Câu thơ tài hoa được nhiều người tìm đọc nhất hôm nay 30/03/2026

Khỏa mình trong vắt sông Thao
Bụi trần xưa sóng dạt dào cuốn đi
Ta thanh bạch đến vô vi
Em thăm thẳm mắt từ bi nhìn đời

Để rồi khát cháy đôi môi
Để rồi vò võ rạc rời xác ve
Để rồi đăm đắm đêm hè
Để rồi mắc nợ câu thề gió bay ...

Sông Thao - Lương Định

Top 20 bài thơ có tổng lượt xem nhiều nhất hôm nay 30/03/2026

Lòng Yêu Đương

Lòng Yêu Đương

Lòng Yêu Đương (Nguyễn Bính)

Yêu yêu yêu mãi thế này!
Tôi như một kẻ sa lầy trong yêu
Cao bao nhiêu thấp bấy nhiêu
Một hai ba bốn năm chiều rồi… thôi

Nơi này chán vạn hoa tươi
Để yên tôi hái đừng mời tôi lên
Một đi làm nở hoa sen
Một cười làm rụng hàng nghìn hoa mai
Hương thơm như thể hoa nhài
Những môi tô đậm làm phai hoa đào
Nõn nà như thể hoa cau
Thân hình yểu điệu ra màu hoa lan

Ai yêu như tôi yêu nàng
Họp nhau lại, họp thành làng cho xinh
Chung nhau dựng một trường đình
Thờ riêng một vị thần linh là Nàng…

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Lòng Yêu Đương” của tác giả Nguyễn Trọng Bính. Thuộc tập Người Con Gái Lầu Hoa (1941), danh mục Thơ Nguyễn Bính trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Nhà thơ Nam Trân và những bài thơ dịch của Đỗ Phủ hấp dẫn nhất phần 2

死別已吞聲,
生別長惻惻。
江南瘴癘地,
逐客無消息。
故人入我夢,
明我長相憶。
君今在羅網,
何以有羽翼?
恐非平生魂,
路遠不可測。
魂來楓林青,
魂返關山黑。
落月滿屋梁,
猶疑照顏色。
水深波浪闊,
無使蛟龍得。

Mộng Lý Bạch kỳ 1

Tử biệt dĩ thôn thanh,
Sinh biệt thường trắc trắc.
Giang Nam chướng lệ địa,
Trục khách vô tiêu tức.
Cố nhân nhập ngã mộng,
Minh ngã trường tương ức.
Quân kim tại la võng,
Hà dĩ hữu vũ dực.
Khủng phi bình sinh hồn,
Lộ viễn bất khả trắc.
Hồn lai phong lâm thanh,
Hồn phản quan tái bắc.
Lạc nguyệt mãn ốc lương,
Do nghi chiếu nhan sắc.
Thuỷ thâm ba lãng khoát,
Vô sử giao long đắc.

Dịch nghĩa

Người chết đi là đã hết lời
Người còn sống thì lúc nào cũng thương xót
Giang Nam là nơi chướng độc
Người bị đày không nghe tin tức
Cố nhân đi vào trong mộng
Biết là ta nhớ nhung đã lâu nay
Tôi e rằng hồn bạn không được như ý lắm
Nhưng lâu nay đường xá xa xôi không gặp không biết có phải vậy không
Hồn về đây cánh rừng phong xanh ngát
Hồn trở lại miền quan tái đen tối xa xăm
Bạn giờ đây đã nằm sa trong lưới
Làm sao mà có lông cánh bay bỗng khắp nơi
Trăng xuống chiếu trên rường nhà
Còn ngờ như đang soi trên khuôn mặt bạn
Nước thì sâu sóng thì lớn
Mong bạn coi chừng cẩn thận con thuồng luồng dưới nước

Dịch

Chết xa nhau nín đã đành
Sống xa nhau để đinh ninh bên lòng
Giang nam hơi độc mịt mùng
Khách đi đày biết vân mồng ra sao
Chiêm bao ta bạn lẻn vào
Rõ lòng ta chẳng lúc nào lúc quên
Biết đâu cách trở đôi miền
Sợ khi không phải hồn quen mọi ngày
Hồn về xanh ngắt ngàn cây
Hồn đi quan ải bóng mây đen rầm
Bạn nay dò lưới giam cầm
Cách nào vượt được xa xăm canh dài
Xà nhà trăng lặn rọi soi
Còn như nhác thấy mặt người năm xưa
Sông sâu sóng nước không bờ
Giữ mình chớ để sa cơ thuồng luồng

浮雲終日行,
遊子久不至。
三夜頻夢君,
情親見君意。
告歸常局促,
苦道來不易。
江湖多風波,
舟楫恐失墬。
出門搔白首,
若負平生志。
冠蓋滿京華,
斯人獨憔悴。
孰雲網恢恢,
將老身反累。
千秋萬歲名,
寂寞身後事。

Mộng Lý Bạch kỳ 2

Phù vân chung nhật hành,
Du tử cửu bất chí.
Tam dạ tần mộng quân,
Tình thân kiến quân ý.
Cáo quy thường cục xúc,
Khổ đạo lai bất dị.
Giang hồ đa phong ba,
Chu tiếp khủng thất truỵ.
Xuất môn tao bạch thủ,
Nhược phụ bình sinh chí.
Quan cái mãn kinh hoa,
Tư nhân độc tiều tuỵ.
Thục vân võng khôi khôi,
Tương lão thân phản luỵ.
Thiên thu vạn tuế danh,
Tịch mịch thân hậu sự.

Dịch nghĩa

Mây trôi bềnh bồng cả ngày nay
Người khách ham chơi lâu ngày không thấy tới
Ba hôm nay nằm mộng thấy bạn
Thâm tình của bạn lộ rõ ta thấy
Lúc cáo từ bạn có vẻ bồn chồn không an
Nói rằng đường xá khó khăn không dễ lại thăm
Sông hồ nhiều sóng gió
Chèo lái sợ sẩy tay chìm thuyền
Ra cửa còn xoa xoa đầu tóc bạc
Có vẻ như nghịch ý mình sao đó
Nào mũ, nào lọng đầy kinh đô
Chỉ có mình người này là tiều tuỵ
Ai bảo lưới trời lồng lộng
Về già rồi hoá ra thân lại bị luỵ
Ngàn năm vạn năm sau danh tiếng
Nhưng chết đi rồi thì im lìm chẳng còn gì để nói

Dịch

Mây nổi chạy quanh ngày
Khách du đâu vắng biệt
Ba đêm gặp bác luôn
Lòng tôi bác đã biết
Lối lại kêu khó khăn
Ðòi về chi mải miết
Sông hồ sóng gió nhiều
Chèo lái lo khôn xiết
Chí cũ chắc không đành
Bước ra đầu lắc riết
Ðầy kinh mũ lọng ai
Người ấy riêng thua thiệt
Ðeo lụy lúc hồ già
Ai rằng trời xét nét
Muôn năm tiếng để đời
Vô ích sau khi chết

病減詩仍拙,
吟多意有余。
莫看江總老,
猶被賞時魚。

Phục sầu kỳ 12

Bệnh giảm thi nhưng chuyết,
Ngâm đa ý hữu dư.
Mạc khan Giang Tổng lão,
Do bị thưởng thì ngư.

Dịch nghĩa

Bệnh giảm, thơ vẫn còn vụng,
Ngâm nhiều, ý có thừa.
Chớ coi cái ông già Giang Tổng này,
Còn bận thưởng thức cá đang mùa.

天下郡國向萬城,
無有一城無甲兵。
焉得鑄甲作農器,
一寸荒田牛得耕。
牛盡耕,
蠶亦成。
不勞烈士淚滂沱,
男穀女絲行復歌。

Tàm cốc hành

Thiên hạ quận quốc hướng vạn thành,
Vô hữu nhất thành vô giáp binh!
Yên đắc chú giáp tác nông khí,
Nhất thốn hoang điền, ngưu đắc canh.
Ngưu tận canh,
Tàm diệc thành.
Bất lao liệt sĩ lệ bàng đà,
Nam cốc, nữ ti, hành phục ca.

Dịch nghĩa

Thiên hạ kể hàng vạn thành trì,
Không thành nào không có binh đao!
Uớc gì khí giới được đúc làm nông cụ,
Và một tấc ruộng hoang trâu cũng được cày.
Trâu cày hết ruộng,
Tằm tang cũng thành công.
Không phiền các liệt sĩ phải tầm tã nước mắt,
Trai cày ruộng, gái canh cửi, vừa làm vừa ca.

Dịch

Dưới trời các quận khắp muôn thành
Không có thành nào không giáp binh
Ước sao áo giáp đúc cày cuốc
Một tấc ruộng hoang chẳng phế canh
Ruộng chẳng phế canh
Tằm chăn cũng xinh
Khỏi phiền liệt sĩ lệ tuôn sa
Trai cày gái dệt thảy vui ca.

客行新安道,
喧呼聞點兵,
借間新安吏,
縣小更無丁?
府帖昨夜下,
次選中男行。
中男絕短小,
何以守王城?
肥男有母送,
瘦男獨伶俜。
白水暮東流,
青山猶哭聲。
莫自使眼枯,
收汝淚縱橫。
眼枯即見骨,
天地終無情。
我軍取相州,
日夕望其平。
豈意賊難料,
歸軍星散營。
就糧近故壘,
練卒依舊京。
掘壕不到水,
牧馬役亦輕。
況乃王師順,
撫養甚分明。
送行勿泣血,
僕射如父兄。

Tân An lại

Khách hành Tân An đạo
Huyện hô ao điểm binh
Tá vấn Tân An lại
Huyện tiểu cánh vô đinh
Phủ thiếp tạc dạ há
Thứ tuyển trung nam hành
Trung nam tuyệt đoản tiểu
Hà dĩ thủ vương thành?
Phì nam hữu mẫu tống
Sấu nam độc linh bình
Bạch thuỷ mộ đông lưu
Thanh sơn do khốc thanh
Mạc tự sử nhãn khô
Thu nhữ lệ tung hoành
Nhãn khô tức kiến cốt
Thiên địa chung vô tình!
Ngã quân thủ Tương Châu
Nhật tịch vọng kỳ bình
Khởi ý tặc nan liệu
Qui quân tinh tản doanh
Tựu lương cận cố luỹ
Luyện tốt y cựu kinh
Quật hào bất đáo thuỷ
Mục mã dịch diệc khinh
Huống nãi vương sư thuận
Phủ dưỡng thậm phân minh
Tống hành vật khấp huyết
Bộc dịch như phụ huynh!

Dịch nghĩa

Khách qua đường Tân An
Nghe rầm rộ bắt lính
Ướm hỏi viên lại Tân An
Rằng huyện nhỏ hết cả trai tráng
Đêm qua quan phủ lại hạ trát
Bắt tuyển xuống hạng trung nam
Trung nam thấp bé quá
Giữ sao nổi thành nhà vua?
Hạng trai mập mạp có mẹ đi tiễn
Riêng hạng gầy nhàng thất thễu lẽ loi
Chiều rồi, dòng nước bạc vẫn cứ xuôi đông
Tận dãy núi xanh còn vang tiếng khóc
Thôi! Đừng làm cho mắt mình khô đi nữa
Hãy ngừng những hàng lệ ngổn ngang lại
Mắt khô tức là trơ xương
Trời đất bao giờ cũng dửng dưng lạnh nhạt
Quân ta đã lấy được châu Tương
Sớm chiều những mong yên ổn
Ai ngờ thế giặc khôn lường
Quân rút về các trại tản mát
Muốn tiện lương, phải đóng gần luỹ cũ
Để luyện quân lính phải dựa kinh xưa
Đào hào không đào đến nước
Chăn ngựa cũng là việc nhẹ nhàng
Huống chi quân nhà vua là chính nghĩa
An ủi, nuôi dưỡng rất phân minh
Buổi tiễn đưa đừng khóc lóc thảm thiết nữa
Có quan bộc dịch chẳng khác gì cha anh!

Dịch

Khách qua đường Tân An
Nhộn nhịp nghe điểm binh
Hỏi thăm, thầy thông bảo:
“Huyện nhỏ không còn đinh!
Hôm qua trát phủ xuống,
Sung số tuyển cho nhanh!”
Số tuyển thấp bé quá,
Giữ sao nổi đô thành?
Anh béo, mẹ đưa chân,
Anh gầy nhìn loanh quanh.
Nước bạc chiều chảy xuôi,
Tiếng khóc vang non xanh!
Khóc chi cho hốc mắt?
Nín đi thôi các anh!
Dẫu cho khóc rũ xương,
Trời đất vẫn vô tình!
Quân ta lấy Tương Châu,
Hôm sớm mong thanh bình!
Lính chạy, trại tan vỡ,
Liệu giặc, ai người tinh!
Vận lương tới trước trận,
Rèn lính ngay miền Kinh,
Đào hào chưa tới nước,
Chăn ngựa việc cũng lành.
Quân ta đương thắng thế,
Nuôi nấng rất phân minh.
Quan tướng như mẹ, cha,
Khóc chi khi tiễn hành?

中興諸將收山東,
捷書夜報清晝同。
河廣傳聞一葦過,
胡危命在破竹中。
只殘鄴城不日得,
獨任朔方無限功。
京師皆騎汗血馬,
回紇喂肉葡萄宮。
已喜皇威清海岱,
常思仙仗過崆峒。
三年笛里關山月,
萬國兵前草木風。
成王功大心轉小,
郭相謀深古來少。
司待清鑒懸明鏡,
尚書氣與秋天杳。
二三豪俊為時出,
整頓乾坤濟時了。
東走無復憶鱸魚,
南飛覺有安巢鳥。
青春復隨冠冕入,
紫禁正耐煙花繞。
鶴禁通宵風輦備,
雞鳴問寢龍樓曉。
攀龍附風勢莫當,
天下盡化為侯王。
汝等豈知蒙帝力?
時來不得誇身強。
關中既留蕭丞相,
幕下復用張子房。
張公一生江海客,
身長九尺鬚眉蒼。
征起適遇風雲會,
扶顛始知籌策良。
青袍白馬更何有?
後漢今周喜再昌。
寸地尺天皆入貢。
奇祥異端爭來送:
不知何國致白環,
復道諸山得銀瓮。
隱士休歌紫芝曲,
詞人解撰河清頌。
田家望望惜雨乾,
布谷處處催春種。
淇上健兒歸幕懶,
城南思婦愁多夢。
安得壯士挽天河,
淨洗甲兵長不用!

Tẩy binh mã

Trung hưng chư tướng thu Sơn Đông,
Tiệp thư dạ báo thanh trú đồng.
Hà Quảng truyền văn nhất vi quá,
Hồ nguy mệnh tại phá trúc trung.
Chỉ tàn Nghiệp thành bất nhật đắc,
Độc nhiệm sóc phương vô hạn công.
Kinh sư giai kỵ hãn huyết mã,
Hồi Ngột ổi nhục Bồ Đào cung.
Dĩ hỉ hoàng y thanh Đạt Hải,
Thường tư tiên trượng quá Không Đồng.
Tam niên địch lý “Quan san nguyệt”,
Vạn quốc binh tiền thảo mộc phong.
Thành Vương công đại tâm chuyển tiểu,
Quách tướng mưu thâm cổ lai thiểu.
Tư đồ thanh giám huyền minh kính,
Thượng thư khí dữ thu thiên diễu?
Nhị tam hào tuấn vị thì xuất,
Chỉnh đốn càn khôn tế thì liễu.
Đông tẩu vô phục ức lô ngư,
Nam phi giác hữu an sao điểu.
Thanh xuân phục tuỳ quan miên nhập,
Tử cấm chính nại yên hoa nhiễu.
Hạc giá thông tiêu phượng liễn bị,
Kê minh vấn tẩm long lâu hiểu.
Phan phong phụ phượng thế mạc đương,
Thiên hạ tận hoá vi hầu vương.
Nhữ đẳng khởi tri mông đế lực,
Thì lai bất dắc khoa thân cường.
Quan Trung ký lưu tiêu thừa tướng,
Mạc hạ phục dụng Trương Tử Phòng.
Trương công nhất sinh giang hải khách,
Thân trường cử xích, tu mi thương.
Trưng khởi thích ngộ phong vân hội,
Phù điên thuỷ tri trù sách lương.
Thanh bào bạch mã cánh hà hữu,
Hậu Hán kim Chu hỉ tái xương.
Thốn địa xích thiên giai nhập cống,
Ký tường dị thuỵ tranh lai tống.
Bất tri hà quốc trí bạch hoàn,
Phục đạo chư sơn đắc ngân úng.
Ẩn sĩ hưu ca “Tử chi” khúc,
Từ nhân giải soạn “Hà thanh” tụng.
Điền gia vọng vạng tích vũ can,
Bố cốc xứ xứ thôi xuân chủng.
Kỳ thượng kiện nhi quy mạc lãn,
Thành nam tư phụ sầu đa mộng.
An đắc tráng sĩ vãn thiên hà,
Tĩnh tẩy giáp binh trường bất dụng.

Dịch nghĩa

Các tướng trung hưng thu lại Sơn Đông,
Tin thắng trận báo về suốt ngày đêm.
Sông rộng, nghe nói thuyên nan cũng qua được?
Vận mệnh giặc hồ mong manh như tre bị chẻ.
Còn thành Nghiệp, chưa đầy một ngày sẽ hạ xong,
Viên tướng độc nhiệm miền bắc có công rất lớn.
Ở kinh đô toàn người cưỡi giống ngựa hãn huyết,
Quân Hồi Ngột no thịt ở cung Bồ Đào.
Đã mừng vì uy danh vua dẹp yên vùng Hải Đại,
Thường nhớ khi xe ngựa vua qua núi Không Đồng.
Ba năm nghe sáo thổi bài “Quan san nguyệt” (Trăng quan ải),
Muôn nước trước đoàn quân như cỏ bị gió bạt.
Thành vương công lớn mà lòng cẩn thận, kiêm tốn,
Quách tướng mưu sâu xưa nay ít có.
Tư đồ sáng suốt như tấm gương treo,
Thượng thư khí phách cao xa như trời thu.
Vài ba kẻ tài giỏi vì thời thế mà ra,
Sắp đặt trời đất làm song việc cứu đời.
Người chạy đông không còn phải nhứ cá vược,
Kẻ xuôi nam cảm thấy như tìm về tổ ấm.
Vẻ thanh xuân lại theo các quan vào chầu,
Cung điện tôn nghiêm có hoa khói vây phủ.
Xe hạc đi lại suốt đêm, xe phượng trực chờ sẵn,
Gà gáy, sớm vào lầu rồng vấn an nhà vua.
Quyền thế bọn vin rồng náu phượng ai bì kịp,
Thiên hạ như trở thành toàn bậc hầu vương.
Các ngươi nên biết đó là nhờ uy lực của vua,
Chứ kẻ gặp thời may chớ khoe tài cậy sức.
Quan Trung đã để Tiêu Hà lên làm thừa tướng,
Dưới trướng lại dùng Trương Lương.
Ông Trương vốn là người của sông bể,
Mình cao chín thước râu tóc trắng phau.
Được vua vời, gặp hội gió mây,
Chống thế nguy, mới biết mưu giỏi.
Giặc áo xanh ngựa trắng không cò nữa,
Sau Hán nay chu lại mừng được thịnh trị.
Dù tấc đất thước trời cũng đều vào cống,
Điềm lành vật lạ đua nhau dâng lên,
Không rõ nước nào hiến vòng ngọc trắng.
Lại nghe nói trong núi bắt được bình bạc,
Kẻ ẩn dật không hát bài “Tử chi ca” nữa.
Văn nhân cho rằng phải làm bài “Từ thanh tụng”,
Nhà nông mong cho mưa nắng thuận hoà.
Khắp nơi, chim bố cốc giục gieo mạ xuân,
Lính sông Kỳ hãy về đi đừng chần chờ,
Thiếu phụ thành Nam nhớ chồng, buồn mơ nhiều…
Sao có tráng sĩ kéo sông Ngân xuống,
Rửa sạch dao mác, mãi mãi không dùng.

Dịch

Trung hưng các tướng lấy Sơn Đông,
Thắng trận tin đưa sớm, tối trùng.
Đem thế chẻ tre đè mạng giặc,
Mượn tầu lá sậy vượt dòng sông.
Sóc phương lập được bao công cả,
Nghiệp quận nay mai sẽ hạ xong.
Hồi Ngột đưa thêm quân trợ thuận,
Kinh sư đều cưỡi ngựa truy phong.
Đã mừng oai chúa vang Tề, Lỗ,
Còn nhớ xe loan tới Không Đồng.
Sáo thổi ba năm quan quan ải lạnh.
Quân đồn muôn nước gió cây rung!
Thành Vương công lớn long càng nhỏ,
Quách tướng mưu sâu đời hiếm có.
Thượng thư khí khái nhất trời thu,
Tư đồ sang suốt treo gương tỏ.
Hào kiệt vài tay ra giúp đời,
Kiền khôn sắp đặt đâu ra đó.
Sang đông khỏi nhớ cá quê nhà,
Về nam đã thấy chim yên tổ.
Áo xiêm thấm đượm ánh xuân xanh,
Hoa khói điểm tô cung cấm đỏ.
Xe hạc đêm chờ kiệu phượng về,
Canh gà sớm viếng lầu rồng ngủ.
Víu phượng, vin rồng khéo bảo nhau,
Trong đời vô số kẻ sang giàu!
Gặp thời xin chớ khoe mình giỏi,
Nên nhớ ơn vua nặng đến đâu!
Trong ải đã dùng Tiêu tướng quốc,
Dưới màn lại sẵn Trương Lưu hầu.
Ông Trương người của miền sông biển,
Chín thước mình cao, bạc tóc râu!
Gặp hội gió mây ra giúp nước,
Nước nguy mới thấy rõ mưa cao.
Áo xanh, ngựa bạch còn chi nữa,
Đời trị, dân yên lại bắt đầu!
Gang trời, tấc đất đều vào cống,
Triệu lạ, điềm lành nhiều lủng nhủng!
Có nước đem dâng vòng “bạch hoàn”,
Trong non lại được chum “ngân úng”.
Thi nhân vịnh mãi cảnh sông trong,
Ẩn sĩ thiết gì cỏ tiên rụng.
Đâu đấy nhà nông thấy khát mưa,
Véo von chim nội giục: gieo giống!
Trai tài mặt trận liệu mau về!
Vợ trẻ bên thành đương tiếc mộng.
Muốn kéo dòng Ngân rửa giáo gươm,
Xếp xó từ đây không động dụng!

涼風起天末,
君子意如何。
鴻雁幾時到,
江湖秋水多。
文章憎命達,
魑魅喜人過。
應共冤魂語,
投詩贈汨羅。

Thiên mạt hoài Lý Bạch

Lương phong khởi thiên mạt,
Quân tử ý như hà?
Hồng nhan kỷ thời đáo,
Giang hồ thu thuỷ đa.
Văn chương tăng mệnh đạt,
Lị vị hỉ nhân qua.
Ưng cộng oan hồn ngữ,
Ðầu thi tặng Mịch La.

Dịch nghĩa

Trong lúc gió mát nổi lên ở nơi cuối trời,
Bạn có ý nghĩ ra sao?
Biết bao giờ chim hồng nhạn mới tới đây?
Sông hồ có nhiều nước thu.
Văn chương thường ghét hạnh vận hanh thông;
Yêu quái vui mừng khi thấy có người đi qua.
Lúc này chắc bạn đang trò chuyện với hồn oan của Khuất Nguyên,
Và ném thơ xuống tặng ở sông Mịch La.

Dịch

Cuối trời nổi gió lạnh,
Quân tử nghĩ sao à?
Hồng nhạn bao giờ đến,
Sông hồ dẫy bao la.
Văn chương ghét vận đạt,
Quỉ quái gào người qua.
Nhắn hỏi hồn oan uổng,
Trao thơ dòng Mịch La.

急雨捎溪足,
斜暉轉樹腰。
隔巢黃鳥并,
翻藻白魚跳。

Tuyệt cú lục thủ kỳ 4

Cấp vũ sao khê túc,
Tà huy chuyển thụ yêu.
Cách sào hoàng điểu tịnh,
Phiên tảo bạch ngư khiêu.

Dịch nghĩa

Mưa rào lướt qua chân khe,
Ánh chiều tà chiếu ngang thân cây.
Đôi chim vàng oanh đứng cạnh nhau bên tổ,
Cá trắng nhảy lật tung cả rong.

Dịch

Chân suối mưa rào lướt
Lưng cây bóng xế lồng
Oanh vàng gù cách tổ
Cá trắng nhảy tung rong

兩個黃鸝鳴翠柳,
一行白鷺上青天。
窗含西嶺千秋雪,
門泊東吳萬里船。

Tuyệt cú tứ thủ kỳ 3

Lưỡng cá hoàng ly minh thuý liễu,
Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên.
Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,
Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền.

Dịch nghĩa

Hai con hoàng anh hót trong hàng liễu biếc,
Một hàng cò trắng bay vút lên trời xanh.
Song cửa ngậm tuyết núi Tây Lĩnh đã từ nghìn năm,
Ngoài cửa đậu những con thuyền của Đông Ngô xa tới muôn dặm.

Dịch

Liễu xanh hót cặp oanh vàng,
Trời lam trắng điểm một hàng cò bay.
Song lồng mái tuyết non Tây,
Thuyền Ngô muôn dặm đỗ ngay cửa ngoài.

喪亂聞吾弟,
飢寒傍濟州。
人稀書不到,
兵在見何由。
憶昨狂催走,
無時病去憂。
即今千種恨,
惟共水東流。

Ức đệ kỳ 1

Táng loạn văn ngô đệ,
Cơ hàn bạng Tế châu.
Nhân hi thư bất đáo,
Binh tại kiến hà do?
Ức tạc cuồng thôi tẩu,
Vô thì bệnh khứ ưu.
Tức kim thiên chủng hận,
Duy cộng thuỷ đông lưu.

Dịch nghĩa

Thời buổi loạn lạc,nghe tin em
Đói rét nương náu ở châu Tế
Vắng người thư không đến nơi
Còn giặc biết làm sao gặp nhau ?
Nhớ xưa cuống cuồng giục chạy
Không lúc nào biết ốm đau và lo lắng
Hiện nay hàng nghìn mối hận
Phó mặc cùng dòng nước chảy về đông

Dịch

Chạy loạn sang châu Tế,
Nghe em đói rét hoài.
Đường thăm còn vướng giặc,
Thư gửi biết nhờ ai?
Lủi trốn khi lo vẩn,
Buồn phiền lúc ốm dai.
Phó cho dòng nước chảy,
Nghìn vạn mối sầu dài!

且喜河南定,
不問鄴城圍。
百戰今誰在?
三年望汝歸。
故園花自發,
春日鳥還飛。
斷絕人煙久,
東西消息稀。

Ức đệ kỳ 2

Thả hỉ Hà Nam định,
Bất vấn Nghiệp Thành vi.
Bách chiến kim thuỳ tại ?
Tam niên vọng nhữ quy.
Cố viên hoa tự phát,
Xuân nhật điểu hoàn phi.
Đoạn tuyệt nhân yên cửu,
Đông tây tiêu tức hy.

Dịch nghĩa

Hãy mừng Hà Nam đã yên
Không hỏi đến vòng vây Nghiệp Thành
Qua trăm trận nay còn lại ai?
Ba năm trông ngóng em về
Vườn cũ hoa tự nở
Ngày xuân chim vẫn bay
Khói bếp nhà ai đã tắt ngấm lâu rồi
Đông tây tin tức thưa thớt

Dịch

Mặc chỗ chưa tan giặc,
Mừng nơi đã giải vây.
Ba năm em vẫn ngóng,
Trăm trận sống là may.
Vườn cũ hoa đua nở,
Ngày xuân chim lạc bầy!
Xóm làng người khói vắng,
Tin tức bặt đông, tây

好雨知時節,
當春乃發生。
隨風潛入夜,
潤物細無聲。
野徑雲俱黑,
江船火獨明。
曉看紅濕處,
花重錦官城。

Xuân dạ hỉ vũ

Hảo vũ tri thì tiết,
Đương xuân nãi phát sinh.
Tuỳ phong tiềm nhập dạ,
Nhuận vật tế vô thanh.
Dã kính vân câu hắc,
Giang thuyền hoả độc minh.
Hiểu khan hồng thấp xứ,
Hoa trọng Cẩm Quan thành.

Dịch nghĩa

Mưa lành biết được tiết trời
Đang lúc xuân về mà phát sinh ra
Theo gió hây hẩy vào đêm tối
Tưới mát muôn vật mà không nghe tiếng
Đường quê đầy mây âm u
Thuyền trên sông chỉ thấy lửa sáng
Sớm mai trong vùng ẩm ướt đỏ thắm
Hoa nở đầy cả thành Cẩm Quan

Dịch

Mưa thuận biết thời tiết,
Xuân về mới thấy rơi.
Vào đêm theo với gió,
Không tiếng thấm muôn loài.
Đường nội, mây đen phủ,
Thuyền sông, đuốc lẻ loi.
Sáng xem vùng ướt đỏ,
Thành Cẩm trĩu hoa tươi.

白也詩無敵,
飄然思不群。
清新庾開府,
俊逸鮑參軍。
渭北春天樹,
江東日暮雲。
何時一樽酒,
重與細論文?

Xuân nhật ức Lý Bạch

Bạch dã thi vô địch,
Phiêu nhiên tứ bất quần.
Thanh tân Dữu khai phủ,
Tuấn dật Bão tham quân.
Vị bắc xuân thiên thụ,
Giang Đông nhật mộ vân.
Hà thì nhất tôn tửu,
Trùng dữ tế luân văn?

Dịch nghĩa

Thơ Lý Bạch không có ai là địch thủ,
Tứ thơ phơi phới, nhẹ nhàng không ai bằng được.
Trong sáng, mới mẻ, giống như thơ của Dữu khai phủ,
Hào hùng phiêu dật, giống như thơ của Bão tham quân.
Lúc này tôi đang ngắm hàng cây dưới trời xuân tại Vị Bắc,
Thì bạn đang ở trong bóng mây chiều ở Giang Ðông.
Biết bao giờ được cùng nhau uống một chén rượu,
Và bàn kỹ về thơ văn?

Dịch

Lý Bạch thơ ai sánh
Lâng lâng tứ tuyệt trần
Thanh hơn Dữu Khai phủ
Cao chấp Bão tham quân
Mây đất Giang Đông tối
Cây trời Vị Bắc xuân
Bao giờ một nậm rượu
Lại cùng luận thơ văn

國破山河在,
城春草木深。
感時花濺淚,
恨別鳥驚心。
烽火連三月,
家書抵萬金。
白頭搔更短,
渾欲不勝簪。

Xuân vọng

Quốc phá sơn hà tại,
Thành xuân thảo mộc thâm.
Cảm thì hoa tiễn lệ,
Hận biệt điểu kinh tâm.
Phong hoả liên tam nguyệt,
Gia thư để vạn kim.
Bạch đầu tao cánh đoản,
Hồn dục bất thăng trâm.

Dịch nghĩa

Núi sông còn đó mà nước mất rồi,
Thành ngày xuân hoang tàn, cỏ cây rậm rạp.
Cảm thương thời thế mà hoa ướt lệ,
như con chim bị tên, kinh sợ sự chia lìa.
Khói lửa báo giặc giã cháy suốt ba tháng liền.
Thư nhà lúc này đáng vạn đồng.
Gãi mái đầu bạc thấy càng thêm thưa, ngắn,
Muốn cài trâm mà chẳng được.

Dịch

Nước mất còn sông núi
Thành xuân cảnh um tùm
Biệt ly lòng chim hãi
Cám cảnh lệ hoa tuôn
Lửa hiệu liền ba tháng
Thư nhà đáng mấy muôn
Gãi hoài cùn tóc bạc
Chừng tuột chiếc trâm luôn

Bằng trí tuệ hơn người Nam Trân đã thành công trong những tập thơ dịch đặc sắc của mình. Đây được coi như một dấu son đỏ trên mặt trận văn học Việt Nam. Đây là thành quả xứng đáng cho sự cống hiến không ngừng nghỉ của ông. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Xem Thêm:

DỐI…

Tháng tư là lời nói dối phải không?
Ta chẳng bận lòng… bởi cuộc đời vốn thế
Yêu đương hẹn hò liệu có gì không thể
Lừa gạt nhau chi… rồi thu lại những gì

Phố vắng không mùa… lệ ướt đẫm bờ mi
Trăng khuyết lặng im buồn thương ngôi sao lạ
Xấu số nên thân… trót gieo mình sa ngã
Tỉnh thức quay về, bao chua xót trào dâng

Sót lại chút tàn mùa cũ… thấy bâng khuâng
Ai cũng đi rồi chỉ còn là kỷ niệm
Giữ lại trong nhau chút ngày buồn đã muộn
Có cố quay về… cũng chẳng thể như xưa

Nỗ lực trước kia người xem giống đồ thừa
Bỗng hóa nâng niu… ta giật mình hốt hoảng
Ném hết đau thương theo mây trời lãng đãng
Gió cuốn hanh hao hong khốc những ngày hè

Ta từng ước ao… rằng ai đó trở về
Nay thấy điên cuồng rối tung… người trở lại
Ngơ ngác mơ hồ… lạc vào miền hoang oải
Hóa ra bấy lâu… thứ ta nhớ là gì

Đó cũng chỉ là sự cố chấp ai bi
Chẳng dám tin là chúng mình giờ ly biệt
Bởi thế nên vẫn níu những gì tha thiết
Bất chấp đau thương, mặc kệ những tủi hờn

Thế rồi chẳng tìm thấy được … chút gì hơn
Ngoài sự giả vờ cố tỏ ra mạnh mẽ
Gượng cười hát vang… niềm vui tự tô vẽ
Khỏa lấp đậy che thứ ngụy tạo yếu hèn

Ta viết lời này khi chếnh choáng hơi men…

Thanh Sunshine

Du Cổ Tự

Du Cổ Tự

Du Cổ Tự (Hồ Xuân Hương)

Thầy tớ thong dong dạo cảnh chùa
Cầm thư lưng túi rượu lưng hồ
Cá khe lắng kệ đầu ngơ ngác
Chim núi nghe kinh cổ gật gù
Then cửa từ bi nêm chật cánh
Nén hương tế độ cắm đầy lò
Nhà sư ướm hỏi nhà sư tí
Phúc đức nhà ngươi được mấy bồ

(Bản khắc 1914)

Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Vịnh thiền
Câu 1: Thầy tớ thong dong tới cửa chùa
Câu 6: Triện hương tế độ cắm đầy lò

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Du Cổ Tự” của tác giả Hồ Xuân Hương. Thuộc tập Thơ Nôm Truyền Tụng, danh mục Thơ Hồ Xuân Hương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Khấp Vĩnh Tường Quan

Khấp Vĩnh Tường Quan

Khấp Vĩnh Tường Quan (Hồ Xuân Hương)

Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi
Cái nợ phù sinh có thế thôi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời
Nắm xương dưới đất chau mày khóc
Hòn máu trên tay mỉm miệng cười
Đã thế thời thôi cho mát mẻ
Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi

(Bản khắc 1914)

– Bản khắc 1922
Tựa đề: Khấp quan phủ
Câu 1: Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi
Câu 2: Cái nợ ba sinh đã trả rồi
Câu 4: Tung hê hồ thỉ bốn phương trời
Câu 5: Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Câu 6: Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Câu 7: Hăm bảy tháng trời là mấy chốc

– Bản Quốc văn tùng ký
Tựa đề: Khóc ông phủ Vĩnh Tường
Câu 1: Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi
Câu 2: Cái nợ ba sinh đã trả rồi
Câu 4: Tung hê hồ thỉ bốn phương trời
Câu 5: Hạt sương dưới chiếu cau mày khóc
Câu 6: Giọt máu trên tay mỉm miệng cười
Câu 7: Năm bảy tháng trời là mấy chốc
Câu 8: Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi

– Bản Xuân Hương thi sao
Tựa đề: Khấp phu quân Vĩnh Tường phủ quan
Câu 2: Thân thể coi xem đã khác rồi
Câu 6: Miệng túi càn khôn thắt lại thôi
Câu 7: Một tháng mấy ngày nên nỗi thế

– Bản Tạp thảo tập
Tựa đề: Hồ Xuân Hương khấp Vĩnh Tường phủ tri phủ
Câu 2: Thân thể coi xem đã khác rồi
Câu 6: Miệng túi càn khôn thắt lại thôi
Câu 7: Một tháng mấy ngày nên nỗi thế

– Bản Quế Sơn thi tập
Tựa đề: Vô đề 10
Câu 2: Ngoài ba mươi tuổi cũng một đời
Câu 4: Phá tan hồ thỉ bốn phương trời
Câu 7: Vì chữ tình chung nên phải viếng

– Bản Xuân Hương thi vịnh
Tựa đề: Khấp phu vi Vĩnh Tường tri phủ
Câu 1: Ngàn năm ông phủ Vĩnh Tường ôi
Câu 2: Trống giục chiêng đưa biết mấy hồi
Câu 5: Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Câu 6: Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Câu 7: Liệu nẻo mà đi cho mát mẻ
Câu 8: Ngàn năm ông phủ Vĩnh Tường ôi

– Bản Đăng khoa lục sưu giảng
Tựa đề: Điếu quan phủ Vĩnh Tường
Câu 2: Võng giá nghênh ngang xếp cả rồi
Câu 5: Vướng chân trong ngục ôm lòng khóc
Câu 6: Chảy máu trên tay mỉm miệng cười
Câu 7: Phúc quả công danh phó trả trời

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Khấp Vĩnh Tường Quan” của tác giả Hồ Xuân Hương. Thuộc tập Thơ Nôm Truyền Tụng, danh mục Thơ Hồ Xuân Hương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Đi Dạo

Đi Dạo

Đi Dạo (Xuân Diệu)

Tôi là một kẻ làm thơ… thẩn,
Đi hỏi tình yêu giữa cảnh trời.
Gió chải trong đầu không biết lược,
Mây vờn qua mắt chứa xa khơi.

Của nhành trĩu trĩu, lá âm âm
Tôi hiểu chờ riêng với muốn thầm.
Tiếng nhỏ vừa lan trong kẽ biếc,
Ấy là vạn vật nức xuân tâm.

Tôi để da tay ý dịu tràn
Gửi vào cây cỏ chút mơn man.
Chân trần sung sướng nghe da đất,
Tôi nhận xa xôi của dặm ngàn.

Bước bước giang hồ giữa mát tươi,
Đi thì có chỗ, đến không nơi.
Rồi khi nghỉ nhọc trong thân gió,
Tôi hớp trong tay những vốc trời…

Vương vấn bên mình một mối thương
Như chim nặng nghĩa với bông hường,
Tôi là một kẻ làm thơ thẩn
Cúi nhặt thơ rơi giữa sỏi đường.

Bài thơ tình các bạn vừa xem là bài “Đi Dạo” của tác giả Ngô Xuân Diệu. Thuộc tập Gửi Hương Cho Gió (1945), danh mục Thơ Xuân Diệu trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Tuyển Tập Thơ Viết Về Bến Đò Hay Và Nổi Tiếng Nhất Của Anh Thơ

Tuyển Tập Thơ Viết Về Bến Đò Hay Và Nổi Tiếng Nhất Của Anh Thơ

Con đò và bến từ lâu đã là hình ảnh quen thuộc của người thi sĩ trong thi thơ từ bao đời nay, hôm nay, sau khi gửi đến các bạn những bài thơ về đêm trăng nổi tiếng nhất của Anh Thơ, giờ tôi xin gửi tặng đến các bạn chùm thơ hay viết về bến đò với những hình ảnh rất đẹp của bà. Thơ của Anh Thơ vốn dĩ chẳng thể hiện nhiều cảm xúc trong tình yêu, thơ của bà chỉ vỏn vẹn những cái nhìn tuyệt đẹp và tinh tế, vậy, những áng thơ về bến đò của bà ra sao, mang những hình ảnh, cảm xúc như thế nào? Sau đây là chùm thơ viết về bến đò hay nhất của Anh Thơ, mời các bạn cùng thưởng thức!

1, Bến Đò Ngày Mưa

Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa.
Và dầm mưa dòng sông trôi rào rạt
Mặc con thuyền cắm lại đậu chơ vơ.

Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo
Vài quán hàng không khách đứng xo ro.
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu
Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho.

Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội đầu như đội cả trời mưa.
Và họa hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.

2, Bến Đò Trưa Hè

Mây đi trắng trời xanh buồn rộng rãi,
Sông im dòng đọng nắng đứng không trôi.
Đa ngâm rễ buông mình chờ uể oải
Ngọn gió về, không một chút tăm hơi.

Trong quán nước ẩn hàng bên giậu duối
Dăm ba người về chợ ghé vào qua;
Buồn vắng lặng họ ngồi nghe vòi vọi
Mấy tiếng gà trưa gáy xóm xa xa…

Ngoài đê nắng một ông già xuống huyện,
Dắt ngựa chở rong tiếng nhạc đồng mong.
Nhưng trưa vắng không một thuyền ghé bến,
Không một mái chèo khua nắng đọng trên sông.

3, Bến Đò Đêm Trăng

Mây tản mát ven trời trôi đón gió
Sao mơ hồ thưa bóng lẩn trong sương.
Sông lặng chảy một nguồn trăng sáng tỏ.
Bóng cô Hằng lơ lửng đứng soi gương.

Trên bến vắng chòm si ôm bực đá,
Bờ đê cao không một bóng in người,
Gió se sẽ bước vào thăm khóm lá
Trước quán hàng vắng lặng bóng trăng soi.

Ngoài sông nước đó đây về chở gió
Thuyền lênh đênh trong lớp khói sương mù
Ngồi mơ mộng đầu thuyền cô lái nhỏ
Khua trăng vàng trong nhịp hát đò đưa.

4, Bến Đò Ngày Phiên Chợ

Trời mới sáng, sông còn yên nước lắng
Mấy vì sao thưa thớt đứng soi hình.
Tiếng hò đò đã vang trên bến lặng,
Trong sương mù chèo động sóng lung linh.

Thuyền ghé bến người người chen chúc xuống
Tiếng chó kêu, lợn hét nổi vang lừng,
Với tiếng người ồn lên trong luống cuống
Đặt gánh gồng bồ bịch đổ lung tung.

Rồi cứ thế, đò đầy rời khỏi bến,
Bác lái thuyền điềm tĩnh ngắm sương tan.
Sốt ruột nhất những người đi lỡ chuyến
Đứng xếp hàng ngong ngóng đợi đò sang.

5, Đêm Trăng Đông

Đêm lành lạnh sương mù bay nhẹ thoảng
Trời trong ao yên lặng ngập mây đầy.
Khắp vườn cải trăng vàng hoa lấp loáng
Muôn cánh rờn nhè nhẹ sóng hương bay.

Trong bếp, lửa chập chờn bên cối gạo,
Mặc tiếng chày thình thịch xuống thời gian.
Bạn hàng xóm họp nhau và chuyện hão
Khói thuốc lào mờ mịt tỏa bay lan.

Ngoài ruộng lúa, một vài con vạc trắng
Lướt ăn đêm thưa thớt tiếng kêu buồn.
Trong khi ấy mông mênh trăng sáng lặng
Lọc ánh vàng lạnh lẽo xuống đồng sương.

Vừa rồi là chùm 5 bài thơ về bến đò hay và nổi tiếng nhất của nữ sĩ Anh Thơ mà tôi muốn gửi đến các bạn, hi vọng rằng các bạn sẽ thích những bài thơ viết về bến đò này của bà. Còn rất nhiều những bài thơ hay và chùm thơ hay khác trong các chuyên mục thơ trên phongnguyet.info, đừng quên ghé qua thường xuyên để cập nhật những bài thơ tình hay và thơ tình buồn lãng mạn nhất, chúc các bạn vui vẻ bên những vần thơ!

Xem thêm Thơ Anh Thơ hoặc Chùm Thơ Nổi TiếngNhững Chùm Thơ Hay Của Anh Thơ cùng Thơ Về Con Đò Sáng Tác Mới

Hồng Phú Châu Giang

Hồng Phú Châu Giang

Hồng Phú Châu Giang (Quang Dũng)

Bên dòng Châu Giang
Lúc còn kháng chiến
Hồng Phú dựng lên
Tên thị trấn đẹp xinh
Như một niềm hi vọng
Hồng Phú nhiều quán nước
Hương cà phê thơm trong giấc ngủ
Những người lính khu Ba.

Hồng Phú, những cô hàng tạp hoá
Mắt đẹp nhìn bâng khuâng
Những tốp người quân phục
Chiều kéo từ đâu qua
Lối qua Hồng Phú xưa
Sắt đường tàu hoen gỉ
Tà-vẹt rào vườn rau
Cỏ dại xương rồng
Mọc lên rậm rạp
Lấn đường xe lửa bóc
Đá từng đống
Nằm thương dĩ vãng
Nhớ đường dài vào Nam
Những cánh buồm nâu
Sớm chiều căng lướt sóng
Liều mạng với tàu bay
Sông Châu Giang
Mỗi lúc nước đổ về
Từng bè lớn bèo tây
Hoa tím dập dềnh gió thu man mác.

Lòng ai kháng chiến qua đây
Bên sông dừng bước
Nằm trong quán trọ đợi ngày.
Rồi một năm bỗng mất
Cả thị trấn dỡ nhà đánh giặc
Người đi vào khu Tư
Chết một ngả đường bom lạc
Người vào núi tăng gia
Sốt rét rung giường nói mê Hồng Phú.

Những cô hàng nhan sắc cũ
Một nách mấy con
Nét mặt nghiêm trang tư lự
Ngày dài tiếng võng đưa

Những người đi bộ đội trước
Không còn đi mua bật lửa xà phòng
Đã nằm xuống đâu
Biên giới – đồng bằng
Sóng nắng Châu Giang dào dạt

Hồng Phú bây giờ
Điện mắc dọc đường
Ga mới mang tên Phú Lí
Chiều tối phát thanh, chiếu bóng, rạp tuồng
Bóng núi bên sông hùng vĩ

Bến đò Chi Nê ai đi qua
Có nhớ đường đây về chiến khu
Hồng Phú mang tên Phủ Lí
Tàu qua ba chuyến một ngày
Giọng nói miền Nam trên những đường ray
Động cánh chim rừng tiếng còi xe lửa
Nắng đỏ phố cờ rực rỡ
Hoà bình nắng ấm Châu Giang
Hồng Phú mười năm
Nhớ một chặng đường.

Hà Nam, 1957

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Hồng Phú Châu Giang” của tác giả Bùi Đình Diệm. Thuộc danh mục Thơ Quang Dũng trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Chọn lọc những bài thơ Trung Quốc hay và ý nghĩa nhất

Chọn lọc những bài thơ Trung Quốc hay và ý nghĩa với nhiều chủ đề khác nhau như thơ Trung Quốc về tình bạn, thơ Trung Quốc về cuộc sống… mang đến cho độc giả yêu thơ có thêm những hiểu biết về thơ Đường. Với lịch sử lâu đời, thơ Trung Quốc là một kho tàng thơ ca vô cùng phong phú và độ sộ. Với nhiều bài thơ Trung Quốc hay, nổi tiếng mời quý độc giả cùng đón đọc.

Nội Dung

阿娘悲泣其一
或仕宦,
或職務,
離別耶娘經歲數,
四時八節未歸來。
阿娘悲泣。

A nương bi khấp kỳ 1
Hoặc sĩ hoạn,
Hoặc chức vụ,
Ly biệt da nương kinh tuế sổ,
Tứ thì bát tiết vị quy lai.
A nương bi khấp.

阿娘悲泣其二
或經營,
逐利去,
或住他鄉或道路,
兒子雖然向外安。
阿娘悲泣。

A nương bi khấp kỳ 2
Hoặc kinh doanh,
Trục lợi khứ,
Hoặc trú tha hương hoặc đạo lộ,
Nhi tử tuy nhiên hướng ngoại an.
A nương bi khấp.

阿娘悲泣其三
或在都,
或鎮戍,
三載防邊受辛苦,
信息希疏道路遙。
阿娘悲泣。

A nương bi khấp kỳ 3
Hoặc tại đô,
Hoặc trấn thú,
Tam tải phòng biên thụ tân khổ,
Tín tức hy sơ đạo lộ dao.
A nương bi khấp.

九張機其一
一張機,
采桑陌上試春衣。
風晴日暖慵無力。
桃花枝上,
啼鶯言語,
不肯放人歸。

Cửu trương cơ kỳ 1
Nhất trương cơ,
Thái tang mạch thượng thí xuân y.
Phong tình nhật noãn dung vô lực.
Đào hoa chi thượng,
Đề oanh ngôn ngữ,
Bất khẳng phóng nhân quy.

九張機其二
兩張機,
行人立馬意遲遲。
深心未忍輕分付,
回頭一笑,
花間歸去,
只恐被花知。

Cửu trương cơ kỳ 2
Lưỡng trương cơ,
Hành nhân lập mã ý trì trì.
Thâm tâm vị nhẫn khinh phân phó,
Hồi đầu nhất tiếu,
Hoa gian quy khứ,
Chỉ khủng bị hoa tri.

Cửu trương cơ kỳ 3
Tam trương cơ,
Ngô tàm dĩ lão yến sồ phi.
Đông phong yến bãi trường châu uyển,
Khinh tiêu thôi sấn,
Quán oa cung nữ,
Yêu hoán vũ thì y.

Cửu trương cơ kỳ 4

九張機其四
四張機,
咿啞聲裏暗顰眉。
回梭織朵垂蓮子。
盤花易綰,
愁心難整,
脈脈亂如絲。

Cửu trương cơ kỳ 4
Tứ trương cơ,
Y á thanh lý ám tần my.
Hồi thoa chức đoá thuỳ liên tử.
Bàn hoa dị oản,
Sầu tâm nan chỉnh,
Mạch mạch loạn như ty.

九張機其五
五張機,
橫紋織就沈郎詩。
中心一句無人會。
不言愁恨,
不言憔悴。
只恁寄相思。

Cửu trương cơ kỳ 5
Ngũ trương cơ,
Hoành văn chức tựu trầm lang thi.
Trung tâm nhất cú vô nhân hội.
Bất ngôn sầu hận,
Bất ngôn tiều tuỵ.
Chỉ nhẫm ký tương tư.

九張機其六
六張機,
行行都是耍花兒。
花間更有雙蝴蝶。
停梭一晌,
閉窗影裏,
獨自看多時。

Cửu trương cơ kỳ 6
Lục trương cơ,
Hàng hàng đô thị sái hoa nhi.
Hoa gian cánh hữu song hồ điệp.
Đình thoa nhất hướng,
Bế song ảnh lý,
Độc tự khán đa thì.

九張機其七
七張機,
鴛鴦織就又遲疑。
只恐被人輕裁剪。
分飛兩處,
一場離恨,
何計再相隨。

Cửu trương cơ kỳ 7
Thất trương cơ,
Uyên ương chức tựu hựu trì nghi.
Chỉ khủng bị nhân khinh tài tiễn.
Phân phi lưỡng xứ,
Nhất trường ly hận,
Hà kế tái tương tuỳ.

九張機其八
八張機,
回紋織就阿誰詩。
織成一片淒涼意。
行行讀遍,
厭厭無語,
不忍更尋思。

Cửu trương cơ kỳ 8
Bát trương cơ,
Hồi văn chức tựu a thuỳ thi.
Chức thành nhất phiến thê lương ý.
Hàng hàng độc biến,
Yếm yếm vô ngữ,
Bất nhẫn cánh tầm tư.

九張機其九
九張機,
雙花雙葉又雙枝。
薄情自古多離別。
從頭到底,
將心縈繫,
穿過一條絲。

Cửu trương cơ kỳ 9
Cửu trương cơ,
Song hoa song diệp hựu song chi.
Bạc tình tự cổ đa ly biệt.
Tòng đầu đáo để,
Tương tâm oanh hệ,
Xuyên quá nhất điều ty.

彈歌
斷竹,
續竹。
飛土,
逐宍。

Đạn ca
Đoạn trúc,
Tục trúc.
Phi thổ,
Trục nhục.

Dịch nghĩa
Chặt tre,
Nối tre thành cung.
Bắn đạn đất,
Đuổi cầm thú.

題壁
一團茅草亂蓬蓬,
驀地燒天驀地空。
爭似滿爐煨榾柮,
漫騰騰地暖烘烘。

Đề bích
Nhất đoàn mao thảo loạn bồng bồng,
Mạch địa thiêu thiên mạch địa không.
Tranh tự mãn lô uy cốt quật,
Mạn đằng đằng địa noãn hồng hồng.

Dịch nghĩa
Một đám cỏ khô như rơm rác rối mắt,
Bỗng cháy bừng khắp đất trời, lúc lại tắt.
Sao bằng được lò lửa đầy củi gốc lỏi,
Cháy chầm chậm toả hơi nóng ấm.

喜秋天-搗練千聲
芳林玉露催,
花蕊金風觸。
永夜嚴霜萬草衰,
搗練千聲促。

Hỉ thu thiên – Đảo luyện thiên thanh
Phương lâm ngọc lộ thôi,
Hoa nhị kim phong xúc.
Vĩnh dạ nghiêm sương vạn thảo suy,
Đảo luyện thiên thanh xúc.

擊壤歌
日出而作,
日入而息;
鑿井而飲,
耕田而食。
帝力於我何有哉!

Kích nhưỡng ca
Nhật xuất nhi tác,
Nhật nhập nhi tức.
Tạc tỉnh nhi ẩm,
Canh điền nhi thực.
Đế lực ư ngã hà hữu tai!

Dịch nghĩa
Mặt trời mọc thì làm việc,
Mặt trời lặn thì nghỉ ngơi.
Đào giếng mà uống,
Cày ruộng mà ăn.
Vua giúp sức cho ta, nào có chuyện đó.

寄內詩
握筆題詩易,
荷戈征戍難。
慣從鴛被緩,
怯向雁門寒。
瘦盡寬衣帶,
啼多漬枕簟。
試留青黛著,
回日畫盾看。

Ký nội thi
Ác bút đề thi dị,
Hạ qua chinh thú nan.
Quán tòng Uyên bị hoãn,
Khiếp hướng Nhạn môn hàn.
Sấu tận khoan y đới,
Đề đa tý chẩm đan (điệm).
Thí lưu thanh đại trước,
Hồi nhật hoạ my khan.

Dịch nghĩa
Cầm bút đề thơ là chuyện dễ
Ôm cái mác đi chinh chiến xa mới là khó
Đã từng quen với tấm chăn Uyên êm ấm
Nay ngại phải vượt qua ải Nhạn môn lạnh lẽo
Gầy quá nên đai và áo thấy rộng thùng thình
Khóc nhiều nên chiếu gối đẫm lệ
Hãy giữ lấy thuốc đen
Ngày về ta sẽ kẻ mày (cho nàng)

寄夫詩
垂楊傳語山丹,
爾到江南艱難。
爾那里討個南婆,
我這里嫁個契丹。

Ký phu thi
Thuỳ dương truyền ngữ Sơn Đan,
Nhĩ đáo Giang Nam gian nan.
Nghĩ ná lý thảo cá nam bà,
Ngã giá lý giá cá Khiết Đan.

Dịch nghĩa
Cây thuỳ dương nói lại với Sơn Đan
Chàng đến Giang Nam rất khó khăn
Ở đó chàng hãy lấy một bà người nam
Còn thiếp ở đây sẽ lấy một người Khiết Đan

陸路詩
弧矢蓬門肇四方,
人生難脫利名韁。
英雄炙手棋贏著,
富貴回頭戲散場。
宿水餐風疲歲月,
爭長競短苦心腸。
郵亭野店君知道,
慢慢行來不用忙。

Lục lộ thi
Hồ thỉ bồng môn triệu tứ phương,
Nhân sinh nan thoát lợi danh cương.
Anh hùng cứu thủ kỳ doanh trước,
Phú quý hồi đầu hý tản trường.
Túc thuỷ xan phong bì tuế nguyệt,
Tranh trường cạnh đoản khổ tâm trường.
Bưu đình dã điếm quân tri đạo,
Mạn mạn hành lai bất dụng mang.

李波小妹歌
李波小妹字雍容,
褰裳逐馬如卷蓬。
左射右射必疊雙。
婦女尚如此,
男子安可逢!

Lý Ba tiểu muội ca
Lý Ba tiểu muội tự Ung Dung,
Kiển thường trục mã như quyển bồng.
Tả xạ hữu xạ tất điệp song.
Phụ nữ thượng như thử,
Nam tử an khả phùng!

Dịch nghĩa
Tiểu muội Lý Ba tự là Ung Dung,
Vén áo phi ngựa nhanh như gió cuốn cỏ bồng.
Bắn cung bên trái, bắn cung bên phải, tất sẽ trúng cả hai.
Phụ nữ mà như vậy,
Nam tử làm sao có thể bằng được.

梅花與道情
火虐風嚎水漬根,
霜皴雪皺古苔痕。
東風未肯隨寒暑,
又蘗清香與返魂。

Mai hoa dữ đạo tình
Hoả ngược phong hào thuỷ tý căn,
Sương thuân tuyết trứu cổ đài ngân.
Đông phong vị khẳng tuỳ hàn thử,
Hựu bách thanh hương dữ phản hồn.

南方歌曲
丈夫生不能披肝折檻,為世扶綱常。
逍遙四海,胡為乎此鄉。
回頭南望邈無極兮,天雲一色徒蒼蒼。
立功不成,學不就,少壯有幾辰兮,坐視百年身世驅陰陽。
撫掌狂歌問斯世,茫茫天地,安得知一知己兮,試來對酌佑予觴。
予觴擲向東溟水,東溟之水萬隊起狂瀾。
予觴擲向西山雨,西山之雨一陣何汪洋。
予觴擲向北風去,北風揚沙走石飛殊方。
予觴擲向南天霧,霧中有人開口一飲蘧然醉。
天地宇宙渾相忘,予不醉矣,予行予志。
男兒自古事桑蓬,何必窮愁泣枌梓。

Nam phương ca khúc
Trượng phu sinh bất năng phi can chiết hạm, vị thế phù cương thường.
Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương.
Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương.
Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thần hề, toạ thị bách niên thân thế khu âm dương.
Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ hề, thí lai đối chước hữu dư trường.
Dư trường trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan.
Dư trường trịch hướng tây sơn vũ, tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương.
Dư trường trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương.
Dư trường trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên tuý.
Thiên địa vũ trụ hỗn tương vong, dư bất tuý hĩ, dư hành dư chí.
Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử.

Dịch nghĩa
Kẻ trượng phu sống mà không vạch gan, bẻ cột lo giềng mối cho đời
Rong chơi bốn biển, quê hương ở nơi đâu?
Quay đầu trông về nam, miệt mù vậy hỉ! Trời mây nối màu xanh ngắt
Lập công chẳng được, học không xong, trai trẻ có bao lâu, ngồi ngó trăm năm, thân đuổi cuộc sớm chiều.
Vỗ tay hát khùng, hỏi đời kia, đất trời mờ mịt vậy, một người tri kỷ tìm ở đâu, thử đến giúp ta rót chén rượu này
Ta quăng chén rượu đầy trộn nước biển đông, nước biển đông nổi cuộn vạn lớp sóng
Ta quăng chén rượu đầy vào mưa núi tây, mưa núi tây một trận sao lênh láng
Ta quăng chén rượu đầy đuổi theo gió bắc, gió bắc tung cát lăn đá bay nơi khác
Ta quăng chén rượu đầy vào mây mù trời nam, trong mây mù có người há miệng điềm nhiên say tràn
Trời đất dọc ngang đều mất hết, sao ta không say, chí ta thời ta làm
Từ xưa nam nhi đuổi theo tang bồng, cớ gì sùi sụt sầu cố hương.

悟道詩
盡日尋春不見春,
芒鞋踏遍隴頭雲。
歸來笑拈梅花嗅,
春在枝頭已十分。

Ngộ đạo thi
Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân,
Mang hài đạp biến lũng đầu vân.
Quy lai tiếu niễm mai hoa khứu,
Xuân tại chi đầu dĩ thập phân.

Dịch nghĩa
Suốt ngày tìm xuân chẳng thấy xuân,
Mang đôi giày rách đạp khắp mây đầu lũng.
Trở về khẽ với một bông hoa mai ngửi,
Xuân đã về trên đầu cành đến mười phần.

五更轉-緣名利其一
一更初夜坐調琴,
欲奏相思傷妾心。
每恨狂夫薄行跡,
一過拋人年月深。

Ngũ canh chuyển – Duyên danh lợi kỳ 1
Nhất canh sơ dạ toạ điều cầm,
Dục tấu tương tư thương thiếp tâm.
Mỗi hận cuồng phu bạc hạnh tích,
Nhất quá phao nhân niên nguyệt thâm.

五更轉-緣名利其二
君自去來經幾春,
不傳書信絕知聞。
願妾變為天邊雁,
萬里悲鳴尋訪君。

Ngũ canh chuyển – Duyên danh lợi kỳ 2
Quân tự khứ lai kinh kỷ xuân,
Bất truyền thư tín tuyệt tri văn.
Nguyện thiếp biến vi thiên biên nhạn,
Vạn lý bi minh tầm phóng quân.

Những bài thơ Trung Quốc hay và nổi tiếng có dịch nghĩa hi vọng sẽ mang đến cho độc giả yêu thơ những vần thơ, bài thơ ý nghĩa nhất. Thơ Trung Quốc với nhiều chủ đề khác nhau về tình yêu và cuộc sống là những bài thơ hay mang đến những chân lý, tính giáo dục cao.

Đánh Bạc

Đánh Bạc

Đánh Bạc (Tản Đà)

Trong đời người sáu, bảy mươi năm, bao nhiêu cảnh thuận, bao nhiêu cảnh nghịch, bao nhiêu cái sướng, bao nhiêu cái buồn, bao nhiêu cái cười, bao nhiều cái khóc; nhưng ngồi mà nghĩ, chỉ như canh bạc chơi một đêm.

Ngồi vào bàn bạc mà chơi, ai không muốn được. Nhưng sao cho được chắc mà không thua. Thua rồi lại được, được rồi lại thua, đỏ đỏ đen đen, lên voi xuống chó. Trong năm canh hì hục, được hẳng vui, thua dễ bẳn, thường tình ai cũng như ai. Trời chưa sáng, đêm còn dài, thời đồng tiền trong tay, nhiều cũng chưa hẳn có, hết cũng chưa chắc không. Tất đến lúc đứng dậy ra về, còn gì mới là được.

Người ta ở trong đời, khi nổi khi chìm, lúc may lúc rủi, không rồi lại có, đầy rồi lại vơi, lên lên, xuống xuống, như cây thụt máy tầu. Tiền chôn bạc chứa chưa là giầu; nhà gianh vách đất chưa là nghèo; võng, lọng, ngựa, xe chưa là vinh; xiềng, xích, gông, cùm chưa là nhục. Những cái đó chỉ như một ván tổ tôm: một cái búng quay, một tiếng sóc đĩa, làm cho ta đương mừng hoá lo, đương buồn hoá sướng, say mê chìm đắm, khóc hão, thương hoài. Cuộc đỏ đen còn ở lại với đời, thời ấm chè tàu, điếu thuốc lá, chén rượu cúc, bát cháo gà, không không thèm đòi, có cũng ăn chơi; trăm năm giũ áo chốn trần ai, còn gì mới là được.

Ông Khổng Tử khi trước, lúc đi câu, lúc đi bắn, lúc làm quan nhỏ, lúc làm quan to, lúc đi chơi lang thang, lúc ngồi nhà dạy học: tan cuộc 72 năm, còn được lại hai chữ thánh sư. Ông Nã Phá Luân lúc làm quan, lúc làm vua, lúc làm tướng, lúc trong tay 80 vạn quân lính, gầm hét châu Âu, lúc một mình giam lỏng chốn bãi bể; tan cuộc 52 năm, còn lại được một tiếng anh hùng.

Cũng có kẻ không to mà được bé, không nhiều mà được ít thời như ông Trương Tuần, ông Hứa Viễn, chữ song trung, ông Mẫu Tử chữ hiếu, ông Quý Bố chữ hoàng kim nặc, ông Tiếp Dư một chữ cuồng.

Còn như Vương Khải, Thạch Sùng, Lý Cầm, Lý Tiến, bạc năm canh tha hồ mở bát, vỗ túi về không. Át Trần, Mai Kiện, Tần Cối, Trương Hoằng Phạm, không những về không, để thêm tiếng cờ gian bạc lận. Nay cứ lấy lẽ thường mà nói, thời con người ta đã đem thân chơi cuộc đời, cũng nên liệu tính làm sao, lúc đứng dậy kiếm đôi ba chút. Có lẽ đánh bạc không mong được, mà chỉ thức đêm ăn nhục phở?

Nay ai ơi! Thử trèo bức tường đổ, trông quãng đồng xa, mồ con mả lớn, chỗ năm chỗ ba, chẳng quan thời dân, chẳng trẻ thời già, trước cũng người cả, bây giờ đã ma! Nào tiền nào của, nào cửa nào nhà, nào con nào vợ, nào câu đối đỏ, nào mành mành hoa, nào đâu đâu cả? mà chỉ thấy sương mù nắng rãi với mưa sa! Cuộc nhân thế từ xưa mã thế, làng chơi ta phải biết, trăm năm không dại dễ du mà?!

1915

Bài này được công nhận là một trong những tác phẩm đầu tiên nói đến món ăn phở.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Đánh Bạc” của tác giả Nguyễn Khắc Hiếu. Thuộc danh mục Thơ Tản Đà trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!