Câu thơ tài hoa được nhiều người tìm đọc nhất hôm nay 16/09/2026

Lưng trời xanh nhẹ màn sương
Mặt hồ xanh những nỗi buồn đuổi nhau
Người đi xa đã từ lâu
Mà mùa thu đến vẫn đau lá vàng

Thu đến - Hoàng Thị Minh Khanh

Top 20 bài thơ có tổng lượt xem nhiều nhất hôm nay 16/09/2026

Thuật Bút

Thuật Bút (Tản Đà)

Mười mấy năm xưa ngọn bút lông
Sác sơ chẳng bợn chút hơi đồng
Bây giờ anh đổi lông ra sắt
Cách kiếm ăn đời có nhọn không?

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Thuật Bút” của tác giả Nguyễn Khắc Hiếu. Thuộc tập Khối Tình Con > Quyển II (1918), danh mục Thơ Tản Đà trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Những stt về mưa cực tâm trạng phù hợp với người đang buồn

Mưa luôn gợi lên cho chúng ta nhiều cảm xúc hơn, từ cảm giác nhớ mong, cô đơn lạc lõng một mình, những phút giây cô đơn, buồn bã không thể nào đặt tên. Có phải mưa giống như nước mắt hay vì những kỷ niệm đẹp, kỷ niệm khó quên đã qua gắn với mưa, kỷ niệm ấy giờ chỉ là quá khứ khiến con người hoài niệm và nuối tiếc? Và Những stt về mưa cực tâm trạng phù hợp với người đang buồn sau đây sẽ phần nào khắc họa nên những gam màu đó. Các bạn hãy cùng phongnguyet.info đọc và cảm nhận nhé!Những stt về mưa cực tâm trạng phù hợp với người đang buồn

1. Làm bạn là cô chẳng cần lo lắng mỗi khi hẹn anh đưa đón ngày mưa
Anh không lo lỡ trút cà phê vương vào chiếc váy cô mang
Làm bạn, là họ còn bao năm tháng đi bên đời nhau cho dẫu về đâu
Đi bên nhau qua những ngày thu êm đềm vừa về chưa lâu
Buồn vui chẳng ai dấu ai, sẻ chia những câu chuyện dài
Điều quan trọng là: ôi kế hoạch làm bạn cho anh cùng cô giữ mãi những nụ cười quý giá hiếm hoi trên đời.

2. Mưa… mưa… mưa… Ngồi ở góc cafe quen, nghe nhạc không lời, đọc cuốn sách hay thật hay … thế giới tự nhiên nhỏ lại …

3 …Mưa vẫn thế khi mãi bên nhau
Mưa vẫn hát trên tóc em diu dàng
Mưa khóc lạnh lùng khi buồn và nhớ thương em rất nhiều
Mưa có biết đợi chờ nhớ mong
Mưa có thấy vòng tay đón em mỗi lần
Mưa có trên làn môi em rung có nhau trong chiều mưa
Mình tay trong tay…

4. Hôm nay là 1 ngày mưa, 1 ngày mưa thất thường ờ Sài Gòn chật chội nóng nực như muốn thiêu sống những gì trên mình nó. Mưa ừ thì mát đấy, ừ thì ngắm mưa thú vị đấy, nhưng có cảm giác như những giọt mưa cứ những giọt nước mắt hờn dỗi, nhớ nhung của con người. Sẽ cứ mưa như thế nhé, mưa ngay rồi tạnh ngay để ai đó không còn 1 mình trú mưa quá lâu hoặc ướt đẫm bờ vai khi vội vã. Một ngày mưa!!!!

5. Mong lại có 1 cơn mưa ” tưới mát tâm hồn” như ngày hôm qua!!!
Những stt về mưa cực tâm trạng phù hợp với người đang buồn
6. Tuổi thanh xuân giống như một cơn mưa rào. Dù cho bạn từng bị cảm lạnh vì tắm mưa, bạn vẫn muốn được đắm mình trong cơn mưa ấy lần nữa.

7. Nhẹ nhàng dấu mưa còn vương trên mí mắt
một làn tóc như mây bay vắt trên bờ vai
một lần xót thương cho em
mà sao không quay trở lại
một lần người cất bước ra đi

8. …Mưa vẫn thế khi mãi bên nhau
Mưa vẫn hát trên tóc em diu dàng
Mưa khóc lạnh lùng khi buồn và nhớ thương em rất nhiều
Mưa có biết đợi chờ nhớ mong
Mưa có thấy vòng tay đón em mỗi lần
Mưa có trên làn môi em rung có nhau trong chiều mưa
Mình tay trong tay…

9. Mưa ngừng rơi chắc gì trời đã tạnh .. .
Chia tay rồi chắc gì đã hết yêu. .. !

10. Gió thổi nhè nhẹ. Mưa !
Từng giọt rơi rơi xuống
Đôi má đỏ hồng hào
Bỗng dưng sao lại khóc
Có phải vì cơn mưa
Đem người em yêu mến
Đi tới chân trời xa
Không còn yêu em nữa
Hay vì cơn mưa kia
Làm mi em thấm đẫm
Rồi nhẹ nhàng ướt má
Là lệ hay là mưa ?
Những stt về mưa cực tâm trạng phù hợp với người đang buồn
11. Dù rằng trời mưa hay nắng
dù rằng lòng a có nhớ
dù cho e khóc thầm bao đêm
chỉ đợi 1 ngày bóng hình a
trở về cùng đêm mưa…

12. Tháng giêng bước sang tháng hai
Mưa xuân lác đác hoa nhài nở ra
Tháng hai bước sang tháng ba
Mưa rào mát mẻ nở hoa đầy cành.
Tháng tư mưa thật là nhanh
Liệu mưa có bớt thư tình đưa ai.
Tháng năm tháng sáu mưa dài
Bước sang tháng bảy tiết trời mưa ngâu
Nhớ ai như vợ chồng Ngâu
Một năm mới gặp mặt nhau một lần.
Tháng tám mưa khắp xa gần
Bước sang tháng chín đúng tuần mưa rơi
Tháng mười mưa ít đi rồi
Nắng hanh trời biếc cho tươi má hồng.
Một chạp là tiết mùa đông
Mưa phùn đêm vắng trong lòng lạnh thay
Bài mưa anh đã học đây
Mối tình dào dạt đêm chầy như mưa!

13. Em à! Sài Gòn lại mưa rồi. Mưa làm anh nhớ những ký ức tươi đẹp của tụi mình. Mưa ngày đó anh lúc nào cũng có em kề bên. Hạnh phúc, ấm áp lắm…
Ngày đó anh cực thích mưa.. Chẳng biết vì sao nửa có lẽ vì hơi ấm của em, vì giọng cười giòn tan của em hoà vào tiếng mưa hay tỷ tỷ những thứ khác về em…làm anh thích thú. Mưa ngày đó – ngày tụi mình còn trẻ.. Thật tuyệt em nhỉ?!
Hôm nay Sài gòn lại mưa em à. Mưa vẫn cứ là mưa thôi, nhưng tụi mình thì giờ đã khác rồi. Em hạnh phúc bên gia đình nhỏ, anh thì chông chênh giữa đôi ngã cuộc đời… Hít một hơi dài nhìn về xa xăm… Anh ước mình còn trẻ!!

14. Ước gì tôi biến thành mưa,
Vương trên mái tóc em vừa hong khô.
Để em hờn giận trách đùa:
Ông trời sao nỡ làm mưa lúc này.
Hạt tình rắc nhẹ từ mây
Mà sao ướt lạnh, hao gầy tim em?
Ngước nhìn em bước vào thềm,
Mưa tôi lặng lẽ ướt mềm dấu chân.

15 ღ Ko phải cứ tạnh mưa thì sẽ có cầu vồng……
ღ Cũng như là…
ღ Ko phải cứ có 1 người hết lòng yêu thì sẽ có
1 người đáp lại… ღ Và….
ღ Ko phải cứ có 1 người mòn mỏi chờ đợi…
ღ thì sẽ có 1 người trở về.
Những stt về mưa cực tâm trạng phù hợp với người đang buồn
16. Anh đưa tay hứng lấy những hạt mưa
Quay lại hỏi: em thích mưa hả bé?
Em mỉm cười nhìn anh rất khẽ
Bởi cơn mưa mùa hạ mà anh!

Rồi thời gian cứ thế trôi nhanh
Những cơn mưa cũng qua cùng mùa hạ
Anh bước qua đời em như mùa thay lá
Để đông về mình em bước cô đơn

Bất chợt hôm nay phố cũ mây tràn
Chốn hẹn xưa và cơn mưa ngày ấy
Mưa vội vã vô tình có nhớ
Tiếng cười anh mưa mùa hạ đó em…

17. Mưa rồi anh à
Mưa to lắm
Lòng em cũng thế
Nào hay
Anh cũng có mưa bão trong lòng
nhưng đâu dành cho em!!!

Những stt về mưa cực tâm trạng phù hợp với người đang buồn trên đay có làm bạn vơi nhẹ nỗi long mình không nào. Cám ơn các bạn đã đọc bài viết của chúng tôi. đùng quên liên tục cập nhật những bài viết mới của chúng tôi để biết thêm nhiều câu nói hay và ý nghĩa hơn nhé!

Top 10 Bài thơ hay của nhà thơ Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) quê gốc ở Quảng Nam, sinh ra ở Phú Thọ, mất trong một tai nạn giao thông. Anh làm thơ từ thuở học cấp ba, rời ghế trường trung học, vào bộ đội anh viết rất nhiều và bắt đầu đăng báo. Năm 1968, hai mươi bài thơ đầu tay chọn in chung vào tập Hương cây. Anh cảm thụ đời sống không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng cả giác quan. Cảm giác là hạt nhân đầu tiên trong cảm hứng của Lưu Quang Vũ. Đọc thơ anh ít thấy dấu vết của bố cục, cảm hứng liền dòng ào ạt, đầy ắp hiện thực và tưởng tượng, sách vở và đời sống hòa quyện thúc đẩy nhau trong các câu thơ dồn dập.

Áo cũ

Tác giả: Lưu Quang Vũ

Phố ta

Tác giả: Lưu Quang Vũ

Phố của ta
Những cây táo nở hoa
Mùa thu đấy
Thân cây đang tróc vỏ
Con đường lát đá
Nghiêng nghiêng trong sương chiều.

Năm nay cà chua chín sớm
Trên quầy hàng đỏ hồng
Chị thợ may đi lấy chồng
Chị thợ may góa bụa
Năm nay tôi mặc đồ đen.

Bác đưa thư, có thư ai đấy?
Bác đưa thư kéo chuông
Ti-gôn hoa nhỏ
Rụng đầy trước hiên.

Riêng bác thợ mộc già buồn bã
Thở khói thuốc lên trời
Anh thợ điện trên mái nhà mắc dây
Bà giáo về hưu ngồi dịch sách
Dậy cậu con tiếng Pháp
Suốt ngày chào: bông-dua.

Phố của ta
Phố nghèo của ta
Những giọt nước sa
Trên cành thánh thót
Lũ trẻ lên gác thượng
Thổi bay cao bao bong bóng xà phòng.

Em chờ anh trước cổng
Con chim sẻ của anh
Con chim sẻ tóc xù
COn chim sẻ của phố ta
Đừng buồn nữa nhá
Bác thợ mộc nói sai rồi
Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa
Tại sao cây táo lại nở hoa
Sao rãnh nước trong veo đến thế?
Con chim sẻ tóc xù ơi
Bác thợ mộc nói sai rồi.

Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa

Tác giả: Lưu Quang Vũ

Em – tình yêu những năm đau xót và hy vọng

Tác giả: Lưu Quang Vũ

Em đi, phố ngày mưa
suốt đường dài không nói
cánh cửa chiều khép lại
hoa đầm đìa mưa ướt chói trên cao
ga ngổn ngang gạch đổ, những toa tàu
như năm tháng nặng buồn em có nhớ
ta đi giữa cỏ hoang và gỗ đá
giữ trong lòng ngọn thác trắng trào sôi
một tình yêu không biết nói cùng ai
đến điên dại đến nghẹn ngào đau đớn
mặt anh vỡ trong tấm gương thất vọng
em ơi ngày ấy em đâu?
hoa cúc xanh tuổi nhỏ chết từ lâu
những hòm xiểng chất đầy khu phố chật
những bãi rác những thùng xe cũ hỏng
những bạn bè thơ trẻ đã già nua
đêm chiến tranh thành phố tối âm u
không đèn sáng lời ru không bếp lửa
ghế công viên hóa bầy dã thú
nằm im lìm dưới mặt trăng đen
xác người trôi trên biển sóng xô tan
huyệt bom tối ầm ào cơn gió hú
ta đi suốt một đời đau khổ
chân lỡ lầm bao ảo ảnh chờ mong
anh vẫn nhen một ngọn lửa âm thầm
hình bóng em chập chờn trong lửa ấy
(ai trong đời chưa một lần mơ thấy
không có quyền phán xét những câu thơ)
sóng khát khao đập cửa đêm ngày
nên chói chang đời anh, em tới
mắt em mở với chân trời xa vợi
nhưng hơi ấm anh cầm là ấm của bàn tay
em bằng xương bằng thịt đây rồi
anh đợi mãi, cuối cùng em đã đến
hơi thở em từ lâu anh đã thuộc
tóc em đây lời nói của em đây
nhặt anh lên trong cỏ sắc đường dài
như bóc một lá thư chưa kẻ nhận
và thương mến có nghĩa là hy vọng
anh tin đời theo nghĩa lứa đôi…
con tàu nào mang gió ấy ra khơi
chẳng hề có một ngày cập bến
đích của nó luôn luôn là phía trước
là chân trời mãi mãi ở trong em.

Nơi ấy

Tác giả: Lưu Quang Vũ

Ở nơi ấy có một đồi mua tím
Có con đường đất mịn mát chân đi
Ở nơi ấy có một rừng bưởi chín
Có người em bé nhỏ ngóng ta về.

Tia nắng hạ sáng bừng trên lá cọ
Chim chào mào ăn hạt dẻ mùa thu
Rơm khô ủ những quả hồng chín đỏ
Ngọn gió chiều, hoa sở trắng như mưa.

Ở nơi ấy, suối thành sông mùa lũ
Xuyên qua rừng, ngập ướt cả bờ lau
Đèn nhựa trám tinh mơ em nhóm lửa
Sương mịt mù trước cửa, thấy em đâu.

Gương mặt ấy, nụ cười bên lửa thắm
Quả doi rừng trong nón để phần nhau
Ở nơi ấy vị măng vầu chẳng đắng
Củ sắn lùi ống nứa vẫn thơm lâu.

Hoa chẳng sớm và trái không quá muộn
Xuân không nhanh và đông chẳng kéo dài
Mỗi khóm lá một hương rừng bí mật
Nắng dong vàng thung lũng tiếng ong bay.

Tôi đã đi bao đường xa tít tắp
Bao mùa đông mùa hạ đã trôi qua
Bao cửa bể, xóm thôn, thành phố rộng
Một vùng quê nơi ấy ngỡ phai nhòa.

Nếu em biết những gì tôi đã sống
Những buồn vui tôi đã có trong đời
Nếu em biết bây giờ tôi khác lắm
Buổi cùng em kiếm củi ven đồi?

Người ta bảo: cả em giờ cũng khác
Đã con bồng, con dắt, nhớ chị tôi…
Có sao đâu: trái mùa thu vẫn thắm
Mây mùa thu vẫn trắng những chân trời.

Nếu em biết rằng tôi, tôi vẫn nhớ
Vẫn là con suối lũ của rừng xưa
Con tu hú dưới lùm hoa chuối đỏ
Ngọn lửa hồng em ủ giữa chiều mưa?

Vẫn nguyên vẹn những hoa rừng thơ dại
Đã dạy tôi biết chia ngọt sẻ bùi
Vầng trăng lớn mọc lên từ phía ấy
Ngọn gió rừng vẫn thổi giữa hồn tôi.

Gửi mẹ

Tác giả: Lưu Quang Vũ

Trên đời chẳng ai lo cho ta bằng mẹ
Cũng chẳng ai ta làm khổ nhiều như mẹ của ta
Mẹ ơi nếu con được sống lại tuổi thơ
Con sẽ chẳng bao giờ mải chơi trốn học
Đứa con trai nhiều lỗi lầm ương ngạnh
Sẽ không lần nào làm mẹ xót xa.

Ước mẹ trẻ hoài như buổi mới gặp cha
Ước con được sống suốt đời bên mẹ
Mẹ muốn ăn cá thu con chẳng nề xuống bể
Chẳng ngại lên ngàn kiếm đọt măng mai
Nhưng xứ sở ta quân Mỹ tới rồi
Cùng bè bạn con lên đường đuổi giặc.

Mẹ vui vẻ gánh lấy phần khó nhọc
Việc cơ quan, việc Đảng, việc nhà
Đánh Pháp năm xưa, đánh Mỹ bây giờ
Quen vất vả, mẹ quản gì sương nắng.

Đêm nay con nằm rừng xa gió lạnh
Mẹ nghỉ chưa hay đã thức rồi?
Suốt một đời chưa có lúc nghỉ ngơi
Nghĩ thương mẹ, giận quân thù quá đỗi.

Lo trước mọi điều mẹ thường ít nói
Mắt tin yêu nhìn thấu tận đường xa
Mọi giả dối quanh co mọi tàn bạo hận thù
Đều nát vụn trước mắt hiền của mẹ.

Dẫu cuộc đời là con đường dài thế
Con sẽ đi qua mọi đèo dốc trông gai
Bằng đôi chân của mẹ, mẹ ơi.

Tiễn bạn

Tác giả: Lưu Quang Vũ

Ngày mai mày đi xa
Bỏ lại gian phòng, những bức tranh
Cái máy hát cũ
Tập apollinaire dịch giở
Quảng Trị mùa gió Lào
Cuộc chiến còn dai dẳng
Hai bên chĩa súng vào nhau
Tuổi trẻ buồn, những chuyến đi, bao câu hỏi không lời giải
Đất nước mênh mông nắng cháy
Mai Nguyễn mặc áo lính, khoác ba-lô
Khánh xuôi về Phòng, mình ở lại
Người ra đi không biết đi làm gì
Người ở lại không biết ở lại làm gì
Đêm mưa thức với nhau trong quán cà phê
Đốm thuốc cháy môi không nói.

Tinh mơ một thằng con giai râu rậm lên xe
Không cô gái nào vẫy theo
Ra tiễn chỉ có hai anh trông có vẻ dở người
Ngồi uống một ấm trà ở ngã tư chợ Hôm
Hẹn nhau viết thư rồi im lặng
Xe chạy Khánh bỗng vội vàng căn dặn:
“Đi đường cẩn thận
Gặp nơi ẩu đả phải tránh cho xa
Kẻo mang vạ vào thân”.

Chiếc xe khuất phố
Mây xám bay đầy trời.

Mưa

Tác giả: Lưu Quang Vũ

Em đứng bên anh nồng nàn mùa hạ
Chưa kịp lời tình tự
Trời đã òa cơn mưa
Vườn run lên trong nước mắt trẻ thơ.
Mắt em ướt nhòa sung sướng
Nước rửa sạch bụi đường trên trán
Tóc hóa thành dòng suối màu đen
Những chậu thau đồng lanh canh dưới hiên
Những mái tôn ào ào nước dội
Trẻ hò reo, xe bóp còi inh ỏi
Đường thành sông nước xiết trôi băng
Những cánh hoa kim phượng như những chiếc thuyền vàng.
Chở niềm vui đơn sơ, kỳ lạ
Mưa rộng dài xóa những nỗi lo riêng
– Thôi anh đừng nói với em anh đừng nói với em
Về hạnh phúc khó khăn về đường dài xa ngái
Đừng dò hỏi tương lai đừng đắn đo e ngại
Đừng thổ lộ yêu thương đừng nhắc chuyện xa xưa
Anh hãy nghe tiếng mưa tiếng mưa tiếng mưa
Trên những cánh đồng đất nâu tơi tả
Ướt đẫm cả tiếng cười ướt đẫm cả lưỡi cày cả hạt ngô mầm mạ…

Các tường nhà trong một sắc áo chung
Chùm vải sẽ sai quả mận sẽ hồng
Cửa kính ướt sẽ thành gương trong trẻo
Tất cả sẽ giản đơn, chân thành, dễ hiểu
Trên đất đai từng đau khổ của ta

Em đưa tay hứng những hàng mưa
Bàn tay như đài hoa như búp lá
– Thôi anh đừng nhìn em đừng nhìn em nữa
Em hiểu điều gì đã gắn bó đôi ta
Em hiểu điều gì… Ôi tiếng mưa tiếng mưa.

Nửa đêm nỗi nhớ…

Tác giả: Lưu Quang Vũ

Em kỳ lạ làm sao, tôi vừa yêu vừa sợ
Đã tránh đi vẫn muốn tìm gặp nữa
Quá xa xôi em lại quá gần
Lúc kiêu ngạo lúc như cô gái nhỏ
Xách đôi guốc mòn trong khu rừng lạ
Nhiều bùn lầy và đom đóm ma
Tôi thương em thương đến xót xa
Em quá hiểu tôi, tôi e ngại
Khao khát của em không phải của người con gái
Không có ở người con trai
Nỗi buồn riêng trong cây
Chỉ có mình em biết
Suốt đời không ngủ được
Là ngọn gió heo may
Trời rộng của anh ơi
Biết em xa thẳm thế
Vẫn muốn bồng trên tay.

Nơi đảo xa chỉ nước với trời
Nơi cát vắng em đi bao ngả gió
Nửa đêm nỗi nhớ
Đập cửa gọi thành tên
Lần đầu tiên nghĩ trọn về em
Chẳng biết giấu lòng mình
Anh trẻ dại anh có bao tính xấu
Trước mắt em anh cứ huyên thuyên
Đỏ mặt sợ mình lố bịch
Có ích gì đâu có cách nào cứu vãn
Người đã lên đường, tàu đã đi xa
Anh chỉ là ngọn lửa ở thềm ga
Sao cứ đêm ngày khao khát
Nghĩ về em không một phút nào yên
Ngoài kia mưa trong nắng sáng bừng lên
Như những nắm hoa ai ném vào cửa kính
Dẫy phố xám hết nằm trong gió lạnh
Em đi xa em trở lại rồi
Anh vẫn rụt rè không dám nói
Chẳng lẽ em chưa biết hay sao
Em lấy nụ cười giấu nỗi lo âu
Che yếu mềm bằng lời giễu cợt
Em gượng bông đùa mà anh muối xát
Ước chi còn tất cả để trao em
Mơ ước, tình yêu, nỗi vui sướng đầu tiên
Gửi em hết, em đừng đi vắng nữa
Nằng mong manh, cành xoan cao bỡ ngỡ
Những dòng thơ anh viết đã vui hơn
Ta sẽ ra ngoại thành xem rau cải lên non
Em trẻ đẹp như ngày ta mới gặp
Anh lại có sự tươi bền của đất
Nói với thời gian bằng sắc cỏ xanh rờn.

Hoa tầm xuân

Tác giả: Lưu Quang Vũ

Con đường này xưa có tầm xuân nở
Dòng sông cũ cánh buồm giăng trắng xóa
Nay cạn khô trong cỏ dại u buồn
Những đền đài thuở trước đã tan hoang ở
Những chùa cổ chiều mưa rêu ướt lạnh
Chìm trong đất những chùm hương dĩ vãng
Tầm xuân ơi hoa chết đã lâu rồi
Nay ta về lặng lẽ tháng giêng hai
Em nhắc chuyện những bông tầm xuân cũ
Giọng em sáng như một chùm nắng nhỏ
Ấm chiều sương run lạnh của chùa hoang
Tro phủ lòng anh những trìu mến đã tàn
Em chẳng biết em vô tư khêu dậy
Và gió thổi quanh em, tóc rối.
Những bông hoa đã mất vụt bay về
Như giọt sương run rẩy cạnh đường đi
Như hoa vẫn còn hồng trên mặt đất
Hoa tìm mùa xuân suốt đời chẳng gặp
Anh suốt đời chẳng gặp sắc tầm xuân
Em hồn nhiên em chẳng biết anh buồn
Em cứ kể về loài hoa bé nhỏ
Những chùm hoa nở bừng trong gió
Những chùm hoa ngày cũ chết lâu rồi.

Thơ của Lưu Quang Vũ khá tinh tế về câu chữ cũng như hình ảnh. Đọc thơ của ông sẽ có những cảm xúc tuyệt vời về cuộc sống cũng như tình người.

Đến Khúc Quanh Rồi

Đến Khúc Quanh Rồi (Vũ Hoàng Chương)

Biết em từ thuở mới mười hai
Từ thuở em còn tóc xõa vai
Son phấn chưa dùng gương lược biếng
Nửa phần ham học nửa ham chơi.

Khoe hồng thắm mặc người trang điểm
Vẻ em xinh kiều diễm thiên nhiên
Lòng không bận chút lo phiền
Trò chơi “bịt mắt”… em quên tháng ngày.

Bông đào mỉm chưa say gỗ đá
Tuổi dậy thì trên má chưa căng
Núi cao chưa động nguồn băng
Đêm xanh đâu dễ tuần trăng vội tròn.

Cô thiếu nữ như còn lẩn bóng
Dưới nụ cười trong giọng trẻ thơ
Khi đùa khi học nhởn nhơ
Gấm hoa đầy một giấc mơ êm đềm.

Hoa xuân lần lượt nở bên thềm
Vẻ gấm càng khoe lộng lẫy thêm
Nhưng cũng theo xuân dần đổi khác
Tâm hồn, hy vọng, với đời em!

Lượt phấn điểm hồng thêm gò má
Cặp môi đào nay đã thắm son
Tuổi xuân gần tới trăng tròn
Tóc mây em quấn, đầu còn xõa vai!

Em chẳng còn ham chơi như trước
Nhịp máu rung trời nước đâu đâu
Có khi ngồi lặng giờ lâu
Vẩn vơ nét bút đường khâu ngại ngùng.

Xiết bao vẻ thẹn thùng e lệ
Trong làn thu cô bé năm xưa
Ai đem sầu muộn dằng tơ
Làm phai giấc mộng ngây thơ độ nào?

Chi đã vội gieo vào tiếng hát
Những buồn thương khao khát không đâu?
Giục chi tươi thắm lên màu
Cho hoa đẹp sớm để mau hoa tàn?

Kiều-Thu! nghe chăng tôi than van?
Đến khúc quanh rồi, em hãy khoan!
Dừng gót nghe tình tôi trải rộng
Thành thơ trên mỗi bước em đàn!

Rồi em đi hết Thời-gian
Hương say còn ủ mãi bàn chân hoa.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Đến Khúc Quanh Rồi” của tác giả Vũ Hoàng Chương. Thuộc tập Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai (1971) > Tuổi Học Trò, danh mục Thơ Vũ Hoàng Chương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

ÁO TRẮNG MÁ HỒNG

Thướt tha áo trắng nói cười
để ta thương tiếc một thời áo nâu
Tóc hoe hoe cháy trên đầu
Ta cùng bạn gái cưỡi trâu học bài

Áo trắng là áo trắng ai
Luôn phơ phất buổi ban mai đến trường
Long lanh ngọn cỏ giọt sương
Song song chân đất con đường xa xa

Áo trắng là áo trắng à
Một hôm ta thấy bạn ta ngượng ngùng
Vờ che ngực áo hơi phồng
Tay em lẩy gió má hồng hây hây

Áo trắng là áo trắng bay
Phấp pha phấp phỏng cái ngày ta mong
Bỗng dưng bạn ấy lấy chồng
Bỏ ta lại giữa mùa đông xám trời

Áo trắng là áo trắng ơi
Cho ta xin lại dáng người ta mơ
Cho ta tí tẹo ngẩn ngơ
Phải chăng áo trắng bây giờ là đây

Áo trắng là áo trắng bay
Tháp tha thấp thỏm cái ngày mong manh
“Rừng xanh ai nhuộm mà xanh
Má hồng ai nhuộm mà quanh năm hồng!”

Top 6 Bài soạn Một số thể loại văn học: Thơ, truyện (Ngữ Văn 11) hay nhất

Trong chương trình Ngữ Văn 11, với bài học Một số thể loại văn học: Thơ, truyện, học sinh cần soạn như thế nào? Dưới đây, phongnguyet.info đã sưu tầm và tổng hợp được những bài soạn Một số thể loại văn học: Thơ, truyện dành cho các bạn học sinh lớp 11 cùng tham khảo.

Bài soạn tham khảo số 1

I. Kiến thức cơ bản

Câu 1: Loại và thể trong văn học

– Loại là phương thức tồn tại chung, thể hiện thực hóa của loại

– Tác phẩm văn học: trữ tình, tự sự, kịch

+ Trữ tình: thơ ca, khúc ngâm…

+ Tự sự: truyện, kí…

+ Kịch: chính kịch, bi kịch, hài kịch…

– Ngoài ra còn có nghị luận

Câu 2:

Đặc trưng của thơ

– Đặc điểm về loại thơ: thơ có vần, điệu, ngôn ngữ hàm súc, gợi cảm, thể hiện tình cảm, tâm hồn con người

– Thơ được phân loại theo nội dung biểu hiện: thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ trào phúng

– Thơ phân loại theo cách tổ chức có luật thơ, thơ tự do, thơ văn xuôi

– Những yêu cầu chính khi đọc – hiểu một bài thơ gồm:

+ Khi đọc cần biết rõ xuất xứ của bài thơ: tác giả, năm xuất bản, thông tin hỗ trợ khác

+ Đọc kĩ để hiểu đúng và cảm nhận mạch cảm xúc thơ

+ Tìm đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ

+ Phát hiện ra những câu, từ ngữ, hình ảnh tạo cảm xúc nhất


Câu 3: Đặc trưng của truyện:

– Truyện phản ánh hiện thực trong tính khách quan của nó

– Truyện có cốt truyện, nhân vật, tình huống, mâu thuẫn diễn ra trong hoàn cảnh không gian và thời gian

– Ngôn ngữ truyện có kể chuyện, lời nhân vật…

– Thể loại: sáng tác dân gian (ngụ ngôn, truyện cười, truyền thuyết, cổ tích..), truyện trung đại, truyện hiện đại (truyện ngắn, tiểu thuyết và truyện thơ…)

* Yêu cầu khi đọc – hiểu truyện:

– Đọc truyện cần biết hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác để hiểu tư tưởng, chủ đề của tác phẩm

– Hiểu cốt truyện, diễn biến của tình tiết chính

– Nắm được tính cách của nhân vật từ đó hiểu tư tưởng, đặc điểm nghệ thuật của truyện


Luyện tập

Bài 1 (trang 136 sgk ngữ văn 11 tập 1)

Nghệ thuật tả cảnh, tả tình và sử dụng ngôn ngữ trong bài thơ Câu cá mùa thu

– Bài thơ gợi tình yêu và sự gắn bó sâu sắc và thiên nhiên vùng đồng bằng Bắc Bộ

+ Cảnh thu đẹp nhưng phảng phất nỗi buồn từ tâm trạng nhân vật trữ tình

+ Tư thế của người đi câu cá chứa đựng những u uẩn truyền miên

+ Cái tình của Nguyễn Khuyến đối với đất nước, đối với non sông sâu sắc

+ Tâm sự, nỗi lòng của Nguyễn Khuyến dành cho đất nước thầm ặng, da diết, đậm chất suy tư

– Ngôn từ: giản dị, trong sáng đến mức kì lạ, có khả năng biểu đạt xuất sắc tinh tế cảnh vật, những uẩn khúc thầm kín khó giãi bày tâm sự

– Bài thơ cũng thành công với cách gieo vần: vần “eo” khó luyến láy, khó sử dụng nhưng được Nguyễn Khuyến sử dụng một cách tài tình: diễn tả không gian nhọn, cảm giác về một không gian thu hẹp dần và khép kín lại, hài hòa

– Nghệ thuật lấy động tả tĩnh, lấy cái động để gây ấn tượng sâu đậm về cái yên ắng, tĩnh lặng của tâm trạng

⇒ Bức tranh mùa thu nhẹ nhàng, tươi đẹp nhưng chan chứa tâm trạng, tình cảm


Bài 2 (trang 136 sgk ngữ văn 11 tập 1)

Hai đứa trẻ một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của Thạch Lam: giá trị hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc

– Truyện không có cốt truyện, chỉ là tâm trạng của Liên và An đợi tàu đi qua

– Thạch Lam chú trọng đi sâu vào nội tâm của nhân vật với những cảm giác mơ hồ, mong manh bằng lối viết tinh tế, sâu sắc

– Tác giả sử dụng thành công biện pháp nghệ thuật đối lập, tương phản nhấn mạnh khung cảnh nghèo nàn, hiu hắt của phố huyện nghèo

– Lối kể chuyện thủ thỉ, tâm tình thấm đượm chất thơ, ẩn sâu sau những hình ảnh và ngôn từ là tâm hồn nhân hậu, tinh tế, nhạy cảm trước mọi chuyển động trong tâm trạng con người và trạng vật

Bài soạn tham khảo số 2

Câu 1 (trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

+ Loại lớn hơn thể, một loại bao gồm nhiều thể. Ví dụ: Loại trữ tình gồm các thể: thơ ca, khúc ngâm; Loại tự sự gồm các thể: truyện, kí, tiểu thuyết;…

+ Loại là phương thức tồn tại chung, thể là sự hiện thực hóa của loại.


Câu 2 (trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

+ Đặc trưng thơ:

– Cốt lõi của thơ là trữ tình, thơ luôn biểu hiện tâm hồn, tình cảm bên trong.

– Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh, nhạc điệu.

+ Các kiểu loại thơ:

– Theo nội dung biểu hiện có: thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ trào phúng.

– Theo cách tổ chức có: thơ cách luật, thơ tự do, thơ văn xuôi.

+ Yêu cầu về đọc thơ:

– Có kiến thức nền về xuất xứ của bài thơ.

– Đọc kĩ bài thơ, thông qua từ ngữ, chi tiết, vần điệu,…để cảm nhận nội dung thơ.

– Đánh giá, lý giải bài thơ trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật.


Câu 3 (trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

+ Đặc trưng của truyện:

– Truyện phản ánh đời sống khách quan: Có cốt truyện gồm một chuỗi các tình tiết, nhân vật được miêu tả gắn với hoàn cảnh, không gian và thời gian đa dạng.

– Truyện sử dụng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau: ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại.

– Ngôn ngữ truyện gần với ngôn ngữ đời sống.

+ Các kiểu loại truyện:

– Văn học dân gian: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn.

– Văn học trung đại: truyện viết bằng chữ Hán, truyện thơ Nôm.

– Văn học hiện đại: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài.

+ Yêu cầu về đọc truyện:

– Tìm hiểu bối cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm.

– Phân tích diễn biến cốt truyện.

– Phân tích các nhân vật trong truyện và mối quan hệ giữa các nhân vật đó với nhau.

– Nhận ra được vấn đề được nói đến, ý nghĩa tư tưởng của truyện về cả phương diện tái hiện đời sống lẫn khám phá bản ngã của con người.


Luyện tập

Câu 1 (trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến:

+ Nghệ thuật tả cảnh: khắc họa thiên nhiên mùa thu ở làng quê đẹp, thanh bình nhưng buồn và có xu hướng co hẹp lại, thiên nhiên hiện lên qua những hình ảnh thân thuộc, bình dị, khác với mùa thu ước lệ quen thuộc trong thơ trung đại.

+ Nghệ thuật tả tình: Tả cảnh ngụ tình, tả việc cũng để ngụ tình, câu cá thực chất là để suy nghĩ về thế sự.

+ Ngôn ngữ: gieo vần lạ, độc đáo, ngôn ngữ lạ hóa, giàu tính gợi hình, gợi cảm.


Câu 2 (trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Hai đứa trẻ – Thạch Lam:

+ Cốt truyện: cốt truyện đơn giản, nhẹ nhàng, không có kịch tính, cốt truyện là cốt truyện tâm lý.

+ Nhân vật: là những số phận bé nhỏ nơi phố huyện nghèo, những con người hết sức bình thường.

+ Lời kể: nhẹ nhàng, là tác phẩm thuộc loại tự sự nhưng đậm chất trữ tình (giàu tính nhạc, tính họa).


Ý nghĩa

Thơ tiêu biểu cho loại trữ tình. Thơ thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng con người bằng ngôn ngữ cô đọng, gợi cảm, giàu hình ảnh và nhạc điệu.

Trong khi, truyện tiêu biểu cho loại tự sự, thường có cốt truyện, nhân vật, lời kể. Truyện có khả năng phản ánh hiện thực cuộc sống rộng lớn, đi sâu vào những mảnh đời cụ thể và cả những diễn biến sâu xa trong tâm hồn con người.

Bài soạn tham khảo số 3

Câu 1 (trang 136 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

– Loại là phương thức tồn tại chung; thể chỉ là sự hiện thực hóa của loại.

– Phần lớn các ý kiến đều đồng ý rằng các tác phẩm văn học được chia làm ba loại lớn: trữ tình, tự sự, kịch. Mỗi loại lại có thể gồm các thể riêng:

+ Loại trữ tình có các thể: thơ ca, khúc ngâm,…

+ Loại tự sự có các thể: truyện, kí, tùy bút,…

+ Loại kịch có các thể: chính kịch, bi kịch, hài kịch,…

Bên cạnh đó còn có một thể loại khác cũng thường gặp đó là nghị luận.


Câu 2 (trang 136 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

a, Thơ có nhiều loại, tùy theo tiêu chí:

– Phân loại thơ theo nội dung biểu hiện có: thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ trào phúng.

– Phân loại thơ theo cách thức tổ chức bài thơ có: thơ cách luật, thơ tự do, thơ văn xuôi.

a, Khi đọc thơ cần tuân thủ những yêu cầu:

– Cần viết rõ tên tác phẩm, tên tập thơ, tên tác giả, năm xuất bản, tìm hiểu những thông tin liên quan đến hoàn cảnh sáng tác bài thơ.

– Đọc kĩ bài thơ, cảm nhận ý thơ qua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu. Ý thơ ở đây là cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng, những sự việc, sự vật… Đồng cảm với nhà thơ dùng liên tưởng, tưởng tượng, phân tích khả năng biểu hiện của từ ngữ, chi tiết, vần điệu,.. mới cảm nhận được ý thơ, thấu hiểu hình tượng thơ, cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình.

– Từ những câu thơ đẹp, lời thơ lạ, ý thơ hay, từ hình tượng thơ, cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình,… đánh giá bài thơ cả về nội dung và nghệ thuật.


Câu 3 (trang 136 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

* Cùng với sự phát triển của lịch sử của văn học, truyện cũng có những kiểu loại khác nhau.

– Văn học dân gian có nhiều kiểu truyện: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích khác nhau.

– Văn học trung đại có loại truyện viết bằng chữ Hán và loại truyện viết bằng chữ Nôm.

– Trong văn học hiện đại, người ta phân ra thành truyện ngắn, truyện vừa và truyện dài (tiểu thuyết).

+ Truyện ngắn thường ít nhân vật, sự kiện, nó hướng tới một vài mảnh nhỏ của cuộc sống, có thể kể về cả cuộc đời hoặc một đoạn đời,… nhưng nó vẫn đặt ra những vấn đề lớn lao, thể hiện tư tưởng nhân sinh sâu sắc.

+ Tiểu thuyết là một thể loại tự sự cỡ lớn. Có nhiều loại tiểu thuyết: tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, tiểu thuyết sử thi ghi lại sự tích anh hùng, nhưng nhiều nhất là tiểu thuyết về những số phận cá nhân trong cuộc đời thường.

* Các yêu cầu về đọc truyện:

– Tìm hiểu bối cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác để có cơ sở cảm nhận các tầng lớp nội dung và ý nghĩa của truyện.

– Phân tích diễn biến của cốt truyện qua các phần mở đầu, vận động, kết thúc, với các tình tiết, sự kiện, biến cố cụ thể. Làm rõ giá trị của các yếu tố trong đó trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống và khắc họa bản chất, tính cách các nhân vật. Chú ý tới nghệ thuật tự sự: người kể chuyện ở ngôi thứ nhất hay ở ngôi thứ ba; điểm nhìn trần thuật; cách sắp xếp các tình tiết, sự kiện; thủ pháp kể chuyện, miêu tả; giọng điệu lời văn,…


Luyện tập

Câu 1 (trang 136 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Nghệ thuật tả cảnh, tả tình và sử dụng ngôn ngữ trong bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến:

– Bài thơ gợi tình yêu và sự gắn bó sâu sắc với thiên nhiên vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cảnh thu đẹp, được miêu tả qua màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắt; qua đường nét: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng. Cảnh thu đẹp nhưng vẫn có một chút nét buồn phảng phất. Cảnh buồn một phần bởi thi đề mùa thu trong văn học vốn đã gắn với những nét buồn sầu man mác nhưng có lẽ cái nét buồn vương vấn trong bài thơ chủ yếu là cái nét buồn lan ra từ tâm trạng nhân vật của nhân vật trữ tình. Tuy vậy, xuyên suốt bài thơ, người đọc mới thấy nhân vật trữ tình xuất hiện nhưng là xuất hiện trong tư thế của người đi câu (Tựa gối ôm cần lâu chẳng được) mà thực không phải thế. Đó là tư thế của con người u uẩn trong nỗi lo triền miên, chìm đắm.

– Câu cá mùa thu là một minh chứng sinh động về sức biểu đạt của ngôn từ tiếng Việt. Ngôn ngữ trong sáng, giản dị, đặc biệt vần “eo” được Nguyễn Khuyến sử dụng rất tài tình. Vần “eo” hợp với tất cả các câu bắt buộc (câu 1,2,4 và câu 8). Nó góp phần diễn tả cảm giác về một không gian thu nhỏ hẹp dần và khép kín lại, tạo nên sự hài hòa với tâm trạng đầy uẩn khúc của nhân vật trữ tình.

Ngoài ra bài thơ còn thành công trong việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật: lấy động tả tĩnh, sử dụng các tính từ: trong veo, xanh biếc, xanh ngắt,…


Câu 2 (trang 136 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

– Nhận xét về cốt truyện, nhân vật, lời kể trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam:

– Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam. Tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa mang giá trị nhân đạo sâu sắc. Đồng thời qua truyện ngắn này cũng thể hiện tài năng viết truyện ngắn của Thạch Lam.

– Hai đứa trẻ là một truyện không có cốt truyện. Toàn bộ câu chuyện chỉ được kể về tâm trạng thao thức của Liên và An, mong mỏi và chờ đợi một chuyến tàu đêm đi ngang qua.

Trong truyện ngắn này, Thạch Lam đi sâu vào việc khai thác thế giới nội tâm nhân vật với những cảm xúc, cảm giác mơ hồ, mong manh.

– Thạch Lam cũng sử dụng rất thành công thủ pháp đối lập, tương phản, giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, thấm đượm chất thơ của Thạch Lam.

Bài soạn tham khảo số 4

Câu 1 (trang 136 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

+ Thể là sự hiện thực hóa của loại lớn hơn thể, một loại bao gồm nhiều thể.

VD: Loại tự sự gồm các thể: truyện, kí…


Câu 2 (trang 136 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Đặc trưng thơ:

+ Thơ là tiếng nói bên trong tâm hồn người, cốt lõi của thơ là trữ tình

+ Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh, nhạc điệu.

– Các kiểu loại thơ:

+ Theo nội dung biểu hiện: thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ trào phúng.

+ Theo cách tổ chức bài thơ: thơ cách luật, thơ tự do, thơ văn xuôi.

– Yêu cầu về đọc thơ:

+ Tìm hiểu về về nguồn gốc xuất xứ của bài thơ.

+ Đọc kĩ bài thơ, cảm nhận chi tiết, hình ảnh

=> Lí giải, đánh giá toàn bài


Câu 3 (trang 136 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Đặc trưng của truyện:

+ Phản ánh đời sống trong tính khách quan: cốt truyện, sự việc, nhân vật

+Sử dụng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau: ngôn ngữ kể, ngôn ngữ nhân vật, đối thoại, độc thoại.

– Các kiểu loại truyện:

+ VHDG: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn.

+ VHTĐ: truyện viết bằng chữ Hán, truyện thơ Nôm.

+ VHHĐ: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài.

– Yêu cầu về đọc truyện:

+ Tìm hiểu bối cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác

+ Phân tích diễn biến cốt truyện.

+ Phân tích các nhân vật

+Tìm hiểu ý nghĩa tư tưởng


Luyện tập (trang 136 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

Câu 1

– Nghệ thuật tả cảnh: khắc họa chân thực và sinh động và tinh tế cảnh thu của miền đồng bằng Bắc Bộ

– Nghệ thuật tả tình: Tả cảnh ngụ tình

+ Ngôn ngữ: giàu tính gọi hình gợi cảm, từ láy,…


Câu 2

Hai đứa trẻ – Thạch Lam:

+ Cốt truyện: cốt truyện tâm lí nhẹ nhàng

+ Nhân vật: những con người bình thường bé nhỏ

+ Lời kể: tự sự nhưng giàu chất trữ tình đượm buồn

Bài soạn tham khảo số 5

Câu 1 (trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Loại: là phương thức tồn tại chung

– Thể: là sự hiện thực hóa của loại.

– Tác phẩm văn học bao gồm: tự sự, trữ tình, kịch.

+ Các thể loại trữ tình: ca dao, thơ cách luật, thơ tự do, thơ trào phúng…

+ Các thể loại tự sự: truyện, ngắn, tiểu thuyết, truyện vừa, bút kí, phóng sự…

+ Các thể loại kịch: kịch dân gian, kịch cổ điển, kịch hiện đại, bi kịch, hài kịch.

Câu 2 (trang 131 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Đặc trưng của thơ:

+ Tiêu biểu cho loại trữ tình.

+ Là tiếng nói của tình cảm con người

+ Chú trọng đến cai đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc sống khách quan.

+ Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc điệu.

– Kiểu loại thơ:

+ Theo nội dung biểu hiện: thơ trữ tình; thơ tự sự ; thơ trào phúng.

+ Theo cách thức tổ chức bài thơ: thơ cách luật; thơ tự do ; thơ văn xuôi.

– Yêu cầu về đọc thơ:

+ Cần biết rõ xuất xứ

+ Đọc kĩ bài thơ, cảm nhận ý thơ qua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu.

+ Từ câu thơ, lời thơ, ý thơ cái tôi của nhân vật trữ tình ta đánh giá, lí giải bài thơ ở hai phương diện nội dung và nghệ thuật.

Câu 3 (trang 131 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Đặc trưng của truyện:

+ Truyện tiêu biểu cho loại tự sự.

+ Phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó.

+ Truyện có cốt truyện, tình tiết, sự kiện, biến cố, nhân vật và số phận của từng nhân vật, hoàn cảnh và môi trường, không gian và thời gian.

+ Ngôn ngữ có nhiều hình thức khác nhau: ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật; lời đối thoại, lời độc thoại nội tâm ; Ngôn ngữ truyện gần với ngôn ngữ đời sống.

– Các kiểu loại truyện:

+ Trong văn học dân gian: thần thoại, truyền thuyết…

+ Trong văn học trung đại: truyện viết bằng chữ Hán; Truyện thơ Nôm.

+ Trong văn học hiện đại: Truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài.

– Yêu cầu về đọc:

+ Tìm hiểu bối cảnh XH, hoàn cảnh sáng

+ Đọc kĩ truyện, nắm vững cốt truyện và có thể tóm tắt nội dung truyện.

+ Phân tích nhân vật, phân tích tình huống truyện và ý nghĩa của tình huống đối với việc khắc họa chủ đề của truyện. Khái quát chủ đề tư tưởng của truyện.

Luyện tập

Câu 1 (trang 131 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Nghệ thuật tả cảnh, tả tình và sử dụng ngôn ngữ trong bài thơ “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến có nét đặc biệt là:

– Một bức tranh thu cổ điển với thi đề, thi liệu quen thuộc.

– Mùa thu trong “Câu cá mùa thu” là điển hình cho mùa thu của làng quê Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ.

– Đường nét trong bức tranh thu thật mảnh mai, tinh tế.

– Sự hòa phối màu sắc đã đạt đến độ tinh tế bậc thầy.

– Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, diễn tả được những biểu hiện tinh tế của sự vật và của tâm trạng con người.

– Bút pháp nghệ thuật của thơ cổ điển (lấy động tả tĩnh).

⟹ Cảnh chan chứa tình và tình thấm đẫm trong cảnh là nét đặc trưng của mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến.


Câu 2 (trang 131 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”:

a. Cốt truyện: không có cốt truyện, các chi tiế là một sự duy trì tuần hoàn về không gian thời gian.

b. Nhân vật: lần lượt xuất hiện theo thời gian. Truyện không thiên về các sự kiện, tình tiết mà đi sâu vào diễn biến tâm trạng của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ. Nhân vật là những kiếp người nhỏ bé, lụi tàn sống nơi phố huyện nghèo.

c. Lời kể: tâm tình, thủ thỉ, nhẹ nhàng.

Bài soạn tham khảo số 6

Câu 1 (trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Loại và thể trong văn học được xác định như thế nào?

Lời giải chi tiết:

Hình thức tổ chức tác phẩm văn học được xác định trong loại (loại hình, chủng loại) và thể (thể tài, thể loại, kiểu, dạng). Loại là phương thức tồn tại chung; thể chỉ là sự hiện thực hoá của loại.

Phần lớn các ý kiến đều đồng ý rằng các tác phẩm văn học được chia làm ba loại lớn: Trữ tình (lấy cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng của con người làm đối tượng thể hiện chủ yếu), tự sự (dùng lời kể, lời miêu tả đê xây dưng cốt truyện, khắc hoạ tính cách nhân vật, dựng lên những bức tranh vể đời sống) và kịch (thông qua lời thoại và hành động của các nhân vật mà tái hiện những xung đột xã hội). Mỗi loại lại có thể gồm các thể riêng:

– Loại trữ tình có các thể: thơ ca, khúc ngâm,…

– Loại tự sự có các thể: truyện, kí, tuỳ bút,…

– Loại kịch có các thể: chính kịch, bi kịch, hài kịch,…

Bên cạnh đó còn có một thể loại khác cũng thường gặp, đó là nghị luận.

Câu 2 (trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Hãy nêu đặc trưng của thơ, các kiểu loại thơ và yêu cầu về đọc thơ.

Lời giải chi tiết:

a. Đặc trưng của thơ

Đặc điểm về thể loại thơ: Thơ thường có vần, điệu; ngôn ngữ hàm súc, gợi cảm; thể hiện tình cảm, tâm hồn con người.

b. Các kiểu loại thơ

– Phân loại thơ theo nội dung biểu hiện có: Thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ trào phúng.

– Phân loại thơ theo cách thức tổ chức bài thơ có: Thơ cách luật (viết theo luật đã định trước), thơ tự do (không theo luật), thơ văn xuôi (câu thơ gần như câu văn xuôi nhưng vẫn có nhịp điệu).

c. Khi đọc thơ cần tuân thủ những yêu cầu dưới đây:

– Cần biết rõ tên tác phẩm, tên tập thơ, tên tác giả, năm xuất bản, tìm hiểu những thông tin liên quan đến hoàn cảnh sáng tác bài thơ.

– Đọc kĩ bài thơ, cảm nhận ý thơ qua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu. Ý thơ ở đây là cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng, những sự việc, sự vật,… Đồng cảm với nhà thơ, dùng liên tưởng, tướng tượng, phân tích khả năng biểu hiện của từng từ ngữ, chi tiết, vần diệu,… mới cảm nhận được ý thơ, thấu hiểu hình tượng thơ, cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình.

– Từ những câu thơ dẹp, lời thơ lạ, ý thơ hay, từ hình tượng thơ, cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình, hãy lùi xa ra và nhìn lại để lí giải, đánh giá toàn bài thơ cả về nội dung và nghệ thuật. Cần chỉ ra được những nét độc đáo, sáng tạo trong hình thức biểu hiện; những đóng góp về nội dung tư tưởng.

Câu 3 (trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Tóm lược đặc trưng của truyện, các kiểu loại truyện và yêu cầu về đọc truyện.

Lời giải chi tiết:

* Cùng với sự phát triển lịch sử của văn học, truyện cũng có những kiểu loại khác nhau.

– Văn học dân gian có nhiều kiểu truyện: Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn.

– Văn học trung đại có loại truyện viết bằng chữ Hán và loại truyện viết bằng chữ Nôm (chia theo hình thức văn tự).

– Trong văn học hiện đại, theo quy mô văn bản và dung lượng hiện thực, người ta phân ra truyện ngắn, truyện vừa và truyện dài (tiểu thuyết).

+ Truyện ngắn thường ít nhân vật, sự kiện, nó hướng tới một vài mảnh nhỏ của cuộc sống, có thế kể về cả cuộc đời hoặc một đoạn đời,… Nhưng trong phạm vi hẹp vẫn có thể đặt ra những vấn đề lớn lao, thể hiện những tư tướng nhân sinh sâu sắc. (Truyện ngắn là thể tự sự cỡ nhỏ, có cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian, lời kể. Truyện ngắn được phép hư cấu tưởng tượng, khác với bản tin hay phóng sự điều tra. Truyện ngắn thường là một “lát cắt” của cuộc đời, một “mảnh nhỏ” của tâm hồn nhân vật).

+ Không có sự phân biệt rạch ròi giữa truyện vừa và truyện dài (tiểu thuyết). Tiểu thuyết là một thể loại tự sự cỡ lớn. Có nhiều loại tiểu thuyết: Tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, tiểu thuyết sử thi ghi lại sự tích anh hùng – nhưng nhiều nhất là tiểu thuyết về những số phận cá nhân trong cuộc đời thường: Một cuộc sống không thi vị hoá với mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn, từ cao cả đến thấp hèn ti tiện. Nhân vật thường “nếm trải” bao nhiêu dằn vặt khổ đau của cuộc đời. Với khả năng phán ánh đời sống một cách toàn vẹn, sinh động, đổng thời đi sâu khám phá số phận cá nhân, sử dụng linh hoạt hư cấu, điển hình hoá, tổng hợp thủ pháp của các thể loại văn học, nghệ thuật khác, mang tính đa dạng về màu sắc thấm mĩ, tiểu thuyết được coi là “hình thái chủ yếu của nghệ thuật ngôn từ” (Cô-gi-nốp).

* Yêu cầu khi đọc – hiểu truyện:

– Đọc truyện cần biết hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác để lấy cơ sở cảm nhận đúng nội dung truyện.

– Hiểu cốt truyện, diễn biến của tình tiết chính

– Nắm được tính cách của nhân vật từ đó hiểu tư tưởng, đặc điểm nghệ thuật của truyện


Luyện tập

Câu 1 (trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Nghệ thuật tả cảnh, tả tình và sử dụng ngôn ngữ trong bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến.

Trả lời:

a. Nghệ thuật tả cảnh, tả tình.

– Về nghệ thuật tả cảnh, trước hết là việc chọn điểm nhìn: từ “ao thu” tới “tầng mây” rồi trở lại “ao thu” – như vậy trung tâm của sự miêu tả là ao thu. Tác giả đặc tả cận cảnh những gì quan sát được trên mặt ao mà gợi được cái thần thái của mùa thu nơi làng quê: se lạnh, trong trẻo và đặc biệt yên tĩnh. Lại có sự mở rộng của không gian với chiều cao đến vô tận của trời thu và dùng cái “động” để gợi cái tĩnh mịch, yên ả của làng quê.

– Về nghệ thuật tả tình, đáng chú ý là bút pháp tả cảnh ngụ tình: qua cảnh thu, người ta thấy sự quan sát tinh tế, tình yêu kín đáo mà thiết tha của nhà thơ với thiên nhiên, với quê hương đất nước, tâm trạng ưu thời mẫn thế.

b. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ

Câu cá mùa thu là một minh chứng sinh động về sức biếu đạt của ngôn từ tiếng Việt. Ngôn ngữ thơ trong Câu cá mùa thu giản dị, trong sáng đến mức kì lạ, có khả năng biểu đạt một cách xuất sắc những biểu hiện rất tinh tế của cảnh vật cũng như những uẩn khúc thầm kín rất khó giãi bày của tâm trạng.

Câu cá mùa thu thành công nhiều mặt về nghệ thuật trong đó độc đáo nhất là cách gieo vần. Vần “eo” là một vần khó luyến láy, khó vận, thế nhưng nó lại được Nguyền Khuyến sử dụng một cách rất thần tình. Vần “eo” hợp ớ tất cả các câu bắt buộc (câu 1, 2, 4, 6 và câu 8). Nó góp phần diễn tả rất rõ cái cảm giác sắc, nhọn, cảm giác về một không gian thu nhỏ hẹp dần và khép kín lại, tạo nên sự hài hoà rất mực với tâm trạng đầy uẩn khúc của nhân vật trữ tình.

Cùng với cách gieo vần độc đáo, bài thơ còn rất thành công trong nghệ thuật lấy động để tả tĩnh. Để gợi ấn tượng sâu đậm về cái yên ắng, cái tĩnh lặng của tâm trạng, tác giả xen vào một điệu “vèo” của lá và bâng khuâng đưa vào một âm thanh như có như không của tiếng cá “đớp động dưới chân bèo”.

Cái hay của việc sử dụng ngôn ngữ trong bài thơ còn được thể hiện ớ việc sử dụng các tính từ: trong veo, biếc, xanh ngắt, lơ lửng và các cụm động từ: gợn tí, khẽ dưa để làm nổi bật cảnh thu thanh sơ, dịu nhẹ mà thấm đậm hồn thu xứ Việt.


Câu 2 (trang 136 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

Nhận xét vể cốt truyện, nhân vật, lời kể trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam.

Trả lời:

– Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của Thạch Lam. Tác phẩm vừa có giá trị hiện thực cao vừa thấm đượm một tinh thần nhân đạo sâu sắc. Qua truyện ngắn này, Thạch Lam cũng thể hiện một tài năng viết truyện ngắn bậc thầy.

– Cũng như nhiều truyện ngắn khác của Thạch Lam, Hai đứa trẻ là một truyện không có cốt truyện. Nó giống như một bài thơ. Toàn bộ câu chuyện chỉ kể vể tâm trạng thao thức của Liên và An, mong mỏi chờ đợi một chuyến tàu đêm đi ngang qua.

– Trong truyện ngắn này, Thạch Lam chú trọng đi sâu vào nội tâm nhân vật với những cảm xúc, cảm giác mơ hồ, mong manh. Những trang viết miêu tả tâm trạng nhân vật rất sâu sắc và tinh tế.

– Thạch Lam cũng sử dụng rất thành công thủ pháp nghệ thuật đối lập, tương phản (giữa một bên là ánh sáng tù mù, nhạt nhoà của ngọn đèn dầu nơi hàng nước của chị Tí và bên kia là ánh sáng cực mạnh như xuyên thủng màn đêm của đoàn tàu…), qua đó nhấn mạnh, làm nổi bật khung cảnh nghèo nàn, vắng lặng của phố huyện nhỏ.

Truyện còn đặc sắc ở lối kể chuyện thủ thỉ, tâm tình thấm đượm chất thơ của Thạch Lam. Ân hiện kín đáo, lặng lẽ sau những hình ảnh và ngôn từ là một tâm hồn đôn hậu, tinh tế, hết sức nhạy cảm với mọi biến thái của lòng người và tạo vật.

phongnguyet.info đã sưu tầm và tổng hợp được những bài soạn Một số thể loại văn học: Thơ, truyện dành cho các bạn học sinh lớp 11 cùng tham khảo. Hy vọng sau bài viết này, việc soạn bài sẽ không còn khó nhằn với các bạn học sinh nữa.

Top 5 bài thơ hay nhất về ngày giải phóng thủ đô 10/10/1954

Ảnh minh hoạ

Top 5 bài thơ hay nhất về ngày giải phóng thủ đô 10/10/1954

Tháng 10 năm 1954, chính phủ kháng chiến và những đoàn quân chiến thắng rời Việt Bắc về Hà Nội. Ngày 10 tháng 10 năm 1954 là ngày chính thức đánh dấu thủ đô Hà Nội hoàn toàn giải phóng. Và hoà trong không khí kỷ niệm ngày giải phóng thủ đô 10/10 sắp tới. Hôm nay toplist xin giới thiệu đến độc giả top các bài thơ hay nhất về ngày giải phóng thủ đô 10/10/1954.

BÀI THƠ: CẢM XÚC THÁNG 10

BÀI THƠ: CẢM XÚC THÁNG 10


Không thể nói trời không trong hơn
Và mắt em xanh khác ngày thường
Khi đoàn quân kéo về mùa thu ấy
Nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường
Mẹ đứng hàng đầu rưng rưng nước mắt
Xốn xang mẹ thường gọi các con
Anh chiến sĩ mến thương nhìn mẹ
Nghe niềm vui ấm cả tâm hồn
Đêm, cái đêm rút quân qua gầm cầu
Anh, anh đã hẹn ngày mai trở lại
Sóng sông Hồng vỗ bờ hát mãi
Đỏ niềm tin là khúc khải hoàn ca
Một sớm thu trong đất thắm sao vàng
Năm cửa ô xòe năm cánh rộng
Đoàn quân về nhấp nhô như sóng
Những ngôi nhà dường muốn cao thêm
Tháng Mười ấy là khúc ca say
Khúc ca mở những chiến công đầy
Ôi Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội
Nghìn năm vẫn một trái tim này.


– Tạ Hữu Yên –

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ


BÀI THƠ: NGÀY VỀ

BÀI THƠ: NGÀY VỀ


Hà Nội chiều nay mưa tầm tã

Ta lại về đây với phố xưa

Nước Hồ Gươm sao xanh dịu quá

Tháp Rùa rơi lệ cười trong mưa

Ta nhìn hai mắt ta nhìn mã

iLòng ta như lửa đốt dầu sôi

Nằm lại những chân rừng đầu núi

Hôm nay bao đồng chí đâu rồi

Ta đứng khóc giữa trời mưa hắt

Leng keng chuông xe điện đổ hồi

Lòng ta bỗng như dòng suối mát

Ta đã về đây, Hà Nội ơi!

Em Hà Nội má em ửng đỏ

Áo hoa em cất tự bao giờ

Góc phố bờ tường bao máu đổ

Còn tươi nguyên như những lá cờ

Từ khắp bốn phương trời lửa đạn

Đàn con về sau những năm xa

Cởi súng gạt mồ hôi trên trán

Ta lại xây Hà Nội của ta.

– Nguyễn Đình Thi –

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ

BÀI THƠ: TÂM SỰ THỦ ĐÔ

BÀI THƠ: TÂM SỰ THỦ ĐÔ

Trên những chuyến xe bò

Đi về Kim Liên

Đi về Chèm, Vẽ…

Những người Thủ đô tản cư

Đoàn xe đi

Chở nặng tâm tư

Một góc nhà

Một hè phố

Mắt em biếc một chiều xưa

Quán Thánh, Cổ Ngư, Bạch Mai

Bóng liễu, tháp rùa

Một thằng bạn một thằng con ở lại

Khấp khểnh xe đi

Vấp vào đêm tối

Thủ đô

Ngày mùa thu

Cờ bốc lửa phố dài

Cờ bốc lửa công trường Nhà hát Lớn

Thủ đô

Ngày Thủ đô chào đón

Đoàn giải phóng quân về

Qua cầu Long Biên

Sông bóng người đi

Vai cao rộng

Mang núi rừng Việt Bắc

Ai nhìn Thủ đô

Lau thầm nước mắt

– Quốc ca mình

Người lính Việt đầu tiên

Rừng xanh thượng du

Lúa vàng bình nguyên

Giữa phố Thủ đô chào nhau

– Đồng chí!

Có người làng đi

Trong đoàn lính trẻ…

Thủ đô

Quân lệnh đêm

Chuyền qua tường nhà

Lựu đạn đen ngòm trong nắm tay

Rình sau mái ngói

Nắng loá tường vôi

Chữ cào xương nhức nhối

“Thanh niên sống chết với Thủ đô”

Đoàn xe đi

Về đường Kim Liên

Về đường Chèm, Vẽ

Việt Bắc âm u

Đường dài Thanh Nghệ

Đoàn xe đi

Sắt rít đường khuya

Giặc khởi hấn rồi!

Trong Hà Nội

Một thằng bạn

Một thằng con ở lại

Và bắt đầu

Những ngày đêm thủ đô ghê rợn

Khu Đồng Xuân

Lính trung đoàn Thủ đô

Giết giặc, đuổi quanh bàn thịt bò

Giết giặc

Đạn là từ nóc chợ

Hai thằng với súng bom

Uất hận đương đầu…

Bỗng một đêm Thủ đô

Có đoàn quân quyết tử

Cắt máu tay ăn thề

Ngõ vắng Thủ đô

Những đơn vị rút đi

Góc phố Thủ đô

Bóng những người đứng lại.

Lửa cháy Thủ đô

Chân trời hấp hối

Xác thằng bạn

Xác thằng con

Trên hè phố Thủ đô

Đường tản cư khuya

Lửa toé sắt bánh xe bò

Xa cửa ô rồi

Trông về Kim Liên

Trông về Chèm, Vẽ…

Bóng hoàng hôn lên

Liệm tròn huyết thệ

Người quyết tử quân cuối cùng

Những người dân Thủ đô

Phải về với giặc ở chung

Phải đốt cờ đỏ sao vàng

Thức đêm may cờ ba sắc

Và những sáng mai

Tay xót xa

Treo cờ giặc trước nhà

Ai về nội thành

Thấy Hà Nội xa hoa

Nhưng Hà Nội

Giặc xây thêm ngục tù

Xe phòng Nhì

Chở từ ngoại ô

Từng đoàn người xiềng tay

Về qua phố tối

Ngồi thức đêm Hà Nội

Nhìn ra miền tự do

– Có thằng con

Theo chính phủ Cụ Hồ!

Ai về nội thành

Thấy Hà Nội xa hoa

Hà Nội hơn Hà Nội trước

Nhưng Hà Nội

Thủ đô truỵ lạc

Hà Nội cũ lầm than

Ngã Tư Sở

Khâm Thiên

Đèn khuya chảy vàng

Những tiệm hút

Những hộp đêm

Mọc theo tiếng gõ giày đinh

Của đoàn Tây mũ đỏ

Tiếng xe tăng viễn chinh

Chiều đi bụi phốVà lần theo

Bóng đèn dâm ô

Lũ lượt kéo nhau về Thủ đô

Từng đoàn thiêu thân

Sợ

Ánh sáng và gió lành

Tôi thành thép

Cánh tay người kháng chiến

Đêm Thủ đô rét đến

Trong chăn bông

Nghe lạnh chiến khu về

Cơm gia đình đũa bát nhớ người đi

Nhưng sáng mai Thủ đô

Từng đoàn phi cơ giặc

Chở tang tóc đầy trong thân sắt

Ra những miền quê xanh

Tiếng bom dội về

Chuyển Hà Nội mông mênh

Tim người Thủ đô

Rung lên như đất chuyển

Những người thủ đô tản cư

Những đồng bào kháng chiến

Từ những vùng tự do

Có người vào Thủ đô

Nhìn chừng thư trôi trên dòng sông

Chào thằng bạn chiến khu

Mà phục tấm lòng

Những đêm Thủ đô

Mắt em biếc não nùng

Những giấc ngủ tơ nhung

Chập chờn về ác mộng

– Ai hát thì thào

Đêm Thủ đô cửa đóng

Bài ca của Thủ đô mùa thu

Bài trường ca của những người

Chiến thắng sông Lô?

Người lính gác viễn chinh

Đêm nghe căm thù

Về năm đầu cửa ô

Quát thành tiếng súng

Và giữa Hà Nội trưa yên lành

Hồi còi rú thất thanh

Kêu như người tắc họng

Một xác Việt gian ngã tư nắng đọng

Những em mùa thu

Đi trong đoàn thiếu nhi

Lớn thành thanh niên

Bỏ nhà ra đi

Hỏi thăm đường chiến khu Việt Bắc

Đời nội thành xa hoa nặng nề từng thời khắc

Những người ngày xưa

Chưa thù Việt Minh

Đã bắt đầu đợi chờ

– Đến bao giờ

Biết đến bao giờ

Cho đêm sáng xa hoa

Vỡ

Rơi

Thành bóng tối

Xuống xác người máu me ngổn ngang gạch ngói?

– Đến bao giờ

Việt Minh mới đánh vào Hà Nội?

Những người

Bắt sống Lơ-pa và Sác-tông

Những chiến sĩ

Cao Bằng

Đông Khê

Những binh đoàn biên giới chuyển về trung du

Như đi từng dãy núi

Kẹp vòng quanh ngoại vi

Thủ đô

Em gái Hà Nội tản cư đẹp trong màu áo vải

Rồi sẽ còn những ai

Trong số người ở lại?

Ngày Thủ đô chiến thắng tưng bừng

Em về Thủ đô chân – phố cũ – ngập ngừng.

– Hữu Loan –

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ

BÀI THƠ: THEO NHỊP TRỐNG NHỮNG CON HỒNG CHÁU LẠC

BÀI THƠ: THEO NHỊP TRỐNG NHỮNG CON HỒNG CHÁU LẠC

Ngàn năm trước xứ Đoài mưa buồn lắm

Những nếp chùa thiếp ngủ dưới rêu phong

Bao dáng Phật oằn mình trong tượng đất

Cõi hư vô hương khói phải đi vòng

Ngàn năm cũ rùa thiêng còn giữ nỏ

Trời Cổ Loa mây lông ngỗng sững sờ

Khi giặc đến trên mỗi vòng thành ốc

Vạn tên đồng sáng quắc giáo gươm khua

Ngàn năm trước lời thề đền Đồng Cổ

Thỉnh trống đồng về mở hội non sông

Đây linh vật của một thời Việt cổ

Nắng Đông Sơn còn vọng gió sông Hồng

Ngàn năm cũ Chiếu dời đô người thảo

Chọn Thăng Long thế rồng cuộn hổ ngồi

Nơi thắng địa ta nhìn sông tựa núi

Đặt kinh đô cho con cháu muôn đời

Ngàn năm trước Hoàng thành vừa khởi dựng

Điện Càn Nguyên tọa trên đỉnh núi Nùng

Lý Thái Tổ thiết triều trong gió sớm

Tiếng chuông chùa Trấn Quốc đọng thành sương

Còn vang bong suốt ngàn năm quật khởi

Bản tuyên ngôn trên chiến lũy sông Cầu

Lý Thường Kiệt ngâm bài thơ đuổi giặc

Núi sông này có chủ đã từ lâu

Thủa giặc đến Thăng Long thành chiến địa

Đông Bộ Đầu khói lửa ngút trời mây

Tiếng Sát Thát giục hùng binh xung trận

Hưng Đạo Vương truyền hịch giữa đêm dày

Thăng Long hỡi! Khi ba lần giặc đến

Hàm Tử Quan dậy sóng rửa máu thù

Đánh cho khiếp trống đồng rung bạc tóc

Bạch Đằng Giang cuồn cuộn đến tận giờ

Thủa Lê Lợi dấy binh đòi lại nước

Trúc Lam Sơn cũng nhọn hoắt tên đồng

Nhìn vó ngựa giặc tràn lên Ải Bắc

Núi non mình đâu cũng thấy Chi Lăng

Thăng Long gọi mùa hoa đào chiến trận

Tết Quang Trung hỏa hổ đốt Ngọc Hồi

Bầy voi chiến cùng mở đường xung trận

Vạn giặc thù tan tác phía hoa rơi

Đêm Hà Nội xẻ mình làm chiến lũy

Cả trung đoàn quyết tử giữ Thủ đô

Thắng giặc Pháp các anh về trở lại

Một rừng cờ xòe năm phía cửa ô

Đêm một chạp dưới mưa bom rải thảm

Đất Rồng bay nổi lửa quét giặc thù

Hà Nội đánh pháo đài bay tan xác

Sóng sông Hồng lại cuộn đỏ trong thơ

Ngàn năm trước, cha ông đi mở nước

Dựng Hoàng thành. Dựng hùng khí Thăng Long

Ngàn năm sau, cháu con đi giữ nước

Vẫn còn nguyên hùng khí thủa Tiên-Rồng.

– Trần Quốc Toàn –

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ

BÀI THƠ: HÀ NỘI YÊU DẤU

BÀI THƠ: HÀ NỘI YÊU DẤU

Ai về Hà Nội xa xôi,

Xin cho nhắn gửi giùm tôi đôi lời.

Thăng Long yêu dấu muôn đời,

Hồng Hà, Yên Phụ của thời tuổi thơ.

Những chiều hè đẹp như mơ,

Hồ Gươm phượng đỏ nguồn thơ chúng mình.

Thu sang vàng thắm duyên tình,

Cổ Ngư sánh bước bóng hình song đôi.

Từ ngày xa cách chia phôi,

Kẻ Nam người Bắc thương ôi não nề.

Lòng luôn khao khát ngày về,

Viễn du khắp xứ đam mê sông hồ.

Ra đi xây đắp cơ đồ,

Tìm tòi học hỏi cơ hồ giúp dân.

Đời người như thể phù vân,

Làm sao cho xứng con dân Lạc Hồng?

Thân trai thỏa chí tang bồng,

Vẻ vang Nước Việt, con Rồng cháu Tiên.

Con tim nhỏ máu lòng điên,

Tình quê lưu luyến, triền miên thương sầu.

Tóc xanh nay đã bạc màu,

Hội Lim, Kinh Bắc, sông Cầu làng xưa.*

Nhớ thương mắt lệ thu mưa,

Tuổi ngoài tám chục, ai đưa bây giờ?

Trời Thu lành lạnh sương mờ,

Tình thơ gửi gió và nhờ mây đưa.

Ngoài song lá rụng như mưa,

Lòng luôn nhớ bạn trường xưa thuở nào.

Thu sang càng nhớ dạt dào,

Hồ Gươm, Thê Húc, hàng Đào, hàng Ngang.

Tràng Tiền dạo phố thênh thang.

Hàng Đường, hàng Mã, bày “Hàng Trung Thu”.

Nhớ ngày kháng chiến biên khu,

Lạng Sơn, Bắc Cạn âm u sương mờ.

Thủ Đô giải phóng mong chờ,

Ngày về thả bộ quanh bờ Hồ Gươm.

Lòng buồn thổn thức nhớ thương,

Mơ ngày trở lại quê hương huy hoàng.

Trời xanh, mây trắng, nắng vàng,

Mùa Thu quê Mẹ xóm làng vinh quang.

– Thái Hưng –

Hà Nội yêu dấu
Hà Nội yêu dấu

Những câu nói hay về tình yêu cùng hình ảnh đẹp không thể bỏ qua

Phụ nữ, tình yêu và hoa có thể được xem là 3 điều xinh đẹp nhất trong cuộc đời này. Vậy thì còn gì tuyệt hơn nếu những lời nói của phụ nữ về tình yêu được thể hiện sinh động trên phông nền là những bức ảnh và hoa đúng không nào? Hãy cùng phongnguyet.info thưởng thức vẻ đẹp đó của tạo hóa thông qua bài viết Những câu nói hay về tình yêu cùng hình ảnh đẹp không thể bỏ qua ngay sau đây.

nhung-cau-noi-hay-ve-tinh-yeu-cung-hinh-anh-dep-khong-the-bo-qua-1

nhung-cau-noi-hay-ve-tinh-yeu-cung-hinh-anh-dep-khong-the-bo-qua-2

nhung-cau-noi-hay-ve-tinh-yeu-cung-hinh-anh-dep-khong-the-bo-qua-3

nhung-cau-noi-hay-ve-tinh-yeu-cung-hinh-anh-dep-khong-the-bo-qua-4

nhung-cau-noi-hay-ve-tinh-yeu-cung-hinh-anh-dep-khong-the-bo-qua-5

Những câu nói hay về tình yêu cùng hình ảnh đẹp không thể bỏ qua

nhung-cau-noi-hay-ve-tinh-yeu-cung-hinh-anh-dep-khong-the-bo-qua-6

nhung-cau-noi-hay-ve-tinh-yeu-cung-hinh-anh-dep-khong-the-bo-qua-7

nhung-cau-noi-hay-ve-tinh-yeu-cung-hinh-anh-dep-khong-the-bo-qua-8

nhung-cau-noi-hay-ve-tinh-yeu-cung-hinh-anh-dep-khong-the-bo-qua-9

nhung-cau-noi-hay-ve-tinh-yeu-cung-hinh-anh-dep-khong-the-bo-qua-10

Thật là đẹp và ấn tượng đúng không nào các bạn đọc thân thiết của phongnguyet.info? Bài viết Những câu nói hay về tình yêu cùng hình ảnh đẹp không thể bỏ qua trên đây quả thật đã mang đến cho người đọc những suy nghĩ và cảm nhận sâu sắc hơn về vẻ đẹp của tình yêu nói chung và vẻ đẹp của trái tim người phụ nữ trong tình yêu nói riêng. Hãy cùng chúng tôi chia sẻ bài viết này đến với nhiều người hơn nữa nhé!

Khát Vọng

Khát Vọng (Xuân Quỳnh)

Ngày còn bé ta mơ trăng tháng tám
Giữa đêm rằm bầy cỗ, vui chơi
Cùng bạn nhỏ rước đèn múa hát
Trống ếch lùng tùng náo nức trăng vui

Khi lớn khôn ước mơ càng cháy bỏng
Vai kề vai nghe rộn tiếng tim yêu
Trải tâm tư dưới trời trăng sáng
Cuộc đời ơi, đẹp biết bao nhiêu!

Chỉ thế thôi ư? Ta còn mơ ước
Thành nhà thơ ca ngợi cuộc đời
Những vần thơ cùng du hành vũ trụ
Sưởi ấm vừng trăng lạnh niềm vui

Đâu chỉ lên trăng, thơ ta còn bay khắp
Theo những con tàu cập bến các vì sao
Như lòng ta chẳng bao giờ nguôi khát vọng
Biết bay rồi, ta lại muốn bay cao

1962

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Khát Vọng” của tác giả Nguyễn Thị Xuân Quỳnh. Thuộc tập Chồi Biếc (1963), danh mục Thơ Xuân Quỳnh trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Nhà thơ Nguyễn Duy và tập thơ Đường xa (1989) phần cuối

Tập thơ Đường xa của nhà thơ Nguyễn Duy được đánh giá khá cao. Đó chính là một cuốn băng với đậm chất du ký đã ghi lại những thước phim bằng thơ từ Á sang Âu, sang Mỹ. Từ các vùng đất cổ kính này sang các thành phố hiện đại. Và cũng không thể thiếu được các cảm xúc từ hồi ức cho tới hiện tại đầy ắp các kỷ niệm và dấu ấn của thời gian. Hãy cùng tìm hiểu các bài thơ hay của Nguyễn Duy viết trong tập Đường xa bạn nhé!

Nội Dung

Ðối diện ngọn đèn
trang giấy trắng như xeo bằng ánh sáng

Đêm bắc bán cầu vần vụ trắng
nơm nớp ai rình sau lưng ta

Nhủ mình bình tâm nhìn về quê nhà
xa vắng
núi và sông
và vết rạn địa tầng

Nhắm mắt lại mà nhìn
thăm thẳm
yêu và đau
quằn quại bi hùng

Dù ở đâu vẫn Tổ Quốc trong lòng
cột biên giới đóng từ thương đến nhớ

*

Ngọn đèn sáng trắng nóng mắt quá
ai cứ sau mình lẩn quất như ma

Ai?
im lặng

Ai?
cái bóng!

A…
xin chào người anh hùng bất lực dài ngoẵng
bóng máu bầm đen sõng soài nền nhà

Thôi thì ta quay lại
chuyện trò cùng cái bóng máu me ta

*

Có một thời ta mê hát đồng ca
chân thành và say đắm
ta là ta mà ta vẫn mê ta

Vâng – đã có một thời hùng vĩ lắm
hùng vĩ đau thương hùng vĩ máu xương
mắt người chết trừng trừng không chịu nhắm

Vâng – một thời không thể nào phủ nhận
tất cả trôi xuôi – cấm lội ngược dòng

Thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ
ợ lên nhồn nhột cả tim gan

*

Ta đã xuyên suốt cuộc chiến tranh
nỗi day dứt khôn nguôi vón sạn gót chân
nhói dài mỗi bước

Thời hậu chiến ta vẫn người trong cuộc
xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày?

Ai?
không ai

Vết bầm đen đấm ngực

*

Xứ sở nhân tình
sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu
nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng

Mẹ liệt sĩ gọi con đội mồ lên đi kiện
ma cụt đầu phục kích nhà quan

Ai?
không ai

Vết bầm đen quều quào giơ tay

*

Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma
ma quái – ma cô – ma tà – ma mãnh…
quỉ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài

Đêm huyền hoặc
dựng tóc gáy thấy lòng toang hoác
mắt ai xanh lè lạnh toát lửa ma trơi

Ai?
không ai

Vết bầm đen ngửa mặt lên trời

*

Xứ sở linh thiêng
sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác
đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh

Giấy rách mất lề
tượng Phật khóc Ðức Tin lưu lạc
Thiện – Ác nhập nhằng
Công Lý nổi lênh phênh

Ai?
không ai

Vết bầm đen tọa thiền

*

Xứ sở thông minh
sao thật lắm trẻ con thất học
lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương

Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt
tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp
tuổi thơ bay như lá ngã tư đường

Bịt mắt bắt dê đâu cũng đụng thần đồng
mở mắt… bóng nhân tài thất thểu

Ai?
không ai

Vết bầm đen cúi đầu lặng thinh

*

Xứ sở thật thà
sao thật lắm thứ điếm
điếm biệt thự – điếm chợ – điếm vườn…

Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng
điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn

Vật giá tăng
vì hạ giá linh hồn

Ai?
không ai

Vết bầm đen vò tai

*

Xứ sở cần cù
sao thật lắm Lãn Ông
lắm mẹo lãn công

Giả vờ lĩnh lương
giả vờ làm việc

Tội lỗi dửng dưng
lạnh lùng gian ác vặt
Đạo Chích thành tôn giáo phổ thông

Ào ạt xuống đường các tập đoàn quân buôn
buôn hàng lậu – buôn quan – buôn thánh thần – buôn tuốt…
quyền lực bày ra đấu giá trước công đường

Ai?
không ai

Vết bầm đen nhún vai

*

Xứ sở bao dung
sao thật lắm thần dân lìa xứ
lắm cuộc chia ly toe toét cười

Mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái góa
chen nhau sang nước người làm thuê

Biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnh
nhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về

Ai?
không ai

Vết bầm đen rứt tóc

*

Xứ sở kỷ cương
sao thật lắm thứ vua
vua mánh – vua lừa – vua chôm – vua chĩa
vua không ngai – vua choai choai – vua nhỏ…

Lãnh chúa sứ quân san sát vùng cát cứ
lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa

Luật pháp như đùa – như có – như không có
một người đi chật cả con đường

Ai?
không ai

Vết bầm đen gập vuông thước thợ

*

?…
?…
?…

*

Ai?
Ai?
Ai?

không ai!

Tự vấn – mỏi
vết bầm đen còng còng dấu hỏi

*

Thôi thì ta trở về
còn trang giấy trắng tinh chưa băng hoại
còn chút gì le lói ở trong lòng

*

Đôi khi nổi máu lên đồng
hồn thoát xác
rũ ruột gan ra đếm

Chích một giọt máu thường xét nghiệm
tí trí thức – tí thợ cày – tí điếm
tí con buôn – tí cán bộ – tí thằng hề
phật và ma… mỗi thứ tí ti…

Khốn nạn thân nhau
nặng kiếp phân thân mặt nạ

Thì lột mặt nạ đi – lần lữa mãi mà chi
dù dối nữa cũng không lừa được nữa
khôn và ngu đều có tính mức độ

*

Bụng dạ cồn cào bất ổn làm sao
miếng quá độ nuốt vội vàng sống sít
mất vệ sinh bội thực tự hào

Sự thật hôn mê – ngộ độc ca ngợi
bệnh và tật bao nhiêu năm ủ lại
biết thế nhưng mà biết làm thế nào

Chả lẽ bây giờ bốc thang chửi bới
thấy chửi bới nhe giàn nanh cơ hội

Chả lẽ bốc thang cỏ khô nhai lại
lạy ông-cơ-chế lạy bà-tư-duy…
xin đừng hót những lời chim chóc mãi

Đừng lớn lời khi dân lành ốm đói
vẫn còng làm cho thẳng lưng ăn

Đổi mới thật không hay giả vờ đổi mới?
máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng?

*

Thật đáng sợ ai không có ai thương
càng đáng sợ ai không còn ai ghét

Ngày càng hiếm hoi câu thơ tuẫn tiết
ta là gì?
ta cần thiết cho ai?

*

Có thể ta không tin ai đó
có thể không ai tin ta nữa
dù có sao vẫn tin ở con người

Dù có sao
đừng khoanh tay
khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối

Cái tốt nhiều hơn sao cái xấu mạnh hơn?
những người tốt đang cần liên hiệp lại

*

Dù có sao
vẫn Tổ Quốc trong lòng
mạch tâm linh trong sạch vô ngần
còn thơ còn dân
ta là dân – vậy thì ta tồn tại

*

Giọt từng giọt
nặng nhọc

Nặng nhọc thay

Dù có sao
đừng thở dài
còn da lông mọc còn chồi nảy cây

Thế là qua băng giá ảm đạm dài
nắng ngàn xưa về giặt giũ vòm trời
lênh láng cái sự đời phơi phóng

Trước nắng
vạn vật đều bình đẳng
cành cây phơi cơn run rẩy sinh chồi
con chim phơi giọng hót
con đường phơi bóng người

Và người già ngồi phơi trầm ngâm
trẻ con phơi bước chân tung tăng
các chàng trai phơi trần sức vóc
các em công khai phơi cái đẹp vĩnh hằng

Và… tường cao phơi khẩu hiệu tươi rói
tờ báo phơi cụm từ pê-rét-xtrôi-ka
trang thơ phơi khúc ca đổi mới
tôi ngồi phơi một nỗi nhớ nhà

Rồi nỗi nhớ nào cũng sẽ sần chai
rồi sẽ cũ những khúc ca mới hát
rồi cụm từ trên báo sẽ phai
rồi câu khẩu hiệu một mai đổi dời…

Tôi muốn đem phơi
vài câu thơ còn ướt

Câu thứ nhất:
nắng cải tổ trần gian rất tuyệt!

Câu thứ hai:
mãi mãi phơi tươi cái đẹp muôn đời!

Câu thứ ba…

Mà thôi!…

Trước khi có người trái đất đã có cây
thân thể người lấy cây ra mà ví
lá và cành
hoa rồi quả
sự bền vững so cùng gốc rễ
tuổi trẻ em thì ứng với màu xanh

Tôi đã qua những cánh rừng chiến tranh
mùi cây cháy xót xa như thịt cháy
tôi đã ở những vùng đồi trơ trụi
nhớ cỏ cây như nhớ vợ con mình

Matxcơva của em
thành phố trong rừng
rừng trong thành phố
đại lộ sáng trưng từng chùm táo đỏ
người ta hái nấm đâu đây
vườn lá nhọn kêu ồn tiếng quạ

Cây sát bên nhà
nhà sát bên cây
người con trai sát bên người con gái

Đôi mắt em cười
quê tôi gọi là mắt lá răm đầy…

Tặng Linh và Long

Miếng băng mỏng trôi đi chút lạnh lẽo cuối cùng
tia nắng mỏng ấm khoảng trời năm ngoái
hy vọng vốn mỏng manh
le lói

Đừng vội
trơn con đường tuyết tan
tuồn tuột trôi dấu chân thuyền giấy
gót giày khua lốp cốp mõ luân hồi

Đừng vội
mặc ai thụ tinh nhân tạo cho thơ
rặn ra mà làm gì bài thánh ca giả dối
số phận vinh quang mỏng mảnh đến không ngờ

Đừng vội
ta tự nhủ và ta lững thững
đồi Lê-nin dốc dựng
sông Mat-xcơ-va mong mỏng vàng phù điêu
chiều như sương
thương nhớ mỏng như chiều

Đừng vội
ta lững thững và ta chờ đợi
mùa hạ về trên lá biếc tưng bừng
thiếu nữ ấm như màu hồng trên má
áo mỏng bập bùng
Vệ-nữ đi ngược nắng
ngược gió…
Ta chờ…

Lẳng lặng cúi đầu trước cánh rừng thông
mỗi cây xanh có một người dưới gốc

Những luống rừng tươi tốt cỏ và hoa
mộ đấy ư… bằng phẳng như mặt đất

Chủ tịch nước đầu tiên nằm cạnh bác đánh cờ
người thợ dệt kề bên nhà nghệ sỹ…

Tìm gốc cây làm giấc ngả lưng thôi
cõi siêu thoát thảnh thơi và giản dị

Nến quả thông vàng… hàng bia đá nhỏ…
bình đẳng và bác ái nhẹ nhàng không

Dìu dịu gió hát bài ca êm ái
sống yên vui và nằm xuống yên lòng…

Với hoàng hôn Ta-sken

Nghe đồn xứ bạn vừa cai rượu
trời chiều càng mông lung hơi men
một cốc không gian tràn vang đỏ
chuếnh choáng hoàng hôn Ta-sken

(Tasken, 25.8.1985)

Với sông Nê-va

Sông lung linh đền đài và cung điện
thời hoang vu hiu quạnh trôi qua rồi
thử phân chất giọt nước sông lưu niệm
máu một phần. Phần còn lại: mồ hôi!

(Lêningrát, 9.1985)

Với Xi-ôn-côp-xki

Người mơ mộng với thiên hà
lại nhằm Mat-xcơ-va trở về
trời sao là cõi đam mê
để thêm yêu mặt đất quê hương mình

tặng nhà thơ N. Lu-kip
với đội bóng Đi-na-mô Ki-ép của bạn

Ta đang sống thời vi điện tử
sân cỏ rộng ra kín mặt địa cầu
bóng đá thành thơ không cần phiên dịch
quả bóng thành ngôn ngữ của năm châu

Phút dàn trận… cầu thủ dàn chữ cái
lẻ loi từng nguyên âm, phụ âm
phút cảm hứng sục sôi biến ảo
thành tứ thơ, thành nhạc điệu, thành vần…

Bao nhiêu người bị quả bóng thôi miên
như trai gái bị thơ tình cám dỗ
thơ có làm cho ai phát điên?
bóng đá đã làm nên chuyện đó

Ngày một gần nhau – thơ và bóng đá
thẳng và nhanh – bớt bay bướm bườm rườm
bớt dông dài để thêm hiệu quả
không ngại ngùng va chạm, chấn thương

Vì thế mà ở Đông Nam châu Á
tôi là người Ki-ép-cổ động-viên
tôi say ngọn cuồng phong Bê-la-nốp
điệu kèn đồng bền bỉ Blô-khin…

Sân bóng mở như trang sách mở
có chút gì lắng đọng cũng như thơ
chút vững chãi lạnh lùng Cha-nốp
chút thâm trầm Đê-mi-a-nen-cô…

Cũng như thơ – đi quanh mà đến thẳng
truyền cảm tuyệt vời tia chớp suy tư
sâu sắc lắm đường lượncong của Rát
nét tài hoa Da-va-rốp tu từ…

Ngày một gần nhau – thơ và bóng đá
thẳng và nhanh – bớt uốn éo lằng nhằng
nhằm cầu môn trái tim người hâm mộ
công phá bằng sắc đẹp của tài năng

tặng chị Lê Giang

Cốc… cốc… cốc…
bình minh Ban-tích đánh thức mình chăng
ồ không
chú hải âu to đùng mổ vào kính cửa sổ
và líu ríu lũ cu cườm, se sẻ

Thực tình mình không có gì cho chim cả
mẩu bánh mì khô vỡ vụn từ đêm qua
con chim biển gật gù
được… được… được…

Cứ thế, những ban mai Ta-lin
bầy chim trời đánh thức tôi từ tầng nhà thứ hai mươi
vui vẻ chia nhau vụn bánh mì rồi bay đi
dửng dưng như chả có chuyện gì

Quê tôi, nơi chiến tranh kéo dài
chim trời tới nhà là điềm lạ
ở đây thì chả có gì lạ cả
nhìn lên nhà Ô-lem-pia cao vời
mọi cửa sổ của người
đều có chim tới gõ

Thế là tôi có thêm một thứ gì đó
nhét vào cái tay nải quả mướp của đời mình
tiếng chim trời nhặt được ở Ta-lin
tiếng thiên nhiên

cốc… cốc… cốc…

Trên đây là những bài thơ cuối cùng mà Nguyễn Duy viết trong tập thơ Đường xa. Ở đó tác giả đã mang chúng ta đi qua rất nhiều khung cảnh của thiên nhiên. Từ các lối kiến trúc của quá khứ cho tới hiện tại. Đó cũng chính là cái hay của nhà thơ này. Để rồi vẫn luôn ráo riết trong lòng của mỗi người chính là hình bóng quê nhà sâu đậm. Đừng quên đón đọc các bài viết tiếp theo của chúng tôi để cùng cập nhật những bài thơ hay nhất bạn nhé!