cảm quê hương tha thiết, sâu nặng của nhà thơ.

Tên chữ Hán của bài thơ là Hồi hương ngẫu thư. Ngẫu thư nghĩa là ngẫu nhiên mà viết ra. Ngẫu nhiên vì tác giả không có chủ định làm thơ. Còn tại sao không chủ định viết mà lại viết thì đọc xong bài thơ ta mới rõ. Tác giả rằng, khi về đến làng, ông không gặp bạn bè hay những người thân trong gia đình ra đón mà gặp đám trẻ con đang chơi đùa. Đó chính là duyên cớ – mà duyên cớ thì bao giờ cũng có tính chất ngẫu nhiên, khiến tác giả cũng ngẫu nhiên nổi lên thi hứng mà viết nên bài thơ này.

Nhưng nếu chỉ vì duyên cớ ngẫu nhiên thì bài thơ không thể hay, không thể rung đọng lòng người mà đằng sau nó là tình cảm quê hương của nhà thơ dồn né bao năm giờ đây cần được thổ lộ. Tình cảm ấy như một sợi dây đàn đã căng hết mức, chỉ cần khẽ chạm vào là rung động, ngân vang, thổn thức. Phép đối ở hai câu đầu thể hiện tài thơ sắc sảo của tác giả:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.

(Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.)

Trong câu mở đầu, tác giả kể vắn tắt về cuộc đời sống xa quê đi làm quan của mình và bước đầu hé lộ tình cảm đối với cố hương. Câu thứ hia là câu tác giả miêu tả chính mình: Hương âm vô cải, mấn mao tồi. Nhà thơ lấy một chi tiết đã thay đổi là mái tóc (mấn mao tồi) để làm nổi bật yếu tố không thay đổi là giọng nói quê hương (hương âm vô cải) để nhấn mạnh ý: Dù hình thức bên ngoài có bị thời gian và cuộc sống lâu dài ở kinh thành làm cho thay đổi nhiều nhưng bản chất bên trong vẫn nguyên vẹn là con người của quê hương. Hai câu cuối:

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vẫn: khách tòng hà xứ lai?

(Trẻ con nhìn lạ không chào,

Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?) Sau năm mươi năm xa quê đằng đẵng, nay trở về làng cũ, nhà thơ chỉ thấy lũ trẻ con đang tung tăng nô đùa, chạy nhảy. Điều đó chứng tỏ lớp người cùng tuổi với ông chắc chẳng còn mấy. Thời bấy giờ, ái sống được đến bảy mươi là đã được liệt vào hạng “cổ lai hi” (xưa nay hiếm – từ dùng của Đỗ Phủ). Giá như vài người vẫn còn sốn thì liệu có ai nhận ra nhà thơ không?! Điều trớ trêu là sau bao nhiêu năm xa cách, nay trở về nơi chôn nhau cắt rốn mà nhà thơ lại “bị” xem như khách lạ! Tình huống ấy đã tạo nên cảm xúc bi hài thấp thoáng sau lời kể cố giữ vẻ khách quan, trầm tĩnh của nhà thơ.

Nói về lẽ sống chết, Khuất Nguyên có hai câu thơ nổi tiếng: Hồ tử tất thủ khâu, Quyện điểu quy cựu lâm. (Cáo chết tất quay đầu về phía núi gò, Chim mỏi tất bay về rùng cũ). Muông thú còn thế, huống chi con người! Khuất Nguyên dùng ẩn dụ để khẳng định một quy luật tâm lí muôn đời. Giản dị và dễ hiều hơn, người xưa nói: Lá rụng về cội. Lúc trưởng thành, vì hoàn cảnh khó khăn mà người ta phải xa quê kiêm sống khắp nơi. Khi già yếu, ai cũng mong được sống những ngày còn lại ở quê nhà vì không ở đâu tình người lại ấm áp như ở nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Dẫu làm tới một chức quan rất lớn ở triều đình thì Hạ Tri Chương cũng không nằm ngoài quy luật tâm lí ấy.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 5

Hạ Tri Chương là một trong những thi sĩ lớn của Trung Quốc ở thời Đường. Những vần thơ của ông chứa chan lòng yêu quê hương đất nước. Một trong những bài thơ hay nhất, đặc sắc nhất về chủ đề này là bài thơ “Hồi hương ngẫu thư”:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi

Hương âm vô cải, mấn mao tồi

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?

Hạ Tri Chương xa quê từ lúc ông còn bé. Mở đầu bài thơ, với thủ pháp nghệ thuật tiểu đối, tác giả đã nêu ra một hoàn cảnh của mình: phải từ biệt gia đình từ thuở thơ ấu, từ nhỏ đã phải xa quê, sống nơi đất khách với bao nhiêu buồn khổ. Mãi đến khi tóc đã pha sương mới có dịp trở về quê hương: “ Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi”

Xa quê từ khi còn bé xíu, khi trở lại thì đã già mất rồi. Thời gian ấy chẳng hề ngắn ngủi, đó không phải là 3 năm, 10 năm mà đó là cả hơn nửa thế kỉ, gần bằng một đời người. Sao mà không nhớ , không thương cho được? Cảnh ngộ ấy chính là bi kịch của vị quan đời Đường trên con đường theo đuổi công danh sự nghiệp. Với nhà thơ, cái giá phải trả để có được công danh đó là phải li gia, xa quê nhà yêu dấu. Đó là một khối sầu, một nỗi đau dai dẳng, khôn nguôi. Dù xa quê nhiều năm nhưng có những thứ vẫn không thay đổi trong nhà thơ: “Hương âm vô cải, mấn mao tồi”

.

Tác giả tiếp tục sử dụng phép đối để khẳng định tình cảm thủy chung son sắt với quê hương. Đối với con người, quê hương là máu thịt, là tâm hồn. Và với Hạ Tri Chương cũng thế. Hơn nửa thế kỉ xa quê, mái tóc đã điểm sương, nhuốm màu của thời gian nhưng “hương âm” chẳng hề thay đổi. Giọng quê chính là hơi thở, là tiếng nói và là cái hồn của quê hương. Chi tiết này cho thấy tình cảm gắn bó, thủy chung son sắt của tác giả với quê hương – nơi chôn rau cắt rốn, nơi có tình yêu thương của gia đình. Hơn nửa thế kỉ làm quan, sống trong vinh hoa phú quý, đứng trên đỉnh cao danh vọng, ấy thế mà tình cố hương trong Hạ Tri Chương vẫn không đổi. Đó là một điều đáng trân quý, đáng tự hào.Trở về nơi mà gần cả cuộc đời đã xa, tác giả đã gặp phải nghịch lí:

“Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?”

Câu thơ với sự bùi ngùi, chua xót. Khi đi xa giờ trở về đã là khách lạ, chẳng còn ai quen biết, chẳng còn họ hàng, thân thích. Một câu hỏi hồn nhiên ngây ngô của trẻ con để lại trong lòng tác giả nỗi buồn man mác. Sinh ra tại chính mảnh đất quê hương, đứng trên mảnh đất quê hương mình, ấy thế lại bị coi là “khách”. Thật là chua xót biết bao!

“Hồi hương ngẫu thư” mang đến cho người đọc nhiều xúc động. Nghệ thuật tiểu đối được sử dụng thành công tạo nên những vần thơ hàm súc. Bài thơ là tiếng lòng của Hạ Tri Chương, yêu quê hương tha thiết, thủy chung và gắn bó sâu sắc.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 6

Sinh ra và lớn lên trong gia đình truyền thống có học, Hạ Tri Chương được đánh giá là người có tâm và có tầm. Sớm xa quê hương từ khi còn rất nhỏ, cuộc đời bôn ba, làm nhiều chức quan to trong triều đình, đến cuối đời lại gặp khó khăn, về quê an hưởng tuổi già. Trong chính tình huống trở về nơi chôn rau cắt rốn sau năm mươi năm xa cách đã khiến tác giả viết bài thơ “Hồi hương ngẫu thư” – “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê”, thể hiện nỗi nhớ quê hương sâu nặng và cả sự buồn bã, tâm trạng đau thương của một người con xa xứ.

Xa quê khi mới chỉ là một cậu bé, cả cuộc đời cống hiến và phụng sự triều đình, đến khi về già, từ bỏ mũ cao áo dài về quê an dưỡng, tác giả hết sức bàng hoàng khi không còn ai nhận ra mình nữa. Với dòng cảm xúc vừa bồi hồi sau ngần ấy năm xa cách nay đã được hồi hương, vừa đau đớn, xót xa vì lại trở thành người lạ ngay trên mảnh đất mình sinh thành, nhà thơ viết “Hồi hương ngẫu thư”, gửi gắm vào đó những tâm sự, cảm xúc của một lão niên tuổi cao sức yếu. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, bốn câu thơ thể hiện tình yêu quê hương nồng nàn, cùng sự ngậm ngùi, tiếc thương cho thân phận của mình khi trở về quê hương. Hai câu thơ đầu, tác giả kể lại câu chuyện hồi hương sau năm mươi năm xa cách:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi

Hương âm vô cải mấm mao tồi

Tác giả sử dụng hàng loạt tính từ đối lập: “thiếu tiểu – lão đại”, “li gia – hồi”, cả một đời người, khi đi chỉ là cậu thiếu niên thơ bé, khi trở về, mái tóc đã bạc phơ, thân đã là một “lão đại” dạn dày sương gió. Người đọc còn nhận thấy cả chút tự trách, tự vấn lương tâm rằng tại sao bản thân không về thăm nhà lấy một lần trong ngần ấy năm. Câu thơ tuy không có lời nào thể hiện hàm ý buồn thương, nhưng cách viết nhấn mạnh sự đối lập khoảng thời gian cho người đọc thấy được nỗi tự trách, bận rộn một đời cho đến tận khi không còn nơi để đi mới ngậm ngùi trở về. Đến câu thơ thứ hai, dòng xúc cảm nồng nàn với quê hương được bộc lộ một cách cảm động, chân thực:

Hương âm vô cải, mấn mao tồi. Một lần nữa, nghệ thuật đối lập được sử dụng liên tiếp “hương âm – mấn mao”, “vô cải – tồi”. “Hương âm” được dịch là “giọng quê”, giọng nói đặc trưng của quê hương qua năm tháng dãi dầu, bôn ba vẫn không hề phai nhạt. Thời gian có thể bào mòn con người, ngoại hình có thể cằn cỗi, tư tưởng có thể chuyển dời, nhưng cái chất thôn quê thuần túy không bao giờ có thể đổi thay. “Mấn mao tồi”, cái thay đổi ở đây chính là bản thân nhà thơ, thay đổi về hình dáng, về tuổi tác. Tuy vẫn là người con của quê hương, nhưng mái đầu xanh nay đã bạc, tuổi tác nay đã già, sức khỏe cũng đã suy yếu. Hai hình ảnh đối lập trong cùng câu thơ cốt để khẳng định rằng, dù cho có phải xa cách về thời gian hay địa lý, bản chất quê hương trong máu thịt vẫn không bao giờ thay đổi, khẳng định sự gắn kết, bền bỉ và tình yêu quê lớn lao, da diết.

Hai câu thơ vỏn vẹn mười bốn tiếng nhưng đã bao quát lại cả một đời người với bao thăng trầm sóng gió, nhưng dù vật đổi sao dời, tuổi đời có xế chiều, chức vị có thay đổi thì quê hương vẫn là nơi ta sinh ra và trở về, vẫn dang rộng vòng tay chào đón. Cả đời người xa quê hương xứ sở, tuổi già trở về an hưởng thái bình, vui thú điền viên là mong ước.Trong dòng cảm xúc bùi ngùi thương nhớ làng quê, tác giả lại gặp phải tình huống dở khóc dở cười khiến bản thân trằn trọc, suy tư. Xa quê lâu ngày, khi trở về, không còn ai nhận ra Hạ Tri Chương ngày nào. Đặt mình vào hoàn cảnh éo le, tác giả vừa bộc lộ cảm xúc, vừa đưa ra bài học triết lý sâu sắc:

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

(Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai)

Lựa chọn nhân vật là “nhi đồng”, “trẻ con”, để cho đám trẻ cùng quê không nhận ra mình, không biết mình là ai nhằm nhấn mạnh sự xa cách về mặt thời gian. Rời quê từ khi còn nhỏ tuổi, nay trở về gặp đám trẻ cũng trạc tuổi mình hồi ấy, nhưng chúng chẳng nhận ra, chẳng biết mình là ai khiến thi sĩ không khỏi chạnh lòng. Cùng đồng hương đấy, cùng độ tuổi đấy, nhưng mọi thứ đều bị chia cắt bởi thời gian. Bản thân trở thành kẻ xa lạ từ đâu tới ngay trên chính mảnh đất quê hương. Để cho trẻ con lên tiếng, tác giả muốn tự trách mình đã vì cá nhân, vì thỏa chí tang bồng mà quên đi mất nguồn cội.

Con nít hồn nhiên lại làm đau lòng người lớn, ẩn sau câu hỏi của lũ trẻ là bài học quý báu về tình cảm quê hương, nhớ về nguồn cội, gốc gác. Tác giả đã nêu ra một triết lý sống sâu sắc rằng, dù có đi đâu, làm gì, dù có quyền cao chức trọng đến mấy, quan trọng nhất vẫn là giữ trọn được nguồn gốc của mình, không bị lai tạp, mất gốc, không quên nơi chôn rau cắt rốn.

Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt phổ biến thời Đường, ngôn từ ngắn gọn, hàm ý với nghệ thuật đối lập tương phản, bài thơ gói gọn những hỉ nộ ái ố của tác giả khi về quê an hưởng tuổi già.

Trong niềm vui được đoàn tụ là nỗi buồn man mác vì cô đơn, buồn tủi, cuối cùng là tự vấn, tự trách bản thân đã lãng quên nơi sinh thành. Với ngôn từ nhẹ nhàng mà sâu sắc, Hạ Tri Chương đã bộc lộ tình cảm sâu nặng từ tận tâm can đối với quê hương xứ sở cùng dòng cảm xúc buồn vui xen lẫn, để lại cho bạn đọc nỗi băn khoăn, khắc khoải với chính bản thân mình.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 7

Hạ Tri Chương là một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc vào đời Đường. Ông là bạn vong niên với Lý Bạch. Hầu hết các sáng tác của ông đều thể hiện tình cảm yêu thương sâu nặng với quê hương. Một trong những bài thơ mang cảm hứng chủ đạo về nỗi niềm nhớ quê hương của tác giả là Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê (Hồi hương ngẫu thư):

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
Hương âm vô cải, mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?

Ngay nhan đề bài thơ đã thể hiện niềm xúc động dâng trào khi tác giả trở về với mảnh đất đã sinh ra mình mà gần hết cuộc đời nay mới trở lại. Tình cảm nhớ quê luôn thường trực trong lòng tác giả, nhưng phải đến khi đứng trên mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn, tình cảm ấy không thể nén được và trào dâng

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
(Khi đi trẻ, lúc về già)

Quê hương chính là cội nguồn của mỗi cá nhân, gia đình, thậm chí cả dòng họ. Được sinh ra nhưng tuổi ấu thơ đã phải rời gia đình, quê hương sống nơi đất khách quê người. Vậy là tác giả ngay từ nhỏ đã phải làm quen với phong tục tập quán và kể cả lũ bạn hoàn toàn mới lạ. Sự hoà đồng có lẽ cũng nhanh, nhưng nó vẫn không phải là quê nhà, là sinh khí âm dương hội tụ của mẹ cha để sinh ra mình. Điều đó có ảnh hưởng rất nhiều đến nhận thức của nhà thơ. Nỗi niềm nhớ quê đã trở thành thường trực đau đáu trong lòng.

Quê hương trong bài thơ là cố hương. Tác giả xa cách không phải là 3 năm, 15 năm mà là hơn nửa thế kỷ, gần một đời người. Đành rằng cuộc sống chốn Tràng An náo nhiệt, ồn ào, sung túc. Công danh có thành đạt đến mức nào, cái chất quê, cái máu, cái hồn trong ông vẫn không hề thay đổi. Có nỗi đau nào hơn nỗi đau “li gia”. Tuy vậy, ta thấy rằng với tác giả, vui sướng vô cùng là cuối đời còn được hồi hương.

Cuộc đời đầy sóng gió và cát bụi, mái tóc còn xanh mướt ngày nào khi xa quê thì nay, chính trên mảnh đất này mái tóc ấy đã bạc phơ. Dẫu cho tóc bạc, da mồi, địa vị công danh thay đổi. Nhưng cái cốt cách, cái linh hồn của đất mẹ quê cha vẫn nguvên đó.

Hương âm vô cải, mấn mao tồi
(Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao)

Lời nói, giọng quê vẫn không thay đổi, ấy chẳng phải là sự gắn bó với quê hương đó sao. Thật vậy truyền thống văn hoá của gia đình, dân tộc quê hương không dễ gì thay đổi được. Nó được ăn sâu trong máu, trong tâm hồn tác giả. Lý Bạch trên bước đường chống kiếm lãng du xa quê từ nhỏ nhưng ánh trăng nơi quán trọ đã gợi trong ông những kỷ niệm thân thương nhất về quê hương, ánh trăng làm sống dậy một thời gắn bó từ thuở nằm nôi. Hạ Tri Chương cũng vậy, ông sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương hết mực của cha mẹ, của quê hương, chỉ có những kẻ bạc tình mới nỡ nhắm mắt quên đi nguồn cội.

Càng cảm động nhường nào khi trên đỉnh danh vọng cao sang mà hình ảnh quê hương không hề phai nhạt. Ta hiểu rằng về với quê có lẽ là ước nguyện lớn nhất của đời ông. Ước nguyện ấy đã biến thành hiện thực, bao năm ly biệt nay trở về với quê hương, trong lòng sao tránh khỏi cảm xúc dâng trào. Có lẽ ngay từ đầu ngõ tác giả đã thốt lên con đã về đây hỡi người mẹ hiền quê hương, ông như muốn ôm trọn cả quê hương vào lòng với những dòng nước mắt sung sướng. Nhưng về tới quê hương một nghịch lý đã xảy ra:

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai?
(Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: khách ở chốn nào lại chơi?)

Thời gian xa quê dài dằng dặc, bạn bè cùng trang lứa ngày xưa ai còn ai mất. Quê hương đã có thay đổi gì chưa. Đời sống cùa bà con như thế nào? Bao nhiêu câu hỏi cứ dội về hiện hữu. Sau tiếng cười nói ồn ào của lũ trẻ, lòng tác giả không khỏi man mác. Trong con mắt lũ trẻ thì mình là khách lạ, đó là một thực tế bởi khi ông từ giã quê hương thì làm gì đã có chúng. Sau nụ cười tinh nghịch của trẻ thơ là những giọt nước mắt chua cay và sung sướng. Ta là khách lạ! xa quê gần một đời người nay mới trở lại, ta dù lạ với lũ trẻ thơ như quá đỗi thân thuộc với mảnh đất quê hương. Sung sướng hơn bao giờ hết nhà thơ đang đứng trên mảnh đất quê hương, ông đã thực hiện được.tâm nguyện của mình “sống chết với quê hương”. Tình cảm ấy đẹp quá, thiêng liêng quá!.

Cảm ơn nhà thơ Hạ Tri Chương, chính ông đã đánh thức trong lòng độc giả những tình cảm gắn bó với quê hương. Nó làm thức tỉnh bao kẻ đang muốn từ bỏ quê hương. Đồng thời củng cố, khắc sâu hơn niềm tin yêu quê hương gia đình của mỗi con người. Và dĩ nhiên không có tình cảm gắn bó với quê hương sẽ không lớn nổi thành người.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 8

Hạ Tri Chương (659-744) tự QuýChân, hiệu “Tứ Minh cuồng khách”, người Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang). Năm 695 ông đậu tiến sĩ, làm quan trên 50 năm ở Trường An. Ông thích uống rượu, kết thân với Lý Bạch, là một trong “Ngô trung tứ sĩ”, tự xưng “Tứ minh cuồng khách”. Tính tình phóng khoáng, thích đàm tiếu, làm quan lâu năm vì “hoảng sợ bệnh tật” và “muốn về làng” nên sau hơn 50 năm xa quê năm 86 tuổi ông trở về thăm quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang). Từ biệt rất lâu nay đến tuổi già lão Hạ Tri Chương mới về quê thăm nên có nhiều cảm xúc ngỡ ngàng và xa lạ. Ông đã làm hai bài thơ nhan đề Hồi hương ngẫu thư (ngẫu nhiên về làng viết). Bài thứ nhất như sau:

Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi,
Hương âm vô cải mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến bất tương thức,
Tiếu vấn: “Khách tòng hà xứ lai?”

Dịch thơ:
Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn lạ không chào,
Hỏi rằng: “Khách ở chốn nào lại chơi?”
(Phạm Sĩ Vĩ)

Đầu đề bài thơ có 4 chữ (từ), chữ “ngẫu” được hiểu là tác giả trở về làng lúc đã quá già nên chỉ có ý định về làng thăm quê sau hơn nửa thế kỷ xa cách mà không có ý sáng tác. Đây là lần trở về quê đầu tiên và cũng có thể là lần cuối. Nhưng vừa đặt chân đến quê thì cảm xúc dâng trào nên tác giả “ngẫu hứng” mà sáng tác bài thơ này. Bài thơ theo thể thất ngôn tuyệt cú, lời lẽ đơn giản, dễ hiểu nhưng trở nên bất hủ và rất được truyền tụng xưa nay, và nó đều được đưa vào chương trình ngữ văn ở nhà trường phổ thông Trung Quốc (sơ trung), Việt Nam (THCS).

Bài thơ có 4 câu, hai câu đầu (1, 2) tác giả nói về sự thay đổi của bản thân và hai câu sau (3, 4) diễn tả cảm nghĩ của mình về sự thay đổi của quê sau bao năm dài xa cách. Ở hai câu đầu tác giả tự đặt mình vào hoàn cảnh vừa quen thân vừa xa lạ đối với quê hương khi trên đường trở về. Tâm tình của tác giả lúc này là “không bình tĩnh” với tâm trạng bồn chồn, lo lắng. Nguyên nhân của sự “không bình tĩnh” ấy là lời “tự thuật” khi từ biệt quê nhà ra đi tác giả còn ấu thơ (thiếu tiểu) và khi trở về thì đã quá già lão (lão đại).

Câu thơ chỉ có 7 chữ mà đối từng chữ (thiếu tiểu – lão đại; ly – hồi). Ở câu 1 xuất hiện chữ “gia” (nhà) rất gần gũi và thân quen. Cái nơi gần gũi, thân quen “chôn nhau cắt rốn”, “cất tiếng chào đời” ấy trở nên nghẹn ngào làm sao khi tác giả nhớ lại phải “ly gia” (xa cách ngôi nhà) để ra đi từ lúc còn quá bé nhỏ (thiếu tiểu). Xót xa, ngậm ngùi hơn là chính con người ấy nay lại trở về nhà vào lúc tuổi xế chiều “gần đất xa trời”. Một câu thơ có hai vế đối: “Thiếu tiểu ly gia” đối với “lão đại hồi” vừa chỉnh vừa hay. Câu thơ 1 được chuyển tiếp và làm rõ hơn ở câu 2.

Nếu câu 1 là sự thay đổi về thời gian năm tháng thì ở câu 2 tác giả làm nổi bật sự thay đổi rất lớn của bản thân ở hai khía cạnh là tâm hồn bên trong và hình dạng bên ngoài. Trong khi hình dáng bên ngoài sau bao năm ra đi và xa cách nay trở về râu và tóc của tác giả đã bạc phơ và thưa rụng đi rất nhiều (mấn mao tồi). Cái mà tác giả rất tự hào và có thể nói “hành trang” trở về rất quí giá của mình, đó là tấm lòng, tình cảm được thể hiện qua giọng nói của quê nhà vẫn không thể thay đổi (hương âm vô cải).

Nếu câu 1 tác giả gọi “gia” (nhà) là của riêng mình thì ở câu 2 nhà thơ lại dùng chữ “hương” (làng) rộng lớn, bao quát, thân thiết và gắn bó hơn. Câu 2 cũng có hai vế đối. Chữ “hương âm” (giọng quê) không thay đổi (vô cải) cho dù “mấn mao” (râu tóc) đã thay đổi (tồi). Câu thơ này ngụ ý tác giả muốn nói rằng “tôi không quên quê hương nhưng quê hương còn nhớ tôi không?” (Ngã bất vong cố hương, cố hương khả hoàn nhận đắc ngã ma?).

2. Câu 3, 4 miêu tả sự thay đổi của quê hương từ bức tự họa tràn đầy cảm khái tác giả chuyển sang câu chuyện giàu kịch tính mà trọng tâm là sự xuất hiện hình ảnh đứa trẻ (nhi đồng). Hai câu đầu nhân vật chính là tác giả (thiếu tiểu – lão đại), hai câu sau có hai nhân vật, một già (lão đại) và một đứa trẻ của làng (nhi đồng). Nếu như ở hai câu thơ đầu tác giả háo hức và mơ ước được nhanh chóng trở về quê lúc tuổi già sức yếu thì ở hai câu thơ sau nhà thơ cảm thấy bị hụt hẫng, ngỡ ngàng vì quê hương mà mình khắc khoải mong trở về trở nên xa lạ.

Đứa trẻ làng (ở tuổi chắt) nhìn thấy một ông lão rất già nhưng nó dửng dưng, xa lạ, không quen biết và không hề chào hỏi một câu (nhi đồng tương kiến bất tương thức). Câu thơ chỉ có 7 chữ với hai từ lặp (tương – nhìn thấy nhau và không quen biết nhau). Kịch tính của bài thơ được mở ra từ đây. Câu thơ không nói nhưng tác giả tỏ ra không vui và trách giận một đứa trẻ làng gặp ông, nhìn thấy ông mà xa lạ, không lễ phép đối với người già đáng tuổi cụ. Từ thái độ giận trách tác giả chuyển sang thái độ là tự trách mình, tự hỏi mình. Ông chợt nghĩ rằng đứa trẻ không có lỗi, thái độ “xử sự” của nó là đúng. Ông đã trở nên xa lạ trên quê hương mình.

Bài học rút ra ở ông lúc này chính là cách “xử sự” của đứa trẻ đối với những ai xa quê lại hờ hững mà ít gắn bó với quê bao nhiêu năm xa cách nay mới trở về. Tác giả – một nhà thơ lớn – làm quan lớn rời bỏ quê hương ra đi nay trở về với “tinh chất” là “Hương âm vô cải” nhưng lại trở nên xa lạ ngay trên quê hương thân yêu của mình mà người “chỉ ra” sự xa cách, xa lạ đó là đứa trẻ làng đáng yêu.

Câu thơ cuối (câu kết) rất hay, kịch tính được “thắt” (câu 3) và được “mở” với hình ảnh thân thiện hồn nhiên và lễ phép của đứa trẻ. Từ chỗ nhìn thấy (tương kiến) mà không quen biết (bất tương thức) đứa trẻ có một thái độ cởi mở, niềm nở với ông già (tiếu vấn). Sau nụ cười là một câu hỏi cũng phát ra từ miệng của đứa trẻ thơ: “Ông là khách từ nơi đâu đến?” (Khách tòng hà xứ lai?). Câu thơ có một lời thoại – một lời hỏi của đứa trẻ mà người đáp là ông già (tác giả) – không có trả lời. Chữ “khách” tác giả sử dụng ở đây thật tài tình được coi là “thi nhãn” của bài thơ này.

Tác giả là chủ làng, già làng ra đi nay trở về là “khách” còn đứa trẻ làng là kẻ hậu bối mấy đời nay trở nên là “chủ”. Nó sẽ rất tự hào và hãnh diện là “chủ” của quê hương trong hiện tại và tương lai. Với những ai từng là “con em” và “chủ” của làng ra đi lâu ngày không còn thân thiết, gắn bó nữa nếu không có ý thức về quê hương sẽ trở nên là “khách” xa lạ ngay trên nơi chôn nhau cắt rốn và cất tiếng chào đời. Nhà thơ không trả lời được câu hỏi đơn giản của đứa trẻ và tác giả cũng nhận thức ra rằng không thể trả lời! Sau câu hỏi này chắc chắn tác giả sẽ lại phải ra đi vì mình là “khách” của quê hương rồi.

Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương tuy ngắn mà hay, sâu xa, ý tứ ít có thi phẩm nào sánh kịp. Bài thơ có không gian, thời gian, con người và sự việc. Bài thơ có hai nhân vật, một lời thoại, có kịch tính dâng trào và có sự hài hước. Yếu tố tự vấn, tự trách, giận mà thương thể hiện khá rõ trong bài thơ. Bài thơ như một màn kịch có bối cảnh, nhân vật đọc lên ai nấy cũng có cảm giác là “xem” một vở hài kịch thân thương.

Cảm xúc trước bài thơ này sinh thời nhà thơ Chế Lan Viên sau mấy mươi năm xa quê thuở trai trẻ một thời ở huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định sau ngày giải phóng trở về thăm lại, nhân nhớ đến bài Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương ông đã làm bài thơ Trở lại An Nhơn.

Trở lại An Nhơn tuổi đã lớn rồi,
Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai?
Nền nhà cũ xây cơ quan mới,
Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 9

Người ta thường hay nói “Sinh ra ở đâu thì mãi thuộc về nơi ấy”, ai cũng có cho mình một quê hương để thuộc về nhưng đôi khi vì sự xa cách, không biết tự lúc nào mà bản thân đã không còn được mảnh đất mình sinh ra công nhận. Đó là một nỗi đâu đớn ngậm ngùi không nói lên lời mà Hạ Tri Chương đã cảm nhận khi sau nhiều năm quay trở về quê của mình, ông trở thành khách lạ ngay trên quê hương mình. Và bao nhiêu đó đã gửi gắm qua những dòng thơ: “Hồi hương ngẫu thư”.Bài thơ thất ngôn tư tuyệt cô đọng mà để lại bao nhiêu dư vang;

Thiếu tiểu li gia lão đại hồi

Hương âm vô cải mấn mao tồi

Dịch thơ:

Khi đi trẻ, lúc về già

Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao

Câu thơ chia làm hai vế đó là về thời gian cũng như hành động của con người, khi xa quê, tác giả còn thanh niên, như cánh chim bằng muốn dang rộng đôi cánh bay lên bầu trời cao rộng, đến khi nhìn lại muốn quay trở lại quê hương thì đã già. Có lẽ sau bao nhiêu năm lăn lộn chốn quan trường, đã đến lúc, ông muốn về quê hương nơi mình sinh ra an dưỡng những năm tháng tuổi già trong thanh bình.

Xa quê lâu như thế nhưng “Hương âm vô cải” thật là một điều đáng quý. Giọng nói quê là một cái gì đó vô cùng đặc trưng mà dường như mỗi vùng miền đều có những chất giọng khác nhau và chỉ có người ở nơi đó mới có giọng ấy. Nhưng giọng quê cũng không phải là một đặc điểm dễ giữ nguyên vẹn nhất là khi người ta đi xa, đến và sinh sống lâu dài ở một nơi khác, tiếp xúc với giọng nói, nền văn hóa khác, nhiều người bị biến đổi giọng nói.

Thế nhưng tác giả còn rất tự tin mình vẫn giữ được giọng nói quê hương, giữ nguyên cái bản sắc quê hương và là sự thể hiện của một tấm lòng không bao giờ quên quê hương mình. Làm sao ông có thể quên quê hương khi mà mỗi ngày ông đều nói giọng quê mình, mỗi âm thanh phát ra hẳn còn hằn lại một nỗi nhớ quê da diết, một quê hương luôn trong trái tim tác giả. Nhưng hình ảnh đối lập ngay sau đó: “mấn mao tồi” cho thấy dấu hiệu của thời gian đã làm cho con người đổi khác, mái đầu bạc là biểu thị cho tuổi tác cao, tuổi già đã bao phủ.

Thế nhưng cũng vì thế mà nổi bật lên một tình cảm thủy chung từ ngày đi lúc còn trẻ cho đến ngày trở về tuy ã già bao nhiêu thì quê hương vãn thường trực trong trái tim tác giả. Quê hương ấy hiện lên trong giọng nói không thể đổi khác mà ông tự hào. Thế nhưng, nhà thơ không khỏi ngạc nhiên xen lẫn ngậm ngùi khi mà:Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai
Dịch thơ:Trẻ con thấy lạ không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi

Dân gian ta có câu: “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Trẻ con thì ngây thơ, thật thà, cũng chính vì vậy mà câu hỏi của chúng khiến cho nhà thơ không khỏi đau lòng. Chúng vì lần đầu nhìn thấy ông bởi đã nhiều năm ông không về quê hương, bạn bè cũ hẳn còn nhớ nữa là trẻ con chưa bao giờ gặp mặt. Ông trở thành người “lạ” với những đứa trẻ, cũng chính là với thế hệ sau của dân làng, với chính mảnh đất quê hương mình. Còn nỗi đau nào lại xót xa hơn nỗi đau quay trở lại quê hương của mình mà lại bị coi là “khách”? Ông ở đất khách bao nhiêu năm luôn mong về quê hương, tức là chưa khi nào ông coi nơi mình đang sống là quê cả, ấy vậy mà khi trở về quê lại bị coi là khách, vậy rốt cuộc quê hương ông là ở đâu?

Bài thơ là niềm ngậm ngùi xót xa của một người khát khao về với quê hương mà lại hụt hẫng ngày trở về. Qua đó ta thấy rằng thời gian trôi đi, mọi thứ đều có thể đổi khác, không ai khống chế được, nên khi có thể, đừng trì hoãn lần về với quê hương để mà hối hận xót xa khi không còn được tha thiết như ngày nào.

Bài văn phân tích bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” số 10

Con người xưa nay luôn mang một nỗi niềm thiên cổ, mang mang thiên cổ sầu, ấy là cảm thấy sự nhỏ bé, hữu hạn của mình trước không gian, thời gian vô cùng. Thời gian tuyến tính, một đi không trở lại, bởi vậy ngoảnh mặt đã thấy già đi. Xa quê, bôn ba khắp bốn phương, trở lại quê nhà, nơi chôn rau cắt rốn, bỗng thấy mình như xa lạ. cảm giác ấy thật xa xót biết bao. Với cảm hứng ấy bài thơ “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương đã làm bâng khuâng nhiều thế hệ bạn đọc.

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
Hương âm vô cải, mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?

Ngay nhan đề bài thơ đã thể hiện niềm xúc động dâng trào khi tác giả trở về với mảnh đất đã sinh ra mình mà gần hết cuộc đời nay mới trở lại. Tình cảm nhớ quê luôn thường trực trong lòng tác giả, nhưng phải đến khi đứng trên mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn, tình cảm ấy không thể nén được và trào dâng:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
(Khi đi trẻ, lúc về già)

Có ai sinh ra và lớ lên mà không mang trong mình nỗi niềm thương nhớ về mảnh đất quê hương. Tưởng như đó đã trở thành mùi riêng của đất, của quê hương này, ăn sâu vào tiềm thức và tâm thức của mỗi người. Chỉ tiếc lắm khi, xa quê, vì mưu sinh, vì sự nghiệp con người ta dần già rời xa bến đỗ ấy. Đến khi ngoảnh lại bỗng thấy mình như vị khách, đứng trên quê hương mà vẫn thấy nhớ quê hương. Và cảm xúc bâng khuâng, nghẹn ngào thiên liêng như một lười khấn khứa trở đi trở lại rất nhiều trong thơ. ở đây, với Hạ Tri Chương cũng không là ngoại lệ. Nỗi niềm nhớ quê đã trở thành thường trực đau đáu trong lòng. Quê hương trong bài thơ là cố hương.

Tác giả xa cách không phải là 3 năm, 15 năm mà là hơn nửa thế kỉ, gần một đời người. Đành rằng cuộc sống chốn Tràng An náo nhiệt, ồn ào, sung túc. Công danh có thành đạt đến mức nào, cái chất quê, cái máu, cái hồn trong ông vẫn không hề thay đổi. Có nỗi đau nào hơn nỗi đau “li gia”. Tuy vậy, ta thấy rằng với tác giả, vui sướng vô cùng là cuối đời còn được hồi hương.Tuổi trẻ một đi không trở lại. tác giả ở đây, xa quê khi còn trẻ, khi trở về tóc đã bạc mái đầu. Dường như cả một khối ngậm ngùi chau xót biết bao khi ta sinh ra và phải rời bỏ nơi này đến một vùng đất mới. Nhưng dẫu cho dòng thời gian vô thủy, vô chúng có chảy trôi mãi mãi, khiến cho tóc bạc, da mồi, địa vị công danh thay đổi. Nhưng cái cốt cách, cái linh hồn của đất mẹ quê cha vẫn nguyên đó.

Hương âm vô cải, mấn mao tồi
(Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao)

Lời nói, giọng quê vẫn không thay đổi, ấy chẳng phải là sự gắn bó với quê hương đó sao. Thật vậy truyền thống văn hoá của gia đình, dân tộc quê hương không dễ gì thay đổi được. Nó được ăn sâu trong máu, trong tâm hồn tác giả. Lý Bạch trên bước đường chống kiếm lãng du xa quê từ nhỏ nhưng ánh trăng nơi quán trọ đã gợi trong ông những kỉ niệm thân thương nhất về quê hương, ánh trăng làm sống dậy một thời gắn bó từ thuở nằm nôi. Hạ Tri Chương cũng vậy, ông sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương hết mực của cha mẹ, của quê hương, chỉ có những kẻ bạc tình mới nỡ nhắm mắt quên đi nguồn cội.Nhưng về tới quê hương một nghịch lý đã xảy ra:

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai?
(Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: khách ở chốn nào lại chơi?)

Một quãng thời gian đủ để cho quên nhớ đời người. Và ở đây vẫn còn thấy một con người son sắt, thủy chung, nặng lòng với mối tình quê. Sau tiếng cười nói ồn ào của lũ trẻ, lòng tác giả không khỏi man mác. Trong con mắt lũ trẻ thì mình là khách lạ, đó là một thực tế bởi khi ông từ giã quê hương thì làm gì đã có chúng. Sau nụ cười tinh nghịch của trẻ thơ là những giọt nước mắt chua cay và sung sướng. Ta là khách lạ! Xa quê gần một đời người nay mới trở lại, ta dù lạ với lũ trẻ thơ như quá đỗi thân thuộc với mảnh đất quê hương.

Sung sướng hơn bao giờ hết nhà thơ đang đứng trên mảnh đất quê hương, ông đã thực hiện được tâm nguyện của mình “sống chết với quê hương”. Tình cảm ấy đẹp quá, thiêng liêng quá! Chỉ khi một người yêu quê tha thiết, mới xa xót trước cảnh tượng như vậy. Giọt nước mắt chảy vào trong, trào dâng và âm ỉ trong lòng người con xa quê.

Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, nghệ thuật đối, kết hợp tự sự và biểu cảm… bài thơ đã khắc họa thành công tình yêu quê hương tha thiết của một người sống xa quê lâu ngày trong khoảnh khắc vừa mới trở về.

Hoài Cựu

Hoài Cựu

Hoài Cựu (Hồ Xuân Hương)

Chữ tình ngang ngửa biết bao nhiêu,
Một chút duyên xưa dở lắm điều.
Bèo lạc không kinh còn trẻ lại,
Hoa trăng thêm tủi cái già theo.
Tài tình nợ ấy vay nên trả,
Phong cảnh vui đâu gửi đã nhiều.
Đưa đẩy biết tường tay đại tạo,
Cánh hoa trên nước thấm tin triều.

Theo TS. Phạm Trọng Chánh, bài thơ này được Hồ Xuân Hương làm sau khi gặp Nguyễn Du làm Chánh Sứ năm 1813 tại Thạch Đình bên sông Vị Hoàng, nàng không gặp được mà chỉ nhìn Nguyễn Du từ xa vì quan trên trông xuống, người ta dòm vào. Sau cuộc gặp gỡ này Hồ Xuân Hương viết bài “Hoàng Giang ngộ hỷ phú” và bài này.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Hoài Cựu” của tác giả Hồ Xuân Hương. Thuộc tập Lưu Hương Ký, danh mục Thơ Hồ Xuân Hương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Áo Trắng

Áo Trắng

Áo Trắng (Quang Dũng)

Tôi gặp nàng đi buổi sớm mai
Giữa màn sương trắng phủ ngang trời
Thướt tha áo trắng khăn màu trắng
Mặt rầu tang tóc nét chưa phai

Tôi gặp nàng như gặp nhớ thương
Lạnh sao màu áo trắng như sương
Vườn hồng không thắm trong tôi nữa
Cả một hương gì gây nhớ thương

Tôi để nàng qua chẳng nói gì
Mắt người nghiêm quá dưới hàng mi
Màu tang sầu cả hồn trai trẻ
Nhớ thầm từ đó bóng người đi

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Áo Trắng” của tác giả Bùi Đình Diệm. Thuộc danh mục Thơ Quang Dũng trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Phơi Phới

Phơi Phới

Phơi Phới (Tế Hanh)

Trời rộng phơi màu xanh mới tinh
Nắng trong trải ấm, gió đưa tình
Như khi còn bé về bên ngoại
Hớn hở hồn tôi dõi mộng xinh

Lần lượt bao nhiêu ý mến đời
Theo niềm phơi phới nở chơi vơi
Thân buông tín cẩn trong tươi mát
Đường mở hai tay đon đả mời

Chân bước khoan thai giữa biếc hường
Và lòng vơ vẩn giữa yêu thương
Cả hai không hẹn đều mang máng
Biết có mùa xuân đợi cuối đường

1941

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Phơi Phới” của tác giả Trần Tế Hanh. Thuộc tập Nghẹn Ngào (1939), danh mục Thơ Tế Hanh trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!