Câu thơ tài hoa được nhiều người tìm đọc nhất hôm nay 03/05/2026

Lòng ta may quá chưa già
Cúi hôn sông Hậu qua tà áo em

Cần Thơ - Trương Nam Hương

Top 20 bài thơ có tổng lượt xem nhiều nhất hôm nay 03/05/2026

Trả Lời Người Rao Bán Thơ (Tự Hoạ)

Trả Lời Người Rao Bán Thơ (Tự Hoạ)

Trả Lời Người Rao Bán Thơ (Tự Hoạ, Hàn Mặc Tử)

Mặc người trau chuốt, mặc người mua
Ai bảo chanh chua, khế chẳng chua
Mắt cá, hạt châu nên lựa lọc
Miệng lằn, lưỡi mối khá thêu thùa
Trống qua cửa Sấm qua đâu nổi
(…)
Đàn gảy tai trâu, tay móng nhọn
Mạt cưa mướp đắng thủa nào thua.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Trả Lời Người Rao Bán Thơ (Tự Hoạ)” của tác giả Nguyễn Trọng Trí. Thuộc tập Lệ Thanh Thi Tập, danh mục Thơ Hàn Mặc Tử trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Trưa Hè (I)

Trưa Hè (I)

Trưa Hè I (Nguyễn Bính)

Trưa hè một buổi nắng to
Gió tây nổi, cánh đồng ngô rào rào.
Con đường thấp, con đê cao
Bọn người đi chợ rẽ vào đồng ngô.
Tiếng cười chen tiếng nói to
Dáng chừng trong bọn có cô chưa chồng.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Trưa Hè (I)” của tác giả Nguyễn Trọng Bính. Thuộc tập Người Con Gái Lầu Hoa (1941), danh mục Thơ Nguyễn Bính trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

HẠNH PHÚC TỪ ĐAU THƯƠNGTác giả / Thu Thảo

HẠNH PHÚC TỪ ĐAU THƯƠNGTác giả / Thu Thảo

Em nhớ anh, anh hỡi
Chỉ là nhớ được không
Em chẳng hiểu trong lòng
Vì sao mong đến vậy

Hay vì em muốn thấy
Ánh mắt biết cười vui
Xoá đi hết bùi ngùi
Đẩy lùi bao cay đắng

Cà phê bên quán vắng
Bóng nắng cũng nhòa phai
Sao vội nhắc ngày mai
Màu hoàng hôn buông xuống

Ta níu duyên tình muộn
Để uống ánh trăng tan
Để níu lại thời gian
Khoảng trời riêng ao ước

Nếu tình yêu biết trước
Mình sẽ cố nâng niu
Không còn những cô liêu
Không còn màn đêm khóc.

Tác giả: Thu Thảo

 

 

VẾT CẮT TIM MÌNHTác giả //Thu Thảo

VẾT CẮT TIM MÌNHTác giả //Thu Thảo

Tình cảm ấy đâu rồi
Sao lòng ta lặng lẽ
Bởi yêu nhanh quá nhẹ
Đánh mất cả tương lai

Giọt nước mắt lăn dài
Vì bao ngày cách biệt
Mình cùng nhau thắm thiết
Giờ nhớ lại làm chi

Để xót tủi đau ghì
Vòng tay ai lạnh giá
Trái tim sầu thắt dạ
Duyên phận quá buồn thay

Trải nghiệm vết thương này
Làm sao che giấu được
Lời thề xưa nguyện ước
Cuốn ngược lối thời gian.!

Tác giả: Thu Thảo

 

 

Top 23 Bài thơ hay động viên tinh thần chống dịch covid 19 tại Đà Nẵng

Top 23 Bài thơ hay động viên tinh thần chống dịch covid 19 tại Đà Nẵng

Đà Nẵng – thành phố đáng sống. Đà Nẵng – thành phố du lịch. Đà Nẵng – thiên đường của những bờ biển dài, ẩm thực ngon nức tiếng và những công trình kỳ vĩ, làm nức lòng du khách. Nhưng chẳng ai có thể ngờ rằng, có một ngày, Đà Nẵng trở thành ‘mối e ngại’ của mọi người. 96 triệu trái tim Việt Nam hướng về Đà Nẵng bởi ‘Đất nước là của mình/phải biết gắn bó và san sẻ’. Đã có rất nhiều bài thơ hay động viên tinh thần chống dịch gửi tới Đà nẵng. phongnguyet.info xin giới thiệu những bài thơ đó.

ĐÀ NẴNG QUYẾT TÂM CHỐNG DỊCH

Thơ Lan Vương

Thành phố biển đẹp xinh Đà Nẵng
Mỹ Khê nay bạc trắng mái đầu
Sông Hàn thơ mộng sầu đau
Cầu Rồng buồn bã rầu rầu lặng im

Bởi Đà Nẵng đang chìm dịch hại
SARS – COVID quay lại hoành hành
Thương sao thành phố tươi xanh
Người đau người bệnh lệ đành xót xa

Lúc nguy hiểm nhà nhà đoàn kết
Khắp mọi miền cùng dệt quyết tâm
Những y bác sĩ có tầm
Xông pha chiến tuyến lặng thầm cứu dân

Dịch bệnh dữ cũng dần dừng lại
Bởi nước Nam mãi mãi trường tồn
Quyết đánh đuổi dịch ác ôn
Để trời Đà Nẵng nắng vờn biển xanh.

MỸ KHÊ BIỂN NHỚ

Thơ: Thanh Hà

Nỗi đau nào chẳng thể gọi tên
Là bao ngày xa cách không em
Biển lặng sóng chơ vơ ngày lỡ hẹn
Cô vít tràn về , mang nỗi nhớ không tên.

Sóng quặn đau , trăn trở hàng đêm
Thương Đà Nẵng gồng mình trong tâm bão
Bờ cát chơ vơ , nằm thu mình , ảo não
Nước mắt biển mặn mòi , sầu tủi , chứa chan …

Phía trùng xa , bao vành trắng khăn tang
Gieo chết chóc , hoang tàn trên khắp lối
Trên phố nhỏ bao bàn chân bước vội
Ngõ đìu hiu , công viên vắng thưa người.

Hãy cười lên nhé Đà Nẵng ơi !
Cả nước yêu thương , tha thiết tình người .
Cùhg chung tay chặn loài Covit
Cho sóng đời hoà nhịp sóng biển xanh .

Mỹ Khê dịu hiền mình hẹn gặp nhé anh .

THU LỠ

Tác giả: Đào Mạnh Thạnh

Mưa tầm tã trong những ngày cuối hạ
Để sầu giăng tơi tả cánh phượng hồng
Thu chớm rồi sao vẫn nổi cuồng phong
Làm tan nát niềm mong bao ngày tháng

Dịch cô vít lại gieo vào Đà Nẵng
Cùng miền trung với tang tóc đau thương
Thôi em ơi anh lại phải lên đường
Vào tâm dịch miền thương đành gác lại

Mang nhiệt huyết với tinh thần thân ái
Cùng toàn dân ta lại quyết chung lòng
Diệt cô vi đánh đuổi kẻ thù chung
Truyền thống đó bản hùng ca mãi mãi

Bao cuộc chiến Việt Nam ta đâu ngại
Thì Cô Vi chắc lại cũng yên lành
Hết dịch rồi thu chở lại trong xanh
Em yêu hỡi ngọt lành câu tha thiết

Việt Nam đã ngàn đời nay bất diệt
Chí quật cường đoàn kết ĐẢNG cùng dân
Khắp mọi nơi muôn người góp chung phần
Lo giãn cách xa gần vui chung sức

Vì dân tộc Vì non sông đất nước
Gắng sức vào vững bước tới tương lai
Dịch qua đi mộng ước đó còn dài
Hạnh phúc ấy thái lai vui biết mấy…

Hải Phòng: 11-8-2020

TIN VUI -VÁC XIN “MA DE IN VIỆT MAM”

Thơ: Đinh Thị Hiển

Sáng nay biết được tin vui
Lòng tôi tràn ngập tiếng cười trong tôi
Cuộc đời rồi lại sáng tươi
Những ngày chống dịch, khổ thời sắp qua

Đà Nẵng ơi! Vững vàng nha
Kiên cường dũng cảm, ngày qua tuyệt vời
Chỉ thời gian ngắn nữa thôi
Vác xin nước Việt, diệt thời giặc corona

Vác xin nước Việt, nước Nga
Mở đầu cuộc chiến chống là giặc corona
Thế giới tươi sáng lại mà
Đau thương chết chóc, hết là nỗi lo

Việt Nam Y Tế thắng to
Thông minh tài đức, chăm lo dân thường
Thiên thần áo trắng dân thương
Cảm ơn nghiên cứu, mở đường ngày vui

Ngày chờ ngày đợi gần thôi
Cả nước phòng chống, luôn thời khẩu trang
Diệt khuẩn, dãn cách sẵn sàng
Đà Nẵng -anh dũng tiếng vang nước nhà

Biển xanh Đà Nẵng sóng xa
Bàn chân người đến…mãi là vấn vương…

SG ngày 18 tháng 08 năm 2020

RẤT TỰ HÀO TÔI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM

Tác Giả :Đào Mạnh Thạnh

Cô vi nó ở bên Tàu
Mà sao chúng lại vào sâu đất mình
Bọn này vốn chẳng quang minh
Dã tâm thâm độc rập rình nước ta

Trải qua mấy bận can qua
Nào đâu từ bỏ để ta yên bình
Đã từng thua trận điêu linh
Nhưng lòng lang sói bất minh vẫn còn

Chúng theo lối mở đường mòn
Gieo dịch cô vít nước non quê mình
Đà Nẵng dải đất đẹp xinh
Giờ đây tang tóc bệnh tình lây lan

Hôm nay dịch đã lan tràn
Bắc Nam muôn ngả tiếng than thấu trời
Toàn dân Đất Việt ta ơi
Tinh thần đoàn kết người người chung tay

Khẩu trang giãn cách làm ngay
Nếu nghi lây nhiễm báo ngay chính quyền
Đừng gieo tang tóc vì tiền
Đưa người trái phép vượt biên tội đồ

Xứng danh con cháu BÁC HỒ
Một dòng máu nóng đẹp tô cờ đào
Việt Nam ta mãi tự hào
Tinh thần bất diệt biết bao nghĩa tình

Rồi đây đất nước đẹp xinh
Dẹp tan cô vít bình minh rạng ngời
Toàn dân nô nức tươi cười
Tự hào biết mấy tôi người VIỆT NAM.

Hải Phòng: 18-8-2020

THẮM NGHĨA ĐỜI

Dương Quốc Nam

Chữa bệnh lương y thắm nghĩa đời
Quên mình dập dịch hẳn không ngơi
Việt Nam vào trận tâm hằng quyết
Đà Nẵng ra quân chí chẳng vơi
Nhiệt huyết vì dân cho khắp nẻo
Tận tình bởi nước ở muôn nơi
Vinh danh Bác sĩ siêng tài đức
Chiến thắng Cô vi toả sáng ngời

HƯỚNG VỀ ĐÀ NẴNG

THơ Thu Lê

Đà Nẵng đẹp bình yên thơ mộng
Thắng cảnh nhiều nhịp sống thi ca
Bỗng đâu giặc dịch đến nhà
Gieo mầm hiểm họa từ xa đến gần

Cùng Đà Nẵng bước chân không mỏi
Những tổn thương đau nhói tim hồng
Kết đoàn truyền thống Tổ Tông
Đồng bào cả nước hòa đồng chung tay

Những từ mẫu đêm ngày vất vả
Vệt khẩu trang trên má hao gầy
Ngăn nguồn bệnh dịch từ đây
Nỗi niềm trăn trở lòng đầy quyết tâm

Giặc co vit sóng ngầm hung dữ
Đà Nẵng xanh có tự bao đời
Nắng hồng sẽ chặn mưa rơi
Hướng vế Đà Nẵng nghẹn lời yêu thương.

Vào Đà Nẵng cùng anh

Thơ: Phạm Thị Hồng Thu

Ta cùng nhau vào Đà Nẵng đi em
Nơi tâm dịch cần chúng mình góp sức
Các con thơ anh nhờ mẹ chăm giúp
Em yên lòng vào Đà Nẵng cùng anh

Đà Nẵng bộn bề Covid lan nhanh
Cần thầy thuốc tay nghề cao tâm huyết
Hai chúng mình đã bên nhau nguyện ước
Dốc hết lòng là từ mẫu của dân

Chiến đấu đến cùng diệt Covid bằng xong
Ta thung thăng trên Cầu Rồng ngắm sóng
Biển Mỹ Khê lại dạt dào gió lộng
Sóng Sơn Trà tung bọt trắng tinh khôi

Đà Nẵng hiền hòa, Đà Nẵng mến yêu ơi!
Cả nước đang chung tay cùng Đà Nẵng
Yên tâm nhé, ngày mai ta sẽ thắng
Covid điên cuồng chắc chắn phải thua đau

Chúng mình cười chào Đà Nẵng nhé em yêu!

ĐÀ NẴNG ĐI ĐẦU DẬP DỊCH

Tác giả: Nguyễn Cao Cầm

Đà Nẵng khúc ruột của miền trung
Đi đầu chống dịch nắm tay chung
Cô vit cô na gây quái ác
Diệt trùng tẩy sạch đến tận cùng

Đà Nẵng cổ họng của miền Trung
Non xanh nước biếc sóng chập chùng
Cô vít yêu ma – ma nghiệt chủng
Quét sạch sành sanh chẳng tha dung

Đà Nẵng đáng yêu tuyệt vô cùng
Dải đất thấm đẫm thắm tình chung
Phố thị dập dìu vui trẩy hội
Nay thời cô vít nhiễu lung tung

Đà Nẵng nên thơ đẹp quá chừng
Tráng lệ gấm hoa trải một vùng
Tô quê hương đẹp trừ cô vít
Dòng chảy bình yên lại tưng bừng ./.

ĐÀ NẴNG TRĂM MẾN NGHÌN THƯƠNG

Thơ: Nghi Lâm

Tuy chưa một lần tới thăm Đà Nẵng
Ngũ Hành Sơn vẫn xao xuyến trong tôi
Nào Cầu Rồng, cầu Thuận Phước tuyệt vời
Bãi Non Nước, Mỹ Khê vàng tươi nắng,

SARS – CoV – 2 khiến cộng đồng lo lắng
Chúng nhiễm phơi vào cuộc sống bình yên
Cho bao người chất chứa nỗi niềm riêng
Cảm thán mảnh đất miền Trung phòng chống.

Tôi ở Sài Gòn mỗi ngày nghe ngóng
Dõi mắt theo diễn biến dịch lây lan
Lòng diết da mong muốn được sẻ san
Với bà con ruột thịt trong hoạn nạn,

Mong tất cả sẽ bình an mỹ mãn
Để dựng xây Đà Nẵng mãi đẹp giàu
Nơi du khách tìm đến thỏa khát khao
Trải nghiệm khám phá những điều chưa biết.

Thương quá địa danh một thời oanh liệt
Vững vàng trước họng súng của giặc thù
Dù phải hy sinh, an giấc ngàn thu
Vẫn kế thừa giống nòi luôn bất khuất,

Nay yêu chúc Đà Nẵng dịch tan mất
Mọi sinh hoạt sớm trở lại bình thường
Cho tôi bày tỏ trăm mến nghìn thương
ĐẾN QUÊ HƯƠNG NÊN THƠ .. HẰNG ƯU ÁI!

(Sài Gòn, sáng 12/08/2020.) N.L

ANH MUỐN VỀ ĐÀ NẴNG VỚI EM…

Thơ: Trần Lộc

Anh muốn về Đà nẵng với em ngay
Nhớ Cù Lao những ngày trời xanh biếc
Nắng vàng ươm sóng gọi mời tha thiết
Gió miên man mãi miết ngắm biển ru

Thương Sông Hàn lặng lẽ đón mùa thu
Dòng lững lờ suy tư về ngày ấy
Khi dịch SARS còn chưa bùng trở lại
Bên Cầu Rồng rực mãi ánh pháo hoa

Quên sao được nụ hôn thắm Bà Nà
Chiều hoàng hôn qua Cầu Vàng dạo bước
Giữa mây trời trao nhau lời hẹn ước
Vãn cảnh chùa Non Nước – Ngũ Hành Sơn

Mỹ Khê ơi, xin em đừng dỗi hờn
Anh sẽ gửi ngọn gió phơn dập dịch
Trả lại biển những ngày vui thỏa thích
Sóng lại cười…ta phấn khích bên nhau

Đà Nẵng ơi, thương lắm…những ngày đau
COVD kia, ngươi hãy mau dừng lại
Để biển Nam Ô của em xanh mãi
Cho Sơn Trà chẳng phai nhạt màu thu.

Ninh Bình, 14.8.2020

ĐÀ NẴNG YÊU THƯƠNG.

Thơ: NGA LÊ

Phòng Cưới chưa kịp thơm mùi hạnh phúc
Ba lô trên vai em hối hả lên đường
Chia tay anh với muôn nỗi nhớ thương
Tạm xa nhé! Tổ Quốc đang vẫy gọi

Anh đừng buồn khi cơn mưa ập tới
Đóng cửa phòng cho bớt lạnh nghe anh
Em ra đi vì trách nhiệm của mình
Người chiến sĩ có bao giờ lùi bước

Trận tuyến âm thầm không vang tiêng súng
Dịch bệnh hoành hành lặng lẽ giết dân ta
17 con người nằm xuống xót xa
Cái chết âm thầm lây lan COVID

Đất Quảng Nam hiền hòa yêu mến
Biển mênh mông Đà Nẵng sóng xô bờ
Cây cầu Vàng đẹp tựa một vần thơ
Giờ dịch bệnh trở nên buồn vắng vẻ

Quyết chung tay cùng Quảng -Đà chia sẻ
Kểt đoàn vào gánh đỡ những khó khăn
Mầu áo trắng chúng em đâu quản ngại ngần
Cùng đồng nghiệp để sớt chia vất vả

Nắng bừng lên Việt Nam mình rực rỡ.
Đón Thu vàng trong chiến thắng vinh quang
Em và anh mình sẽ đến Cầu Vàng
Nơi hạnh phúc đôi ta hằng mơ ước.

Ngày 13/8/2020.

Đà Nẵng thương yêu

Thơ: Phạm Thị Hồng Thu

Thương quá Đà Nẵng ơi!

Tin dịch cứ dập dồn
Xót những người ra đi trong lặng lẽ
Thương bao người tận tâm vì nghĩa cả

Bao đêm ngày ròng rã với cô vi

Đà Nẵng anh hùng trong hai cuộc trường kì
Lòng yêu nước vẫn ngời trong ánh mắt
Kẻ thù này dẫu hiểm nguy dấu mặt

Đà Nẵng kiên cường luôn mạnh mẽ tiến công

Cả nước đồng lòng cùng Đà Nẵng xung phong
Sức của sức người luôn sẵn sàng có mặt
Đà Nẵng ơi, thực hiện cho nghiêm ngặt

Dẫu tàng hình Covid phải bó tay

Ngày bình yên Đà Nẵng sắp rồi đây
Thành phố đáng sống lại càng thêm đáng sống
Khắp năm châu về Đà Nẵng thơ mộng

Để trọn đời yêu Đà Nẵng dấu yêu

Đà Nẵng ơi, thương nhớ rất rất nhiều!…

TỰ HÀO ĐÀ NẴNG

Thơ: Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Thương sao dải đất miền Trung
Chan chan nắng cháy, một vùng bão dông.

Đã từng chiến đấu lập công
Ngoại xâm đánh bại, gió dông vững vàng.

Hôm nay Đà Nẵng hiên ngang
Đồng lòng chống dịch chẳng màng nguy nan.

Đánh cho COVID tiêu tan
Cầu Rồng sẽ lại ngập tràn niềm vui

Cả nước chia ngọt sẻ bùi
Cùng với Đà Nẵng đẩy lùi COVID.

Đà Nẵng anh dũng kiên trì
Đánh giặc COVID cũng vì toàn dân.

Sông Hàn dòng nước trong ngần
Sạch bóng COVID nhân dân vui mừng.

Tự hào Đà Nẵng kiên trung
Tới ngày thắng dịch tưng bừng hoan ca.

12/8/2020

CÁCH LY.

Thợ: Lê Bá Mân

Cách ly lại phải cách ly.
Vợ chồng tạm biệt người đi nghẹn lời.
COVID không biết ai mời.
Đà Nẵng nó đến không dời gót đi.
Lây lan nó lây tức thì.
Bao nhiêu người nhiễm làm gì giờ đây.
Cách ly mau cách ly ngay.
Y tá ,bác sĩ đêm ngày tiến công.
Quyết tâm chiến đấu đồng lòng.
Đuổi giặc COVID trông mong an bình.
Vẫy tay từ giã gia đình.
Vào trong bệnh viện hết mình vì dân.
Ra đi chẳng chút phân vân.
Đó là mệnh lệnh lòng nhân chẳng từ.
Cách ly mười bốn ngày ư.
Chứ lâu hơn nữa chẳng từ nan chi.
Tuyến đầu chống dịch gan lỳ.
Mới mong chiến thắng đuổi đi gian tà.
Đuổi cho hết CORONA.
Nhân dân yên ổn hoan ca thái bình.

ĐÀ NẴNG ƠI, HÃY VỮNG TIN CHIẾN THẮNG!

Tác giả: Phạm Hồng Soi

Đà Nẵng ngày nào nay vóc dáng hanh hao
Thành phố ngọt ngào bao người mơ ước
Được ghé đến thăm chiêm ngưỡng nơi này
Cầu Vàng
Bà Nà Hills
Bãi biển Mỹ Khê
Biển An Bàng
Ký ức Hội An Show
Suối khoáng thần tài….
Và rất nhiều điểm hẹn…đang rơi vào tâm dịch
Cuộc chiến lần này đến khi nào về đích
Đà Nẵng gồng mình dập dịch lây lan

Những ngày qua nhân loại lệ chứa chan
Có những quốc gia trắng khăn tang tiễn người xấu số
Lạnh lẽo bi thương trùm lên bao tấm mộ
Kẻ mất, người còn giọt đắng đót cay

Chiến dịch lần này cả nước chung tay
Đà Nẵng ơi! hãy vững tin chiến thắng
Bác sỹ, bộ đội, công an…biết bao người đang hy sinh thầm lặng
Đêm đêm căng mình vì Đà Nẵng mến yêu!

Phú Quốc, 15.8.2020

ĐỪNG BUỒN ĐÀ NẴNG ƠI

Thơ: Nguyễn Đình Hưng

Thương về Đà Nẵng mấy tuần nay
Bệnh dịch bùng lên phá đất này
Du lịch, làm ăn đình đốn cả
Bình yên bỗng chốc bị lung lay.

Đau lòng số nhiễm đã hàng trăm(*)
Ốm, chết cô đơn cấm viếng thăm
Bệnh viện đương thời kham quá sức
Tiên Sơn hóa viện đón người nằm

Phòng dịch lây lan phải cách ngăn
Từng nhà gắn phiếu sắm đồ ăn
Kỳ thi tốt nghiệp đành phanh lại
Đời sống mưu sinh quá nhọc nhằn.

Đừng buồn Đà Nẵng mến yêu ơi
Cả nước chung tay sẽ chẳng rời
Tổ chức, doanh nhân luôn góp sức
Cô vi chắc chắn sẽ toi đời

Ta lại về thăm khắp mọi nơi
Sông Hàn pháo sáng tỏa lưng trời
Bà Nà nhộn nhịp chào du khách
Hạnh phúc, bình an, ắp tiếng cười./.

Hà Nội, ngày 12/8/2020

Chú giải: (*) tính từ ngày 25/7 đến hết ngày 12/8/2020 số nhiễm Sars- Cov -2 có liên quan tới Đà Nẵng là 419 người và chết là 17 người.

HỌA COVID

Thơ Sơn Nữ

Loài Covid mày quả là bất trị
Mày làm cho Âu, Mỹ cũng nháo nhào
Từ Á, Phi đến Úc phải lao đao
Mày bí hiểm chưa thuốc nào chữa được

Cùng Đà Nẵng và khắp nơi trong nước
Kiểm soát mày từng bước khỏi lây lan
Mấy tháng qua đang ở ngưỡng an toàn
Mày trở lại mày phá tan mọi thứ…

Cả thế giới đã vô cùng giận dữ
Đang tìm đường để trừ khử mày đây
Mày nhởn nhơ, mày còn sống mỗi ngày
Là họa cứ chồng chất đầy lên mãi

Mày hiểm ác, mày đến rồi gây hại
Mày tác oai, tác quái vẫn chưa dừng
Mấy trăm ngàn người… mày cứ dửng dưng
Mày đâu đến..? mà kín bưng như thế?

Họa Covid quả là không đếm xuể
Cả về người, về kinh tế chưa thôi
Khắp toàn cầu vẫn bùng phát nơi nơi
Cả thế giới như đang ngồi trên lửa.

SƠN NỮ 12/8/2020

GỬI NHỚ VỀ ĐÀ NẴNG

Thơ Trang Thanh Xuân

Tấm lòng mãi hướng về Đà Nẵng
Nghe chạnh buồn sâu lắng hồn đau
Quê hương một thuở đẹp giàu
Cầu mong dịch bệnh chóng mau đẩy lùi

Nhìn quang cảnh ngậm ngùi chua xót
Thương bao người đắng đót vì đâu
Thê lương ảm đạm âu sầu
Nghẹn ngào nức nở dòng châu nghẹn ngào

Mai hạnh phúc thỏa bao ngày đợi
Dòng sông Hàn chở tới yêu thương
Cầu Rồng sáng rực phố phường
Tay chung tay dệt ngát hương tình đời.

19/8/2020

ĐÀ NẴNG TRONG TRÁI TIM TA

Thơ: Hồng Ngoãn

Lòng thật buồn khi khúc ruột miền Trung

Đà Nẵng đó ta vô cùng yêu dấu

Tai ương đến nơi đất lành chim đậu

Covid về khiển ruột nẫu tim đau…

Cầu Rồng ơi còn mãi tới ngàn sau

Mang khát vọng vươn mình ra biển lớn

Như ngọn lửa mang trong mình cuồn cuộn

Gói trong lòng huyền thoại Ngũ Hành Sơn

Bà Nà Hils huyền ảo với khói sương

Cùng mây gió ngỡ lạc đường tiên cảnh

Một ngày mang cả bốn mùa ấm lạnh

Du khách về không tránh khỏi ngất ngây

Biển Mỹ Khê quyến rũ đến mê say

Nơi sóng xanh vỗ đêm ngày cát trắng

Rừng dương xanh đứng bên bờ thầm lặng

Về Mỹ Khê ta gột rửa bụi trần …

Đà Nẵng bây giờ không rộn rã bước chân

Bởi dịch dã đang âm thầm len lỏi

Vẫn gồng mình quyết ngày đêm chống chọi

Mong yên bình nhanh về với nơi đây

Cả nước đồng lòng dang rộng vòng tay

Cùng Đà Nẵng đánh bay loài covid

Khúc ruột miền Trung lại tưng bừng náo nhiệt

Ta lại về trong mộng ước bình yên .

Thành phố mùa dịch cúm

Thơ Bình Địa Mộc

Con đường giảm bớt người đi

Dấu chân thưa giẫm sân si giật mình

Ngã tư đèn đỏ lặng thinh

Nghe hơi thở gấp chùng chình khẩu trang

Vạch sơn trắng kẽ ngổn ngang

Bước dờn dợn sóng vỗ tràn canh trưa

Giò phong lan khẻ đong đưa

Mái hiên vắng tiếng nhạc vừa nỉ non

Giọt cà phê nhỏ đá mòn

Soi đôi mắt hỉ nộ còn lơ mơ

Ngón tay hiệp ước mù mờ

Mặt bàn vuông vẽ ngọn cờ cồng chiên

Phố buồn âm bản sầu riêng

Dưới hàng cây lá thung thiêng xanh rờn

Nóc nhà đóng thuế cô đơn

Cả sương gió lạnh buốc bờn bợt da

Giấu vào góc khuất dân ca

Búp sen nhú ngực bà ba phập phồng

Cửa đôi cánh mở những mong

Đi đâu rồi cũng kịp vòng bờ đê

Em tay mắc võng cơn mê

Đưa tôi lạc giữa bộn bề phồn hoa

Thành phố mùa dịch xuýt xoa

Tấm lòng từ thiện vỡ òa nhân sinh

Sài Gòn, 04.2020

Khẩu trang 

Khẩu trang che má em hồng

Trưa chang chang nắng đợi chồng chồng xa

Đường đời tấp nập phù hoa

Đường em người cũng bôn ba mất rồi

Ngó theo tội nghiệp bờ môi

Định kêu đứng lại lại thôi đứng nhìn

Khẩu trang che kín khẩu hình

Nói câu gì cũng giật mình sợ sai

Im lặng sợ sắc tàn phai

Dung nhan vốn dĩ một hai xuân thì

Cơ mà em cứ ỷ y

Trái tim có cách nói khi nó cần

Khẩu trang che kín khẩu phần

Chỗ thời gian gặm nhấm dần già nua

Một chiều cả gió nô đùa

Lãng quên sợi tóc bạc mùa yêu đương

Bàn tay vẫy giữa vô thường

Mới hay phấn nhạt son nhường nhòa son

Khẩu trang bịt kín lối mòn

Bên kia cầu khúc cua còn quanh co

Bên nầy xe cộ vòng vo

Biết về đâu những ngày vò võ đau

Đường đời kẻ trước người sau

Khẩu trang che kín mặt nhau thấy gì?

Sài Gòn, 4.2020

Cách ly

Trong nhà chỉ có mình em

Bác hàng xóm cũng chẳng thèm qua chơi

Ngoài sân chiếc lá kiệm lời

Nằm nghe cơn gió di dời tháng Tư

Bên kia sông vắng dường như

Không đi đâu cũng không từ đây đi

Bữa cơm đôi đũa rù rì

Đĩa rau muống luộc kiểu gì cũng ngon

Bên này sông mẹ ru con

Lời ru dìu dặt nước non bời bời

Đồng sâu rị rách áo tơi

Lưng chừng dốc ngã nón cời cả che

Bây giờ ai kể em nghe

Sân ga vắng khách bến xe thưa người

Sạp hoa thiếu một bông tươi

Một cô dâu một nụ cười lung linh

Bây giờ chỉ có một mình

Em chờ điện thoại tự tình của anh

Bác hàng xóm cũng phong thanh

Lén nghe em lại loanh quanh chuyện gì?

Sài Gòn, 4.2020

Tất cả đều có một ước mong truyền tới niềm lạc quan tới người dân Đà Nẵng đang gồng mình chống dịch và gửi lời tri ân tới những bác sỹ, y tá, chiến sĩ, cán bộ… đang chung tay giúp sức đưa thành phố biển vượt qua đợt dịch bệnh này.

Tết Tự Thuật

Tết Tự Thuật

Tết Tự Thuật (Tản Đà)

(Khi An Nam tạp chí còn ở Hàng Lọng)

Năm xưa tết nhất đã suông suồng!
Tết nhất năm nay lại quá tuồng!
Tiếng pháo nghe nhờ thiên hạ đốt
Cờ vàng dấu đỏ, đế vương suông

(An Nam tạp chí số 7, 1926)

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Tết Tự Thuật” của tác giả Nguyễn Khắc Hiếu. Thuộc danh mục Thơ Tản Đà trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Victor Hugo – Cây bút văn thơ vĩ đại của thế giới P2

Văn thơ Victor Hugo với nhiều chủ đề khác nhau  mang tính đạo đức và chính trị của cùng với những kiệt tác văn học đã đưa ông trở thành gương mặt nổi bật của thời đại. Cùng chúng tôi tham khảo các tập thơ nổi tiếng của ông nhé.

Nội Dung

Ngày 13-3-1871, con trai 44 tuổi của tác giả là Charles mất, ít lâu sau vợ của Charles cũng qua đời. Tác giả trở thành người chăm nuôi các cháu Georges và Jeanne Hugo. Tập thơ bao gồm các tác phẩm ông viết trong những năm cuối đời.

Bruxelles. – Nuit du 27 Mai
Je regardai.
Je vis, tout près de la croisée,
Celui par qui la pierre avait été lancée;
Il était jeune; encor presque un enfant, déjà
Un meurtrier.

Jeune homme, un dieu te protégea,
Car tu pouvais tuer cette pauvre petite!
Comme les sentiments humains s’écroulent vite
Dans les coeurs gouvernés par le prêtre qui ment,
Et comme un imbécile est féroce aisément!
Loyola sait changer Jocrisse en Schinderhanne,
Car un tigre est toujours possible dans un âne.
Mais Dieu n’a pas permis, sombre enfant, que ta main
Fit cet assassinat catholique et romain;
Le coup a manqué. Va, triste spectre éphémère,
Deviens de l’ombre. Fuis! Moi, je songe à ta mère.
Ô femme, ne sois pas maudite! Je reçois
Du ciel juste un rayon clément. Qui que tu sois,
Mère, hélas ! quel que soit ton enfant, sois bénie!
N’en sois pas responsable et n’en sois pas punie!
Je lui pardonne au nom de mon ange innocent!
Lui-même il fut jadis l’être humble en qui descend
L’immense paradis, sans pleurs, sans deuils, sans voiles,
Avec tout son sourire et toutes ses étoiles.
Quand il naquit, de joie et d’amour tu vibras.
Il dormait sur ton sein comme Jeanne en mes bras;
Il était de ton toit le mystérieux hôte;
C’était un ange alors, et ce n’est pas ta faute,
Ni la sienne, s’il est un bandit maintenant.
Le prêtre, infortuné lui-même, et frissonnant,
À qui nous confions la croissance future,
Imposteur, a rempli cette âme d’imposture;
L’aveugle a dans ce coeur vidé l’aveuglement.
À ce lugubre élève, à ce maître inclément
Je pardonne; le mal a des pièges sans nombre;
Je les plains; et j’implore au-dessus de nous l’ombre.
Pauvre mère, ton fils ne sait pas ce qu’il fait.
Quand Dieu germait en lui, le prêtre l’étouffait.
Aujourd’hui le voilà dans cette Forêt-noire,
Le dogme! Ignace ordonne; il est prêt à tout boire,
Le faux, le vrai, le bien, le mal, l’erreur, le sang!
Tout! Frappe ! il obéit. Assassine! il consent.
Hélas ! comment veut-on que je lui sois sévère ?
Le sommet qui fait grâce au gouffre est le Calvaire.
Mornes bourreaux, à nous martyrs vous vous fiez;
Et nous, les lapidés et les crucifiés,
Nous absolvons le vil caillou, le clou stupide;
Nous pardonnons. C’est juste. Ah! ton fils me lapide,
Mère, et je te bénis. Et je fais mon devoir.
Un jour tu mourras, femme, et puisses-tu le voir
Se frapper la poitrine, à genoux sur ta fosse!
Puisse-t-il voir s’éteindre en lui la clarté fausse,
Et sentir dans son coeur s’allumer le vrai feu,
Et croire moins au prêtre et croire plus à Dieu!
Ta mải nhìn. Bỗng gần ngã ba
Một hòn đá lớn quăng vụt qua
Tên ném đá còn như thằng nhóc
Ly nữa là giết cháu Jan ta

Cậu bé! Hẳn được thần linh phù hộ
Nếu không, cháu ta giờ đã yên trong mộ!
Mới biết tình người sụp đổ rất mau
Trong trái tim mà thầy tu dối trá đỡ đầu
Mới biết kẻ ngu dễ thành hung hãn!
Thánh Loay-ô-la có phép màu biến tên hề thành tàn nhẫn
Bởi con lừa luôn có nguy cơ hoá chúa núi rừng
Cậu bé tối tăm! Chúa lòng lành chẳng thể ưng
Để bàn tay ngươi nhúng vào tội ác
Ngươi ném trượt. Hỡi bóng ma thoáng hiện, bước ngay chỗ khác
Ngươi hãy là bóng đêm. Biến ngay. Ta nghĩ tới mẹ ngươi
Hỡi bà mẹ, với bà không ai nỡ tâm nguyền rủa nặng lời!
Từ trời đất công minh, ta nhận được ánh quang dung thứ
Dù bà là ai, con bà ra sao, ta vẫn vì bà mà cầu Chúa!
Nhân danh thiên thần trong trắng cháu ta
Ta tha thứ cho thằng con quý nhà bà!
Trước đây, nó cũng là sinh linh hèn mọn
Mang xuống cõi trần một thiên đường mênh mông không lệ, không tang, không khăn mạng
Cùng với nụ cười và trọn trời sao
Khi bé con ra đời, lòng yêu thương vui sướng dạt dào
Bà ru con, như trong tay cháu Jan ta vẫn ngủ
Trong nhà bà lúc đó, nó là người khách mang ẩn số
Khi ấy nó là thiên thần
Hay bây giờ suýt thành kẻ sát nhân
Lầm lỗi đâu ở nó?
Lầmm lỗi ở bà ư? Đâu có!
Gã tu hành được trao thế hệ tương lai
Cũng là người bất hạnh sợ run hoài
Quen lừa phỉnh, y dạy con bà lừa phỉnh
Tên mù quáng làm tim con bà cạn sạch ngại ngần suy tính
Ta tha thức cho cả thầy trò nghiệt ngã thảm sầu
Điều ác thiếu chi cạm bẫy nhiệm mầu
Ta thương chúng và cầu xin bóng râm ngự trên trần giới
Bà mẹ đáng thương ơi, con bà đâu biết việc mình làm là tội lỗi
Chúa gieo mầm trong trẻ, kẻ tu hành đã triệt mầm liền
Thấy không, còn bà lạc lõng chốn Rừng-đen
Ôi giáo lý! Thánh I-nhát phán truyền, con bà sẵn sàng uống tất
Thật, giả, sai lầm, máu đỏ và những điều thiện ác!
Đánh tất cả! Nó làm theo. Giết người đi! Nó thừa hành
Ôi! Ta nghiệt với nó sao đành?
Đỉnh tha thứ cho vực thẳm là nơi Chúa bị đóng đinh vì truyền giáo
Lũ đao phủ tối tăm, bay rình mò người tuẫn đạo
Còn chúng ta, bị đóng đinh hay bị ném càn
Chúng ta tha cho chiếc đinh ngớ ngẩn, cho hòn đá thấp hèn
Chúng ta tha thyứ. Vâng, đúng thế. Con bà ném trộm
Ta vẫn cầu cho bà. Phận ta giữ trọn
Mong một ngày kia bà sẽ thấy, lúc lìa trần
Bên nấm mồ con bà đấm ngực, quỳ lê sám hối ăn năn!
Mong ánh sáng giả trong y rồi sẽ tắt
Trong tim y sẽ bùng lên tia lửa thật
Y giảm tim gã tu hành để tin Chúa nhiều hơn!

Le pot cassé
Ô ciel! toute la Chine est par terre en morceaux!
Ce vase pâle et doux comme un reflet des eaux,
Couverts d’oiseaux, de fleurs, de fruits, et des mensonges
De ce vague idéal qui sort du bleu des songes,
De ce vase unique, étrange, impossible, engourdi,
Gardant sur lui le clair de lune en plein midi,
Qui paraissait vivant, où luisait une flamme,
Qui semblait presque un monstre et semblait presque une âme,
Mariette, en faisant la chambre, l’a poussé
Du coude par mégarde, et le voilà brisé!
Beau vase! Sa rondeur était de rêves pleine,
Des bœufs d’or y broutaient des prés de porcelaine.
Je l’aimais, je l’avais acheté sur les quais,
Et parfois aux marmots pensifs je l’expliquais.
Voici l’Yak; voici le singe quadrumane;
Ceci c’est un docteur peut-être, ou bien un âne;
Il dit la messe, à moins qu’il ne dise hi-han;
Ça c’est un mandarin qu’on nomme aussi kohan;
Il faut qu’il soit savant, puisqu’il a ce gros ventre.
Attention, ceci, c’est le tigre en son antre,
Le hibou dans son trou, le roi dans son palais,
Le diable en son enfer; voyez comme ils sont laids!
Les monstres, c’est charmant, et les enfants le sentent.
Des merveilles qui sont des bêtes les enchantent.
Donc, je tenais beaucoup à ce vase. Il est mort.
J’arrivai furieux, terrible, et tout d’abord:
— Qui donc a fait cela? criai-je. Sombre entrée!
Jeanne alors, remarquant Mariette effarée,
Et voyant ma colère et voyant son effroi,
M’a regardé d’un air d’ange, et m’a dit: — C’est moi.

Trời! Cả xứ Giang Tây giờ trăm mảnh!
Trên nền gạch, bình vỡ tan tành!
Khi dọn buồng, Mari vô tình đụng mạnh
Chiếc bình mờ dịu như ánh nước xanh
Chiếc bình vẽ chim muông, hoa quả, và những điều bịa đặt
Rút từ ý mơ hồ những giấc mơ tím ngát
Chiếc bình vô song, lạ kỳ, vô lý, đẫn đờ
Toả ánh trăng vào lúc đang trưa
Bình dường đang sống, đang bừng lửa cháy
Gần như một linh hồn, lại gần như ma quái
Bình tuyệt đẹp! Nét cong đầy giấc mơ
Những bò vàng gặm đồng cỏ sứ mờ
Tôi thích nó và mua tại hiệu bên sông lớn
Đây là đại bàng, đây là khỉ bốn tay
Cái này có lẽ là ông tiến sĩ, hay con lừa đây
Y giảng đạo hay làm trò gì đó
Cái này là viên quan cũng gọi là cu-an, âm rất lố
Chắc y là bác học vì có bụng phình
Chú ý, đây con hổ trong hang một mình
Con cú trong tổ, tên vua nơi lâu đài tráng lệ
Con quỷ trong địa ngục, quả chúng nom xấu tệ!
Quái vật thật mê ly, bọn trẻ cũng hiểu lờ mờ
Chúng thích những con quái là động vật to
Vậy thì tôi quý chiếc bình lắm lắm!
Giờ nó đã ra ma! Tôi hầm hầm quát mắng:
“Ai làm vỡ!” Quả là căng thẳng!
Nhận thấy Mari sợ hết hồn
Mà tôi thì giận dữ tới mất khôn
Jeanne nhìn tôi, thiên thần nơi ánh mắt:
“Cháu! Cháu xin ông!”

Georges et Jeanne (extrait)
Moi qu’un petit enfant rend tout à fait stupide,
J’en ai deux; George et Jeanne; et je prends l’un pour guide
Et l’autre pour lumière, et j’accours à leur voix,
Vu que George a deux ans et que Jeanne a dix mois.
Leurs essais d’exister sont divinement gauches;
On croit, dans leur parole où tremblent des ébauches,
Voir un reste de ciel qui se dissipe et fuit;
Et moi qui suis le soir, et moi qui suis la nuit,
Moi dont le destin pâle et froid se décolore,
J’ai l’attendrissement de dire: Ils sont l’aurore.
Leur dialogue obscur m’ouvre des horizons;
Ils s’entendent entr’eux, se donnent leurs raisons.
Jugez comme cela disperse mes pensées.
En moi, désirs, projets, les choses insensées,
Les choses sages, tout, à leur tendre lueur,
Tombe, et je ne suis plus qu’un bonhomme rêveur.
Je ne sens plus la trouble et secrète secousse
Du mal qui nous attire et du sort qui nous pousse.
Les enfants chancelants sont nos meilleurs appuis.
Je les regarde, et puis je les écoute, et puis
Je suis bon, et mon coeur s’apaise en leur présence;
J’accepte les conseils sacrés de l’innocence,
Je fus toute ma vie ainsi; je n’ai jamais
Rien connu, dans les deuils comme sur les sommets,
De plus doux que l’oubli qui nous envahit l’âme
Devant les êtres purs d’où monte une humble flamme;
Je contemple, en nos temps souvent noirs et ternis,
Ce point du jour qui sort des berceaux et des nids.

Một cháu đủ làm tôi thành ngốc
Tôi có hai: Cháu Georges, cháu Jeanne
Jeanne mười tháng, Georges hai năm
Một làm hướng đạo, một làm đèn soi
Khi các cháu gọi tôi, tôi đến
Đường tuổi thơ tập tễnh chơi vơi
Bi bô nói chửa nên lời
Tưởng trong lời nói mảng trời đang tan
Tôi là buổi chiều tàn bóng tối
Số phận đang lạnh tái, mờ phai
Lòng vui khi được cất lời:
Các cháu là ánh mặt trời hừng đông!
Lời các cháu, tuy không nghe rõ
Làm cho tôi thấy mở chân trời
Nghe ra hợp ý hiểu lời
Mà lòng tôi thấy thảnh thơi nhường nào!
Bao ý nghĩ, ước ao, suy tính
Dù đúng sai, cũng biến thành tro
Dưới tia sáng dịu tuổi thơ
Ông già mơ mộng, thẫn thờ là tôi
Mặc số phận cuộc đời oan trái
Tôi chẳng còn nhiều nỗi bi ai
Các cháu tuy bước chơi vơi
Lại là chỗ dựa tuyệt vời cho tôi
Nhìn các cháu, nghe lời chúng nói
Hồn thơ ngây đem lại lời khuyên
Đời tôi trở lại bình yên
Tâm hồn thanh thản, con tim hiền hoà
Dù ở đỉnh vinh quang tột bậc
Hay ở trong tang tóc thương đau
Bao giờ vơi được sầu bi
Như là ông cháu bên nhau lúc này
Hồn các cháu ngây thơ trong trắng
Bừng lên như tia nắng dịu êm
Tôi nhìn trong lúc tối đen
Vầng hồng mọc tự tổ chim nôi người

La sieste
Elle fait au milieu du jour son petit somme;
Car l’enfant a besoin du rêve plus que l’homme,
Cette terre est si laide alors qu’on vient du ciel!
L’enfant cherche à revoir Chérubin, Ariel,
Ses camarades, Puck, Titania, les fées,
Et ses mains quand il dort sont par Dieu réchauffées.
Oh! comme nous serions surpris si nous voyions,
Au fond de ce sommeil sacré, plein de rayons,
Ces paradis ouverts dans l’ombre, et ces passages
D’étoiles qui font signe aux enfants d’être sages,
Ces apparitions, ces éblouissements!
Donc, à l’heure où les feux du soleil sont calmants,
Quand toute la nature écoute et se recueille,
Vers midi, quand les nids se taisent, quand la feuille
La plus tremblante oublie un instant de frémir,
Jeanne a cette habitude aimable de dormir;
Et la mère un moment respire et se repose,
Car on se lasse, même à servir une rose.
Ses beaux petits pieds nus dont le pas est peu sûr
Dorment ; et son berceau, qu’entoure un vague azur
Ainsi qu’une auréole entoure une immortelle,
Semble un nuage fait avec de la dentelle;
On croit, en la voyant dans ce frais berceau-là,
Voir une lueur rose au fond d’un falbala;
On la contemple, on rit, on sent fuir la tristesse,
Et c’est un astre, ayant de plus la petitesse;
L’ombre, amoureuse d’elle, a l’air de l’adorer;
Le vent retient son souffle et n’ose respirer.
Soudain, dans l’humble et chaste alcôve maternelle,
Versant tout le matin qu’elle a dans sa prunelle,
Elle ouvre la paupière, étend un bras charmant,
Agite un pied, puis l’autre, et, si divinement
Que des fronts dans l’azur se penchent pour l’entendre,
Elle gazouille… – Alors, de sa voix la plus tendre,
Couvrant des yeux l’enfant que Dieu fait rayonner,
Cherchant le plus doux nom qu’elle puisse donner
À sa joie, à son ange en fleur, à sa chimère:
– Te voilà réveillée, horreur ! lui dit sa mère.

Mỗi ngày Jan ngủ trưa một giấc
Bởi so người lớn, bé cần mơ hơn
Địa cầu xấu xí, mà Jan tới từ trời xanh biếc
Trong mơ, bé tìm gặp lại các nàng tiên
Khi bé ngủ, Chúa sưởi ấm đôi bàn tay xinh xắn
Ôi, ngạc nhiên xiết bao nếu ta được ngắm
Qua giấc nồng thiêng của bé, đầy sắc và âm
Những thiên đường mở trong bóng râm
Những chòm sao lấp lánh nhắc trẻ ngoan hơn
Những hiện hình, những hào quang chói loá
Và khi ánh mặt trời soi êm ả
Khi thiên nhiên trầm lặng lắng nghe
Khi các tổ chim dừng khúc mê ly
Thú đu đưa tạm dừng ở lá cây đa cảm
Thì bé Jan quen ngủ trưa một loáng
Cho mẹ em đôi chút nghỉ ngơi
Dầu là được chăm nom một đoá hồng tươi
Đôi chân trần chập chững đang ngủ yên
Quanh nôi lờ mờ toả ánh thanh thiên
Như hào quang chiếu một người bất tử
Như đám mây thêu ren thanh tú
Nhìn bé ngủ trong chiếc nôi xinh
Ta ngỡ ánh hồng từ bức hoạ nổi danh
Nhìn bé, ta cười, ta nguôi sầu khổ
Bé là ngôi sao, lại thêm là bé
Bóng mát quý Jan, tha thiết đắm say
Gió nín hơi nhìn bé ngất ngây
Bỗng trong chiếc nôi xuềnh xoàng trong trắng
Ánh con ngươi long lanh như buổi sáng
Jan mở mắt, duỗi cánh tay trần
Một chân đụng đậy, rồi chân nữa, đẹp vô ngần
Trên cao xanh, các thiên thần hướng về em để nghe thêm rõ
Tiếng Jan líu lô… Khi ấy, với lòng dịu dàng hơn cả
Trìu mến nhìn bé em Chúa ban rạng rỡ
Tìm tên xinh đẹp nhất để đặt cho Jan
Cho ảo tưởng, cho thiên thần vui sướng ngập tràn
Mẹ nói: Đã dậy hả con, nỗi ưu tư của mẹ!

Jeanne était au pain sec
Jeanne était au pain sec dans le cabinet noir,
Pour un crime quelconque, et, manquant au devoir,
J’allai voir la proscrite en pleine forfaiture,
Et lui glissai dans l’ombre un pot de confiture
Contraire aux lois. Tous ceux sur qui, dans ma cité,
Repose le salut de la société,
S’indignèrent, et Jeanne a dit d’une voix douce:
– Je ne toucherai plus mon nez avec mon pouce;
Je ne me ferai plus griffer par le minet.
Mais on s’est récrié: – Cette enfant vous connaît;
Elle sait à quel point vous êtes faible et lâche.
Elle vous voit toujours rire quand on se fâche.
Pas de gouvernement possible. À chaque instant
L’ordre est troublé par vous ; le pouvoir se détend;
Plus de règle. L’enfant n’a plus rien qui l’arrête.
Vous démolissez tout. – Et j’ai baissé la tête,
Et j’ai dit: – Je n’ai rien à répondre à cela,
J’ai tort. Oui, c’est avec ces indulgences-là
Qu’on a toujours conduit les peuples à leur perte.
Qu’on me mette au pain sec. – Vous le méritez, certe,
On vous y mettra. – Jeanne alors, dans son coin noir,
M’a dit tout bas, levant ses yeux si beaux à voir,
Pleins de l’autorité des douces créatures:
– Eh bien, moi, je t’irai porter des confitures.

Jan bị bố mẹ phạt
Nhốt trong buồng tối tăm
Phải ăn bánh mì nhạt
Vì phạm một lỗi lầm

Tôi bỏ lơi nhiệm vụ
Đến thăm kẻ tội nhân
Tội trạng thật đã rõ
Trong bóng tối, đưa thầm

Cho cháu mứt, một lọ
Trái phép luật rõ ràng
Mọi người có nhiệm vụ
Ở trong nhà, trị an

Đều nổi lên công phẫn
Bé Jan nhẹ nhàng thưa:
“Lấy tay ngoáy mũi bẩn
Từ nay cháu xin chừa

Và không để mèo cắn”
Nhưng người lớn la rầy
Con bé này ranh lắm
Nó biết ông xưa nay

Yếu đuối và nhát, hèn
Khi mọi người giận dữ
Thì ông lại cười lên
Không còn giữ được nữa

Trật tự ở trong nhà
Mỗi lần ông phá vỡ
Chính quyền bỏ lơ là
Không luật lệ nào cả

Không còn gì cản ngăn
Được con bé bất trị
Tất cả ông phá tan
Tôi cúi đầu nhận cả

“Chính cái lối khoan hồng
Như thế, xưa nay dắt
Đến thảm hoạ diệt vong
Của bao nhiêu dân tộc”

Tôi cũng xin chịu phạt
Cho tôi ăn bánh không”
“Như thế cũng đáng thật
Rồi sẽ đến lượt ông”

Bé Jan se sẽ nói
Từ chỗ cháu, với tôi
Ngẩng lên trong bóng tối
Đôi mắt xinh tuyệt vời

Của tuổi thơ dịu hiền
Nhưng mà đầy quyền lực
“Đừng sợ, cháu sẽ đem
Đến cho ông lọ mứt”

L’exilé satisfait
Solitude! silence! oh! le désert me tente.
L’âme s’apaise là, sévèrement contente;
Là d’on ne sait quelle ombre on se sent l’éclaireur.
Je vais dans les forêts chercher la vague horreur;
La sauvage épaisseur des branches me procure
Une sorte de joie et d’épouvante obscure;
Et j’y trouve un oubli presque égal au tombeau.
Mais je ne m’éteins pas; on peut rester flambeau
Dans l’ombre, et, sous le ciel, sous la crypte sacrée,
Seul, frissonner au vent profond de l’empyrée.
Rien n’est diminué dans l’homme pour avoir
Jeté la sonde au fond ténébreux du devoir.
Qui voit de haut, voit bien; qui voit de loin, voit juste.
La conscience sait qu’une croissance auguste
Est possible pour elle, et va sur les hauts lieux
Rayonner et grandir, loin du monde oublieux.
Donc je vais au désert, mais sans quitter le monde.

Parce qu’un songeur vient, dans la forêt profonde
Ou sur l’escarpement des falaises, s’asseoir
Tranquille et méditant l’immensité du soir,
Il ne s’isole point de la terre où nous sommes.
Ne sentez-vous donc pas qu’ayant vu beaucoup d’hommes
On a besoin de fuir sous les arbres épais,
Et que toutes les soifs de vérité, de paix,
D’équité, de raison et de lumière, augmentent
Au fond d’une âme, après tant de choses qui mentent?

Mes frères ont toujours tout mon cœur, et, lointain
Mais présent, je regarde et juge le destin;
Je tiens, pour compléter l’âme humaine ébauchée,
L’urne de la pitié sur les peuples penchée,
Je la vide sans cesse et je l’emplis toujours.
Mais je prends pour abri l’ombre des grands bois sourds.

Oh! j’ai vu de si près les foules misérables,

Les cris, les chocs, l’affront aux têtes vénérables,
Tant de lâches grandis par les troubles civils,
Des juges qu’on eût dû juger, des prêtres vils
Servant et souillant Dieu, prêchant pour, prouvant contre,
J’ai tant vu la laideur que notre beauté montre,
Dans notre bien le mal, dans notre vrai le faux,
Et le néant passant sous nos arcs triomphaux,
J’ai tant vu ce qui mord, ce qui fuit, ce qui ploie
Que, vieux, faible et vaincu, j’ai désormais pour joie
De rêver immobile en quelque sombre lieu;
Là, saignant, je médite; et, lors même qu’un dieu
M’offrirait pour rentrer dans les villes la gloire,
La jeunesse, l’amour, la force, la victoire,
Je trouve bon d’avoir un trou dans les forêts,
Car je ne sais pas trop si je consentirais.

Quạnh hiu! Tĩnh mịch! Ôi, ta thích nơi hoang vắng!
Nơi ấy, rất đỗi hài lòng, tâm hồn dịu lắng
Nơi ấy, ngỡ mình như tia nắng rọi bóng râm
Ta tới rừng sâu tìm nỗi gian truân
Tán lá dày mang đến cho ta
Niềm sống vui và lo sợ mờ ảo bao la
Ta thấy trong rừng lãng quên gần như nấm mộ
Nhưng ta không tắt. Trong đêm ta muốn vẫn là lửa đỏ
Dưới trời xanh, nơi hầm mộ thiêng liêng
Vẫn rung rinh trước gió lộng thiên nhiên
Chẳng gì giảm bớt ở con người kiên nhẫn
Dám thăm dò tận đáy sâu nơi bổn phận
Từ cao nhìn dễ bao trùm; từ xa, dễ trông tường tận
Lương tâm biết tìm lên những đỉnh uy nghiêm
Để lớn thêm và toả sáng xa chốn lãng quên
Ta tìm đến hoang vu nhưng không rời hạ giới

Kẻ mơ mộng không lánh đời, khi chiều tối
Y ngồi im trong miệt rừng sâu
Hay dưới chân vách đá trời chiều
Lặng lẽ suy tư về bát ngát
Sao không hiểu qua bao lớp người ta đã gặp
Nên tìm nơi ẩn dưới tán dày
Và sau bao điều dối trá, đặt bày
Lòng khao khát chân lý, yên bình
Lương tri, ánh sáng và công minh đang tăng lên gấp bội?

Anh em sẽ luôn có tấm lòng ta sôi nổi
Tuy xa xôi, nhưng luôn có mặt, quan chiêm và phán xét mệnh đời
Để hoàn thiện tâm linh con người
Ta nghiêng bình chứa tình thương về nơi dân chúng
Dốc cạn và nạp bình không phút giây hờ hững
Nhưng ta vẫn ẩn nơi rừng to yên tĩnh

Ôi! mắt ta nhìn tận nơi dân chúng bần cùng

Những va chạm, tiếng kêu, sự lăng nhục người sống thuỷ chung
Bao kẻ đe hèn leo trong rối ren loạn xạ
Bọn thẩm phán và bôi nhọ Chúa, nói trắng làm đen
Bao lần ta thấy nét xấu trong vẻ đẹp hồn nhiên
Ác trong thiện, và giả nằm trong thật
Hư vô đã qua cổng khải hoàn cao ngất
Ta đã nhìn bao cảnh cắn xé, mưu hại, trốn xa
Nên giờ đây trong cảnh chiến bại, yếu già
Ta thấy vui mơ màng nơi bóng râm, bất động
Nơi ấy, tim rớm máu, ta ngẫm tối tăm số phận
Nếu một vị thần đem tình yêu, sức mạnh, tuổi trẻ và quang vinh
Đổi nơi ẩn náu này hòng ta trở lại đô thành
Thì theo ta, làm chủ xó rừng còn hay biết mấy
Và chưa chắc ta đã bằng lòng xa nơi nương cậy

La lune
Jeanne songeait, sur l’herbe assise, grave et rose;
Je m’approchai: — Dis-moi si tu veux quelque chose,
Jeanne? — car j’obéis à ces charmants amours,
Je les guette, et je cherche à comprendre toujours
Tout ce qui peut passer par ces divines têtes.
Jeanne m’a répondu: — Je voudrais voir des bêtes.
Alors je lui montrai dans l’herbe une fourmi.
— Vois! Mais Jeanne ne fut contente qu’à demi.
— Non, les bêtes, c’est gros, me dit-elle.

Leur rêve,
C’est le grand. L’Océan les attire à sa grève,
Les berçant de son chant rauque, et les captivant
Par l’ombre, et par la fuite effrayante du vent;
Ils aiment l’épouvante, il leur faut le prodige.
— Je n’ai pas d’éléphant sous la main, répondis-je.
Veux-tu quelque autre chose? ô Jeanne, on te le doit!
Parle. — Alors Jeanne au ciel leva son petit doigt.
— Ça, dit-elle. — C’était l’heure où le soir commence.
Je vis à l’horizon surgir la lune immense.

Chanson (Proscrit, regarde les roses)
Proscrit, regarde les roses;
Mai joyeux, de l’aube en pleurs
Les reçoit toutes écloses;
Proscrit, regarde les fleurs.

– Je pense
Aux roses que je semai.
Le mois de mai sans la France,
Ce n’est pas le mois de mai.

Proscrit, regarde les tombes;
Mai, qui rit aux cieux si beaux,
Sous les baisers des colombes
Fait palpiter les tombeaux.

– Je pense
Aux yeux chers que je fermai.
Le mois de mai sans la France,
Ce n’est pas le mois de mai.

Proscrit, regarde les branches,
Les branches où sont les nids;
Mai les remplit d’ailes blanches
Et de soupirs infinis.

– Je pense
Aux nids charmants où j’aimai.
Le mois de mai sans la France,
Ce n’est pas le mois de mai.

Bài thơ rút từ tập “Les quatre vents de l’esprit”.

Khách ly hương hãy lặng trông
Sương mai
nở cánh bông hồng Tháng Năm
Khách ly hương hãy ngắm trông

Tôi đang tưởng tới
Những bông hồng tôi xới năm xưa
Tháng Năm nước Pháp lìa xa
Thì sao có thể gọi là Tháng Năm

Khách ly hương ngắm mộ phần
Tháng Năm trời sáng thanh tân một màu
Ngắm tình chung thuỷ chim câu
Còn như rung động bề sâu nấm mồ

Tôi đang tưởng vọng
Những người thân khuất bóng khi xưa
Tháng Năm nước Pháp lìa xa
Thì sao có thể gọi là Tháng Năm

Khách ly hương ngắm cành xuân
Tổ chim đầm ấm treo nằm cành mây
Tháng Năm cánh trắng nở đầy
Chim trời than thở trong bầy say sưa

Tôi đang tưởng nhớ
Yêu đương tổ ấm năm xưa
Tháng Năm nước Pháp lìa xa
Thì sao có thể gọi là Tháng Năm

Rencontre d’une belle fagotière
Enfant au teint brun, aux dents blanches,
Ton petit bras derrière toi
Tire un tremblant faisceau de branches.
O doux être d’ombre et d’effroi,

Dans la clairière aux vertes routes,
Tu passes ; nous nous regardons,
Moi, plein de songes et de doutes,
Toi, les pieds nus dans les chardons.

A nous deux, seuls dans la rosée,
Nous ferions sourire un cagot ;
Car, moi, je porte la pensée,
Et toi, tu traînes le fagot.

Em gái da sạm đen, răng trắng
Cánh tay bé nhỏ quắt sau lưng
Kéo lê run rẩy một bó củi
Dịu dàng, em, chiếc bóng của hãi hùng.

Tôi gặp em giữa khoảng rừng trống
Trên con đường bóng cây lồng
Tôi đầy suy nghĩ và tư lự
Em đầy củi gai đi chân không

Chỉ hai chúng tôi trong sương sớm
Chắc làm cười mỉm kẻ tò mò
Tôi mang trong đầu chồng ý nghĩ
Em kéo sau mình đống củi to

Promenades dans les rochers – Troisieme promenade
Le soleil déclinait; le soir prompt à le suivre
Brunissait l’horizon; sur la pierre d’un champ
Un vieillard, qui n’a plus que peu de temps à vivre,
S’était assis pensif, tourné vers le couchant.

C’était un vieux pasteur, berger dans la montagne,
Qui jadis, jeune et pauvre, heureux, libre et sans lois,
À l’heure où le mont fuit sous l’ombre qui le gagne,
Faisait gaîment chanter sa flûte dans les bois.

Maintenant riche et vieux, l’âme du passé pleine,
D’une grande famille aïeul laborieux,
Tandis que ses troupeaux revenaient de la plaine,
Détaché de la terre, il contemplait les cieux.

Le jour qui va finir vaut le jour qui commence.
Le vieux pasteur rêvait sous cet azur si beau.
L’océan devant lui se prolongeait, immense
Comme l’espoir du juste aux portes du tombeau.

Ô moment solennel! Les monts, la mer farouche,
Les vents, faisaient silence et cessaient leur clameur.
Le vieillard regardait le soleil qui se couche;
Le soleil regardait le vieillard qui se meurt.

Bài thơ trên được rút từ tập Bốn hướng gió tinh thần.

Mặt trời xế bóng non đoài
Ráng nâu thoắt phủ chân trời đàng xa
Trên phiến đá, một ông già
Giữa đồng ngồi ngắm chiều tà, trầm ngâm

Chăn cừu ở chốn sơn lâm
Xưa nghèo nhưng sướng, muôn phần tự do
Mỗi khi bóng toả non mờ
Lòng vui thổi sáo chan hoà rừng xanh

Nay ông nghĩ lại đời mình
Về già giàu có gia đình đông vui
Dẫu rằng gần đất xa trời
Vẫn còn cần mẫn sáng ngời tấm gương

Cừu về lững thững trên đồng
Hồn ông siêu thoát theo dòng mây xanh
Hoàng hôn xứng với bình minh
Lão nông ngồi dưới trời xanh mơ màng

Xa xa biển rộng mênh mang
Như là hy vọng Thiên đàng sắp lên!
Này đây giây phút uy nghiêm
Gió ngàn, sóng biển trở nên hiền hoà
Ông già ngắm cảnh chiều tà
Chiều tà ngắm bóng ông già cáo chung

Tenez, mon président
– Tenez, mon président, je vous le dis d’aplomb,
Je trouve, en vérité, que cela devient long.
Cela finit par être un triste dialogue.
Nous faisons à nous deux une lugubre églogue.
Vrai, vous me fatiguez; mon juge du bon Dieu.
Si nous renouvelions la causerie un peu?.
Parlons d’astronomie ou bien d’hippiatrique.
Oui, c’est vrai, je me suis servi de cette trique
Assomme-t-on les gens avec! des éventails?
Quand vous répéterez sans fin tous ces détails?
Après? Bon, j’en conviens, c’est affreux, c’est infâme,
Ce n’est pas bien du tout, j’ai tué cette femme;
Dans l’ombre, en guet-apens, si vous le préférez.
J’ai de ses cheveux blancs à mes souliers ferrés;
On voit ces choses-là dans tous les mélodrames.
Est-ce donc bien joli, mon juge, à dire aux dames?
Nous devrions changer de conversation.
Je l’ai mise en un trou, la belle invention!
Et j’ai pillé la caisse et débouclé la bâche.
Connu. C’est vieux! D’honneur, mon président rabâche;
Il faudrait varier dans l’intérêt de 1’art.
Vous ressassez toujours: – C’était dans le brouillard.
– En décembre.- Au sortir.d’un bois. – Un jour de pluie… –
Eh bien, je vous le dis tout net, cela m’ennuie.
Vous n’avez vraiment pas d’imagination.
Et puis, vous y mettez beaucoup de passion.
Cette femme était vieille et j’étais pauvre. En somme,
Là, ne pourrait-on pas, quand mai réjouit l’homme,
Quand les petits oiseaux chantent au fond du bois,
Quand les champs sont pleins d’ombre et d’amour et de voix,
Et puisque nous voilà dans la saison des roses,
Rire un moment, que diable! et parler d’autres choses! –

Et le juge répond, triste comme la loi

– Ta mère assassinée est là, derrière toi!

Bài thơ trên được rút từ tập “Trọn tiếng đàn”.

– Đây, thưa Ngài chánh án, tôi xin trình bày thẳng thắn
Quả thực tôi thấy câu chuyện kéo dài
Rút cục đối thoại trở nên buồn chán
Quan toà của Chúa, Ngài làm tôi đến nẫu người
Hay là ta đổi đề tài đối thoại?
Bàn tới thiên văn hoặc nghề chữa ngựa
Vâng, đúng, tôi đã dùng chiếc gậy to
Vì ai giết người bằng quạt giấy bao giờ?
Ngài nhắc hoài các tình tiết đó
Rồi sau đấy? Tôi nhận thật là tởm kinh và ghê sợ
Quả là đồi bại, tôi đã giết bà ta
Trong bóng tối, nơi mai phục, nếu Ngài thích tôi bịa ra
Gót giày sắt của tôi dính đầy tóc trắng
Như trong mọi vở tuồng giàu kịch tính
Có phải điều này lý thú để kể cho các bà?
Nhưng hãy nói việc khác, thưa quý quan toà
Tôi chôn bà trong hố; thật là đầy sáng tạo
Tôi đã cướp két tiền, mở bạt che và sục sạo
Biết. Điều ấy đã cũ. Quan toà lảm nhảm viện thanh danh
Vì nghệ thuật, ta nói chuyện muôn vẻ muôn hình
Ngài lải nhải: – Một buổi sương dày đặc
– Một ngày mưa. – Lối cửa rừng. – Vào tháng chạp
Này, thú thật là tôi đã chán rồi
Về trí tưởng tượng, Ngài quả rất tồi
Nhưng mà Ngài lấy thế làm thích thú
Tóm lại, bà ấy đã già, còn tôi thì nghèo khổ
Lúc này đây, niềm vui xuân nở rộ
Tiếng líu lo chim hót rừng hoang
Nơi đồng nội, bóng mát, tình yêu và âm sắc ngập tràn
Cũng là mùa hoa hồng khoe sắc
Quỷ thật! Sao không cười một lát và nói sang chuyện khác

Quan toà phán, vẻ buồn như luật pháp

– Mẹ hiền mà mi đã giết hiện đứng phía sau mi!

Misère
Partout la force au lieu du droit.
L’écrasement Du problème, c’est là l’unique dénoûment.
Partout la faim. Roubaix, Aubin, Ricamarie.
La France est d’indigence et de honte maigrie.
Si quelque humble ouvrier réclame un sort meilleur,
Le canon sort de l’ombre et parle au travailleur.
On met sous son talon l’émeute des misères.
L’Afrique agonisante expire dans nos serres.
Là tout un peuple râle et demande à manger.
Famine dans Oran, famine dans Alger.,
– Voilà ce que nous fait cette France superbe .!
Disent-ils. – Ni maïs, ni pain. Ils broutent l’herbe.
Et l’arabe devient épouvantable et fou.
On rencontre, une femme au fond de quelque trou,
Accroupie, et mangeant avec un air étrange. .
– Qu’est-ce que tu, fais là? . Hé bien, j’ai faim, je mange.
– Ton chaudron sur le feu fume, qu’as-tu dedans?
Ces os, que l’on entend crier entre tes dents,.
Cette chair qu’en grondant ronge ta bouche amère, Qu’est-ce?
C’est un enfant que j’avais, dit la mère.

Les déclamations ne prouvent rien; soyons
Impartiaux; cette ombre est-elle sans rayons?
Vous passez votre à dire que l’on souffre
Partout, et que partout on pleure, et qu’en un gouffre
On gémit, comme un tas d’affamés sur l’écueil,
Et vous criez: Tout est misère et tout est deuil
Tout est misère et deuil?
Quelle erreur- est la vôtre!
Ah çà, vous ne voyez qu’un côté! Voyez l’autre.
Soyons justes. Voyez. Plaisirs, bals, volupté,
Luxe, et l’hiver le Louvre, et Compiègne l’été:
Oui, faites approcher vos vers les plus féroces:
Oseront-ils nier ces palais, ces carrosses,
Ces festins? Est-ce là de la misère enfin?
Est-ce qu’en cette fête éternelle on a faim?
En ‘ne montrant jamais que l’indigence, on triche.
Vous étalez le pauvre, eh ‘bien, voyons ce riche. Qu’en dites-vous?
Parlez. Est-il assez complet?
Il a ce qu’il convoite, il fait ce qui lui plaît.
Ses désirs sont noyés dans le faste lyrique.
Ah! je voudrais bien voir que- votre rhétorique
Contestât cette aisance auguste, et s’escrimât
A prouver que ce luxe est d’un mince format,
Que cette argenterie est reprochable, et manque
Du poids qui la ferait recevoir à la banque,
Que ces, cochers ne sont point gras, que ces jockeys
Montent, mal galonnés, des chevaux peu coquets,
Et que ces millions, ruisselant sur ces tables
En ivresses sans fin, ne sont pas véritables?
Reconnaissez qu’ici l’on ne manque de rien.
On s’est fait tout-puissant pour être épicurien.
On est un homme heureux. C’est doux. Pas de rebelles.
On est le Jupiter d’un Olympe de belles.
On a Biarritz; veut-on varier le tableau?
Après la mer, les bois; on a Fontainebleau.
Chasses, danses, galas, petits jeux sous les.treilles,
Rougissantes beautés sous les grappes vermeilles;
Puis course au bois; on fut en décembre vainqueur,
Et l’on rêve, et l’on sent pénétrer dans son cœur
Le pur soleil des champs, des fleurs, des prés, des vignes,
L’azur des clairs étangs et la blancheur des cygnes.

Khắp nơi, bạo lực thay cho pháp luật
Xoá bỏ nạn này là giải pháp vô song
Nước Pháp gầy đi vì đói nghèo và sỉ nhục
Đói khắp nơi, Roubaix, Ricamarie và Aubin
Nếu công nhân nghèo đòi cải thiện
Thì họng súng từ bóng tối ra sẵn sàng nói chuyện
Gánh nặng khốn cùng đè cổ công nhân
Châu Phi hấp hối đang trút hơi dưới gót Pháp-Lan
Đói ở Alger, đói ở Oran
Cả một dân tộc xin ăn đang nghẹt thở
Họ nói: “Đó công tích nước Pháp-Lan rực rỡ!”
Không ngô, không gạo. Họ gặm cỏ vàng
Người Ả Rập thành kinh khủng và điên gàn
Một thiếu phụ ngồi xổm đáy sâu một hố
Đang ăn với vẻ lạ lùng dễ sợ
– Mụ làm gì đó? – Tôi đói, tôi đang ăn
– Có gì trong chiếc chảo nóng ran?
Thế những xương mụ nhai sào sạo
Và những miếng thịt răng nghiền trệu trạo?
– Đó là xương thịt con tôi đã lìa trần

Ở đây hoa mỹ chẳng ăn nhằm
Cần vô tư; phải chăng bóng đen kia không mang tia sáng?
Các ngươi để hết thời gian nói khắp nơi con người đau đớn
Khắp nơi than khóc, rên rỉ dưới vực sâu
Như lũ đói ăn trên ghềnh đá thảm sầu
Các người kêu: Tất cả đều khốn cùng và tang tóc!
Tất cả đều khốn cùng và tang tóc!
Ôi, sai lầm thảm khốc
Các người chỉ nhìn một phía! Phía khác là đây
Này xem, hãy công bằng! Khoái lạc, vũ hội, thú vui
Xa hoa, dịp đông tới cung Louvre, ở Compiègne mùa nực
Phải chi hướng đúng mục tiêu những vần thơ trung thực
Chúng đâu dám chối những xe ngựa, lâu đài
Tiệc tùng? Đó phải chăng là nghèo khổ ở trần ai?
Phải chăng nơi lễ hội vĩnh hằng con người bị đói?
Vậy nếu chỉ mô tả khốn cùng, các người cam tâm lừa dối
Các người nói kẻ nghèo, vậy thử nghĩ gã giàu sang
Các người nói sao? Y không sung túc đầy tràn?
Y có những gì y muốn, y làm điều y thích
Ước mong của y ngập trong trữ tình tuyệt đích
A! Ta muốn các ngươi dùng lý thuyết
Chối phăng sự sung túc uy nghiêm
Chứng minh rằng xa hoa ấy chỉ mong manh
Rằng châu báu đó xoàng và thiếu đi trọng lượng
Để nhà băng chấp thuận và chuyển nhượng
Rằng những tên xà ích quả gầy nhom
Giô kề cưỡi những con ngựa kém huy hoàng
Rằng bạc triệu chảy trên chiếc bàn say tuý luý
Không là tiền thật đáng phần chú ý
Lao theo vât chất, người ta sống thoả quyền hành
Sung sướng, dịu êm, không kẻ phản mình
Là chúa tể, trong cung đầy mỹ nữ
Người ta có Biarritz, ai muốn rời số đỏ?
Đi biển về, đã có rừng sâu, đã có Fontainebleau
Đi săn, vũ hội, lễ to, trò chơi nhỏ dưới giàn nho
Nhan sắc rực rỡ bên chùm nho đỏ thắm
Rồi đến buổi chơi rừng. Đang tháng mười hai chiến thắng
Người ta mơ, trái tim thấm đượm cảnh rộn ràng
Của mặt trời thanh khiết đồng quê, hoa tươi, nho thắm, cỏ vàng
Hồ xanh trong vắt và thiên nga trắng muốt

Pourquoi les grands hommes sont malheureux?
Une nuit, j’écoutais, seul, parmi des décombres;
Et j’entendis parler les Évènements sombres:

Nous sommes les forgeurs; et les grands hommes sont
Les enclumes que Dieu met dans l’antre profond,
Prêtes au dur travail de créer d’autres races.
Car les hommes sont vils, méchants, lâches, voraces,
Monstrueux, et-le temps est venu de changer.
C’est à force de coups qu’on parvient à forger.
Donc les hommes, sans frein, sans loi, sans coeur, sans flamme,
Sans joie, avaient besoin qu’on leur fit une autre âme,
Et que quelqu’un de grand sur eux étincelât.
Il fallait faire à l’Homme une âme ayant l’éclat,
Le rayon, la puissance et la douceur, une âme
Paternelle à l’enfant, fraternelle à la femme,
Une âme juste. -Un jour, Dieu nous dit: Forgez-leur
Cette âme, et nous donna pour marteau le malheur;
Les grands hommes pensifs étant là, nous conclûmes
Que nous pouvions frapper sur ces sombres enclumes.

Có đêm, một mình, tôi nghe trong đổ nát
Những Biến động lớn lao cất tiếng thì thầm:

– Chúng ta, những thợ rèn, còn các vĩ nhân
Là chiếc đe, Thượng đế người sắp đặt
Để sẵn sàng làm công việc gian nan
Tạo ra một giống loài khác ở thế gian
Bởi con người hiện nay đang sống
Độc ác, dối lừa, xấu xa, hèn kém
Cắn xé nhau vì chút lợi nhỏ nhen
Chẳng luật lệ và không hiểu biết
Chẳng kiềm chế và không biết đến niềm vui
Đã đến lúc rồi. Cần phải đổi thay
Hãy giáng mạnh vào đe
Cho loé lên những gì cao thượng
Mới luyện được con người có tâm hồn toả sáng
Giàu niềm tin và sức mạnh của trái tim
Mang tình cha con với các trẻ em
Và tình anh em với bao phụ nữ
Có ý thức và tràn đầy trí tuệ
Một tâm hồn đúng nghĩa CON NGƯỜI
Thượng đế bảo: Cần rèn ngay ra họ
Chiếc búa ta trao là nỗi đau nhân thế
Buộc các vĩ nhân phải ngẫm nghĩ suy tư
Chúng ta tin: có thể đập mạnh vào đe
Là những vĩ nhân đang ngồi kia trầm mặc

Trọn bộ tác phẩm để đời của nhà văn, nhà thơ Victor Hugo hi vọng sẽ mang đến cho độc giả yêu thơ những giây phút cảm nhận thơ Victor hugo thú vị nhất. Cùng chúng tôi chia sẻ những áng thơ, tập thơ của cây bút văn học vĩ đại người Pháp này nhé.

Top 10 Bài thơ hay của nhà thơ Nguyễn Duy

Top 10 Bài thơ hay của nhà thơ Nguyễn Duy

Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh ngày 7/12/1948 tại xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn, Thanh Hoá. Năm 1966 ông nhập ngũ, trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin. Nguyễn Duy từng tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường Khe Sanh, Đường 9 – Nam Lào, rồi sau này là mặt trận phía Nam, mặt trận phía Bắc (1979). Sau đó ông giải ngũ, làm việc tại tuần báo Văn nghệ, Hội nhà văn Việt Nam và là Trưởng đại diện của báo này tại phía Nam.

Nguyễn Duy làm thơ rất sớm. Tác phẩm đầu tay của ông là bài thơ Trên sân trường viết từ đầu những năm 60, khi còn là một học sinh phổ thông ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá. Nhưng phải mãi đến năm 1973, ông mới thực sự nổi tiếng với chùm thơ đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt Nam. Và cũng bắt đầu từ đấy, chúng ta có Nguyễn Duy, một thi sĩ đặc sắc cuối những năm chiến tranh và lại rực rỡ trong hoà bình. Ông được tặng Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. phongnguyet.info xin giới thiệu những bài thơ hay của ông.

Bài thơ: Tre Việt Nam

Tre Việt Nam

Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh

Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu

Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm

Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre không ở riêng
Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người
Chẳng may thân gãy cành rơi
Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con

Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre
Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu

Mai sau,
Mai sau,
Mai sau…
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh

1970-1972

Nguồn: Nguyễn Duy, Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, 1973

Bài thơ: Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa…

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa…

Thơ Nguyễn Duy

Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

Cái cò… sung chát đào chua…
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm…
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ… mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng

Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương…

Saigon, mùa thu 1986

Nguồn: Nguyễn Duy, Mẹ và Em, Nxb Thanh Hoá, 1987

Bài thơ: Ánh trăng

Ánh trăng

Thơ Nguyễn Duy

Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với biển
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỷ

Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa

Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường

Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn

Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng

Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình

TP. Hồ Chí Minh, 1978

Nguồn: Nguyễn Duy, Ánh trăng, NXB Tác phẩm mới, 1984

Bài thơ: Đò Lèn

Đò Lèn

Thơ Nguyễn Duy

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần
cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm

Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!

9-1983

Bài thơ này được sử dụng làm bài đọc thêm trong chương trình SGK Ngữ văn 12 từ 2007.

Nguồn: Nguyễn Duy, Ánh trăng, Nxb Tác phẩm mới, 1984

Bài thơ: Đánh thức tiềm lực

Đánh thức tiềm lực

Thơ Nguyễn Duy

Tiễn đưa anh S.D. đi làm kinh tế

Hãy thức dậy, đất đai!
cho áo em tôi không còn vá vai
cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn…
xin bắt đầu từ cơm no, áo ấm
rồi thì đi xa hơn – đẹp, và giàu, và sung sướng hơn

Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non
châu báu vô biên dưới thềm lục địa
rừng đại ngàn bạc vàng là thế
phù sa muôn đời như sữa mẹ
sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể
còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào?
lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?

***

Lúc này ta làm thơ cho nhau
đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên…

***

Tôi lớn lên bên bờ bãi sông Hồng
trong màu mỡ phù sa máu loãng
giặc giã từ con châu chấu, con cào cào
mương máng, đê điều ngổn ngang chiến hào
trang sử đất ngoằn ngoèo trận mạc
giọt mồ hôi nào có gì to tát
bao nhiêu đời mặn chát các dòng sông
bao nhiêu thời vỡ đê trắng đất mất đồng
thuyền vỏ trấu mỏng manh ba chìm bảy nổi
khúc dân ca cũng bèo dạt mây trôi
hột gạo nõn nà hao gầy đi vì thiên tai
đói thâm niên
đói truyền đời
điệu múa cổ cũng chậm buồn như đói…

***

Tôi đã qua những chặng đường miền Trung bỏng rát và dai dẳng
một bên là Trường-Sơn-cây-xanh
bên còn lại Trường-Sơn-cát-trắng
đồng bằng hình lá lúa gầy nhẳng
cơn bão chưa qua, hạn hán đổ tới rồi
ngọn cỏ nhọn thành gai mà trốn không khỏi úa
đất nứt nẻ ngỡ da người nứt nẻ
cơn gió Lào rát ruột lắm em ơi!

Hạt giống ở đây chết đi sống lại
hạt gạo kết tinh như hạt muối
cây lúa đứng lên cũng đạp đất đội trời

***

Tôi về quê em – châu thổ sáng ngời
sông Cửu Long giãn mình ra biển
đất cuồn cuộn sinh sôi và dịch chuyển
cây mắm cây tràm lặn lội mở đường đi

Đất tân sinh ngỡ ngọt ngào trên mặt
lòng còn chát chua nào mặn nào phèn
má sung sức và ba cường tráng thế
man mác âu sầu trong câu hát ru em

Đã qua đi những huyền thoại cũ mèm
những đồng lúa ma không trồng mà gặt
những ruộng cá không nuôi mà sẵn bắt
những ghểnh cẳng, vuốt râu mà làm chơi ăn thật
miếng ăn nào không nước mắt mồ hôi!

Ruộng bát ngát đó thôi, và gạo đắt đó thôi
đất ghiền phân vô cơ như người ghiền á phiện
con rầy nâu khoét rỗng cả mùa màng
thóc bỏ mục ngoài mưa thiếu xăng dầu vận chuyển
phà Cần Thơ lê lết người ăn xin
cây đàn hát rong não nề câu vọng cổ
quán nhậu lai rai – nơi thừa thiếu trốn tìm

***

Này, đất nước của ba miền cày ruộng
chưa đủ no cho đều khắp ba miền
ta ca hát quá nhiều về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên…

***

Lúc này tôi làm thơ tặng em
em có nghĩ tôi là đồ vô dụng?
vô dụng lấy đi của cuộc sống những gì
và trả lại được gì cho cuộc sống?

Em có nghĩ tôi là con chích choè ăn và gại mỏ?

Em có nghĩ tôi là tay chuyên sản xuất hàng giả?

Em có nghĩ tôi là kẻ thợ chữ đục đẽo nát cả giấy
múa võ bán cao trên trang viết mong manh?
tình nghĩa nhập nhằng với cái hư danh
tờ giấy chép văn thành tờ giấy bạc

Em có nghĩ…
mà thôi!

***

Xin em nhìn kia – người cuốc đất
(tôi cũng từng chai tay cuốc đất)
cái cuốc theo ta đời này, đời khác
lưỡi cuốc nhỏ nhoi liếm sạch cánh đồng rồi
dướn mình cao
chĩa cuốc lên trời
bổ xuống đánh phập
đẹp lắm chứ cái tạo hình cuốc đất!

Xin em nhìn – người gánh phân, gánh thóc
(tôi cũng từng mòn vai gánh phân, gánh thóc)
kẽo kẹt hai vai một nhịp cầu vồng
đẹp lắm chứ cái tạo hình gồng gánh!

Những cái đẹp thế kia… em có chạnh lòng không?
cái đẹp gợi về thuở ngày xưa ngày xửa
nhịp theo tiết tấu chậm buồn
cái đẹp ấy lẽ ra không nên tồn tại nữa!

Em có chạnh lòng chăng
giữa thành phố huy hoàng bạt ngàn quán nhậu
bỗng hiện lù lù cái xe hơi chạy than
vệt than rơi toé lửa mặt đường

Em có chạnh lòng chăng
xích lô đạp càng ngày càng nghênh ngang
xích lô máy và xe lam chạy dầu vừa nã đại liên vừa phun khói độc
người đi bộ vừa đi vừa nghĩ về tiềm lực
tiềm lực còn ngủ yên…

***

Tôi trót sinh ra nơi làng quê nghèo
quen cái thói hay nói về gian khổ
dễ chạnh lòng trước cảnh thương tâm

Làng tôi xưa toàn nhà tranh vách đất
bãi tha ma không một cái mả xây
mùa gặt hái rơm nhiều, thóc ít
lũ trẻ chúng tôi vầy đất tối ngày

Thuở tới trường cũng đầu trần chân đất
chữ viết loằng ngoằng củ sắn ngọn khoai
thầy giáo giảng rằng
nước ta giàu lắm!…
lớp lớp trẻ con cứ thế học thuộc bài

***

Lúc này
tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa
ta biết buồn để biết lạc quan
và, để nhắn lại sau ta cho lớp lớp trẻ con
(dù sau này dầu mỏ đã phun lên
quặng bô-xít cao nguyên đã thành nồi thành soong
thành tàu bay hay tàu vũ trụ…
dù sau này có như thế… như thế… đi nữa
thì chúng ta vẫn cứ nên nhắn lại)
rằng
đừng quên đất nước mình nghèo!

Lúc này
tôi và em không còn là lũ trẻ con nữa
tuổi thanh xuân trọn vẹn cuộc chiến tranh
sau lưng ta là kỷ niệm bi tráng
trước mặt ta vẫn con đường gập ghềnh
vẫn trang trọng tấm lòng trung thực
dù có thể lỗi lầm – làm thế nào mà biết trước
dù có sao thì cũng phải chân thành

Xưa mẹ ru ta ngủ yên lành
để khôn lớn ta hát bài đánh thức
có lẽ nào người lớn cứ ru nhau
ru tiềm lực ngủ vùi trong thớ thịt

***

Tiềm lực còn ngủ yên
trong quả tim mắc bệnh đập cầm chừng

Tiềm lực còn ngủ yên
trong bộ óc mang khối u tự mãn

Tiềm lực còn ngủ yên
trong con mắt lờ đờ thuỷ tinh thể

Tiềm lực còn ngủ yên
trong lỗ tai viêm chai màng nhĩ

Tiềm lực còn ngủ yên
trong ống mũi khò khè không nhận biết mùi thơm

Tiềm lực còn ngủ yên
trong lớp da biếng lười cảm giác

Năng động lên nào
từ mỗi tế bào, từ mỗi giác quan
cố nhiên cần lưu ý tính năng động của cái lưỡi

***

Cần lưu ý
lời nói thật thà có thể bị buộc tội
lời nịnh hót dối lừa có thể được tuyên dương
đạo đức giả có thể thành dịch tả
lòng tốt lơ ngơ có thể lạc đường

Cần lưu ý
có cái miệng làm chức năng cái bẫy
sau nụ cười là lởm chởm răng cưa
có cái môi mỏng rát hơn lá mía
hôn má bên này bật máu má bên kia
có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa
khái niệm bắn ra không biết lối thu về

Cần lưu ý
có lắm sự nhân danh lạ lắm
mượn áo thánh thần che lốt ma ranh
nhân danh thiện tâm làm điều ác đức
rao vị nhân sinh để bán món vị mình

Cần lưu ý
có lắm nghề lạ lắm
nghề mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau
nghề chửi đổng, nghề ngổi lê, nghề vu cáo
nghề ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồng bào
có cả nghề siêu nghề gọi là nghề không làm gì cả
thọc gậy bánh xe cũng một thứ nghề…

Bộ sưu tập những điều ngang trái ấy
phù chú ma tà ru tiềm lực ngủ mê

***

Tôi muốn được làm tiếng hát của em
tiếng trong sáng của nắng và gió
tiếng chát chúa của máy và búa
tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai
tiếng trần trụi của lưỡi cuốc
lang thang
khắp đất nước
hát bài hát
ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC…

Tp. Hồ Chí Minh 1980-1982

Đoạn đầu bài thơ này được sử dụng trong đề thi tốt nghiệp THPT quốc gia môn Ngữ văn năm 2018.

Nguồn: Nguyễn Duy, Mẹ và Em, NXB Thanh Hoá, 1987

Bài thơ: Hơi ấm ổ rơm

Hơi ấm ổ rơm

Thơ Nguyễn Duy

Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm
Bà mẹ đón tôi trong gió đêm
– Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ
Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ
Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm

Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác gầy gò

Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no
Riêng cái ấm nồng nàn như lửa
Cái mộc mạc lên hương của lúa
Đâu dễ chia cho tất cả mọi người

Bình Lục – một đêm lỡ đường

Nguồn: Nguyễn Duy, Cát trắng, Nxb Quân đội nhân dân, 1973

Bài thơ: Tiếng hát mùa gặt

Tiếng hát mùa gặt

Lúa chín
Đồng chiêm phả nắng lên không
Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng
Gió nâng tiếng hát chói chang
Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời

Gặt lúa
Tay nhè nhẹ chút người ơi
Trông đôi hạt rụng hạt rơi xót lòng
Dễ rơi là hạt đầu bông
Công một nén, của một đồng là đây

Tuốt lúa
Mảnh sân trăng lúa chất đầy
Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình
Rơm vò từng búi rối tinh
Thân rơm rách để hạt lành lúa ơi

Phơi khô
Nắng non mầm mục mất thôi
Vì đời lúa đó mà phơi cho giòn
Nắng già hạt gạo thêm ngon
Bưng lưng cơm trắng nắng còn thơm tho

Quạt sạch
Cám ơn cơn gió vô tư
Quạt đi vù vù rác rưởi vương rơi
Hạt nào lép cứ bay thôi
Gió lên cho lúa sáng ngời mặt gương!

Đông Vệ – vụ chiêm 1971

Nguồn: Nguyễn Duy, Cát trắng, Nxb Quân đội nhân dân, 1973

Bài thơ: Vườn cây của ba

Vườn cây của ba

Thơ Nguyễn Duy

Má trồng toàn những cây dễ thương
Nào là hoa, là rau, là lúa
Còn ba trồng toàn cây dễ sợ
Cây xù xì, cây lại có gai

Cái gai bưởi đụng vào thì chảy máu
Trái sầu riêng rớt xuống thì đầu u
Nhựa hột điều dính vào là rách áo
Cây dừa cao eo ơi, cao là cao

Cây ba trồng sống lâu thiệt là lâu
Mưa chẳng dập gió lay chẳng đổ
Thân xù xì cứ đứng trơ trơ
Cành gai góc đâm ngang tua tủa

Bưởi, sầu riêng, dừa, điều nhiều nhiều nữa
Cho em bốn mùa vị ngọt hương thơm
Vườn của ba cây trồng thì dễ sợ
Mà trái nào cũng thiệt dễ thương.

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phan Nhân phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

Bài thơ: Đà Lạt một lần trăng

Đà Lạt một lần trăng

Thơ Nguyễn Duy

Trăng ảo ảnh lập lờ trong sương trắng
ngọn gió nhà ai thấp thoáng ở bên đồi
tiếng móng ngựa gõ ròn trên dốc vắng
nghe mơ hồ một chiếc lá thông rơi

Em nhóm bếp bằng củi ngo chẻ nhỏ
ngọn lửa lấp đi khoảng vắng giữa hai người
tôi lơ đãng nhìn em nhìn lơ đãng
siêu nước pha trà vừa ấp úng sôi

Em biết chứ, chả ai lơ đãng cả
hòn than kia đang đỏ đến hết lòng
mà ngọn lửa cứ giả vờ le lói
mùi nhựa thông theo sợi khói đi vòng…

Đà Lạt, 1984

Nguồn: Nguyễn Duy, Ánh trăng, Nxb Tác phẩm mới, 1984

Bài thơ: Được yêu như thể ca dao

Được yêu như thể ca dao

Thơ Nguyễn Duy

Bao giờ cho tới ngày xưa
yêu như các cụ cho vừa lòng ta
cái thời chưa nhiễm SIDA
yêu lăn yêu lóc la đà đã chưa

Ðược yêu như các cụ xưa
cũng trăng gió cũng mây mưa ào ào
được yêu như thể ca dao
đủ phờ phạc đất đủ lao đao trời

Tây Tàu cũng thế thì thôi
y chang cay đắng ngọt bùi khổ đau
không trầu mà cũng chẳng cau
làm sao cho thắm môi nhau thì làm

(22-12-1993)

Nguồn: Nguyễn Duy, Về, NXB Hội nhà văn, 1994

Trịnh Công Sơn đã có nhận xét về Nguyễn Duy: “Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó…”.

Không Đề 35

Không Đề 35

Không Đề 35 (Thu Bồn)

Hát cười không giải toả nỗi cô đơn
Bạn bè không giảm bao phiền muộn
Hoa tươi không rực rỡ căn phòng
Ngọn đèn không xua tan bóng tối
Thiên đàng hiện ra khi em đến với anh

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Không Đề 35” của tác giả Hà Đức Trọng. Thuộc tập 100 Bài Thơ Tình Nhờ Em Đặt Tên (1992), danh mục Thơ Thu Bồn trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

ĐÊM KHÔNG TRĂNGTác giả/’ Thu Thảo

ĐÊM KHÔNG TRĂNGTác giả/’ Thu Thảo

Đêm không trăng em buồn tủi vô cùng
Bởi em nhớ ngày mình cùng chung bước
Có những lúc anh dỗ dành cho được
Sợ em buồn khóc sướt mướt mình ên

Em dần dần quen cảm giác kề bên
Anh nói nhỏ gọi tên em thật khẽ
Kể câu chuyện để em cười vui vẻ
Dù đêm khuya vắng vẻ giữa núi rừng

Em nói nhiều nói mãi chẳng chịu ngưng
Anh ngồi đó nghe từng câu từng tiếng
Rồi nghe hết những lời trong câu chuyện
Không phàn nàn không ý kiến gì luôn

Anh nhớ không đêm trăng sáng em buồn
Anh đã hát bằng nguồn dâng cảm xúc
Mà ngày đó em thật là hạnh phúc
Được anh yêu ,mà nhiều lúc giận hờn

Em vô tình để anh khóc nhiều hơn
Em xin lỗi những tháng năm vắng mặt
Em cứ nghĩ giữ lời thề son sắt
Khắc bóng hình và đặt ở trong tim

Em sai rồi khi biền biệt lặng im
Để anh kiếm anh tìm trong vô vọng
Em đã khiến mỗi ngày anh lạc lõng
Ôm cô đơn một hình bóng xa rời

Em bây giờ đâu được nói yêu ơi
Chỉ là nhớ những lời yêu ngày ấy
Chỉ là muốn anh vui cười thế đấy
Dù cả đời mình không thấy mặt nhau .

Tác giả: Thu Thảo