Câu thơ tài hoa được nhiều người tìm đọc nhất hôm nay 22/09/2026

Đàn gọng vó chạy rào rào mặt nước
Hồ trong lấm tấm như mưa
Hoa cúc vàng thu
Mảnh nắng em cầm chập chờn ảo giác

Hoa cúc vàng - Vân Long

Top 20 bài thơ có tổng lượt xem nhiều nhất hôm nay 22/09/2026

EM YÊU ANHYÊU ANH RỒITác giả ,///Thu Thảo(Thơ đường luật)

Em chờ hạnh phúc cõi bồng phiêu
Em muốn thầm trao ái thật nhiều
Em mãi ươm lời mong bậu hiểu
Em hoài rót mật để hồn xiêu
Em còn khát vọng thân hình liễu
Em lại trào dâng bóng dáng kiều
Em nghĩ hai mình không thể thiếu
Em chàng nguyện ước một tình YÊU

Yêu người muốn ngỏ ý càng nhanh
Yêu lắm nên mong hảo hợp thành
Yêu cảnh thiên đường mơ vẽ mộng
Yêu từng nét chữ tạc vào tranh
Yêu là giận dỗi thầm liên tưởng
Yêu đó hờn ghen phải dỗ dành
Yêu nhớ cưng chìu trong thoả mãn
Yêu thèm cảm giác được gần ANH

Anh ôm chạm khẽ núi cùng đồi
Anh khởi men tình trọn lứa đôi
Anh đã làm tim hoài thổn thức
Anh luôn rót mật mãi bồi hồi
Anh còn sở hữu tâm hồn đẹp
Anh tuyệt say nằm ánh mắt thôi
Anh tựa trời cao vầng trăng tỏ
Anh em số phận kết thành RỒI.

Tác giả: Thu Thảo

 

 

Thi Hỏng

Thi Hỏng (Tú Xương)

Trăm kiếp khổ gì hơn thi hỏng
Hỏng khoa này khất vợ gắng khoa sau
Miệng cười vui, bụng ngậm ngùi đau
Câu khiển hứng ra màu cảm khái
Cũng có lúc ngoảnh đầu toan cãi
Hỏi ông xanh sao lại thế này ư?
Đã sinh ra, chân không què, tai không điếc, mắt không mù
Nợ trần thế trả bù chi mãi mãi
Ừ bĩ, thái, lẽ trời cũng phải
Lạy ông xanh trang trải chóng đi cho
Cuộc công danh nhỏ nhỏ, to to
Trang trắng nợ, kéo một hò lên vận đỏ
Hồi thủ hồng trần nhưng tự đố
Mai tâm hoàng quyển túc khai nham
Mở sách ra tính tính, toan toan
Rút cục lại đã thua ai ngàn với vạn
Thôi chẳng qua mai vi tảo, cúc vi trì, hạnh vi vãn
Cuộc trung niên còn chán cái phong lưu
Rồi cũng cờ, cũng biển, cũng cõng, cùng lọng, cùng hèo
Cũng giương mắt ếch, vểnh tai mèo trong cõi tục
Trong thiên hạ một trăm người, chín mươi chín người mắt đục
Dù ai khen, ai khúc khích mặc thay ai
Ai ơi, cố lấy kẻo hoài

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Thi Hỏng” của tác giả Trần Tế Xương. Thuộc danh mục Thơ Tú Xương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Văn Tế Sống Vợ

Văn Tế Sống Vợ (Tú Xương)

Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ
Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ
Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo rằng lùn?
Người ung dung, tính hạnh khoan hoà, chỉ một nỗi hay gàn hay dở!
Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ
Gần xa nô nức, lắm gái nhiều trai
Sớm tối khuyên răn, kẻ thầy người tớ
Ông tu tác cửa cao nhà rộng, toan để cho dâu
Anh lăm le bia đá bảng vàng, cho vang mặt vợ

Thế mà:
Mình bỏ mình đi, mình không chịu ở
Chẳng nói chẳng rằng, không than không thở.
Hay mình thấy tớ: nay Hàng Thao, mai phố Giấy mà bụng mình ghen?
Hay mình thấy tớ: sáng Tràng Lạc, tối Viễn Lai, mà lòng mình sợ?
Thôi thôi
Chết quách yên mồ
Sống càng nặng nợ
Chữ nhất phẩm ơn vua vinh tứ, ngày khác sẽ hay
Duyên trăm năm ông Nguyệt xe tơ, kiếp này đã lỡ
Mình đi tu cho thành tiên thành phật, để rong chơi Lãng Uyển, Bồng Hồ
Tớ nuôi con cho có rể có dâu, để trọn vẹn đạo chồng nghĩa vợ

(Nhà thơ chơi bời phòng túng, tốn tiền, bà Tú giận doạ tự tử. Nhà thơ nhân đó làm bài văn tế này đùa nịnh, làm lành khéo với vợ)

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Văn Tế Sống Vợ” của tác giả Trần Tế Xương. Thuộc danh mục Thơ Tú Xương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Lòng Quê

Lòng Quê (Hàn Mặc Tử)

(Một nhà cách mệnh thất bại trong một vụ ám sát bị tống giam, đêm ấy nhằm mùa đông giá lạnh, bỗng có tên ngục tốt đưa vào cho nhà cách mệnh phong thơ của một người tình ở nhà quê. Xem xong, nhà cách mệnh lấy bút làm bài này.)

Từ khi trong quán khách
Anh bứt áo ra đi
Nước mắt em ràn rụa
Lòng anh xiết sầu bi
Đạp chân lên đường máu
Anh gây chuyện ly kỳ
Rồi nước mây lưu lạc
Rồi anh ôm tình si
Âm thầm cùng ngày tháng
Không biết ở thôn quê
Em có gầy như liễu
Hay buồn như đám mây
Thương em không dám nghĩ
Đương lúc nước nhà nguy
Mối thù tràn như sóng
Lòng nào anh nỡ si
Cách nhau ngàn vạn dặm
Còn thấy rõ dung nghi
Phảng phất luôn trước mắt
Dường mới gặp hôm tê
Sống thác có hề chi
Trong lúc ngồi tưởng tượng
Lệ em ướt bài thi
Yêu đương cần họ mãi
Dưới ngọn đèn vô tri
Xét thân anh vô dụng
Ủng hủy kiếp nam nhi
Sống chung cùng kẻ nghịch
Hổ thẹn đến ngàn cây
Có em, anh sống gượng
Hồn anh về thôn quê
Theo em bên bến xe
Nước mây còn lưu luyến
Tiếng lòng còn lâm ly
Tả lòng niềm tâm sự
Ruột gan đều tái tê

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Lòng Quê” của tác giả Nguyễn Trọng Trí. Thuộc tập Gái Quê (1936), danh mục Thơ Hàn Mặc Tử trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Nối Liền Bắc Nam

Nối Liền Bắc Nam (Tế Hanh)

Những đồng chí chúng ta
Miền Nam ra miền Bắc
Lên công trường đường sắt
Chưa được gặp Bác Hồ
Một ngày xuân đẹp, đợi chờ Bác lên
Đời từ gặp Bác vui thêm
Con đường thấy Bác ngày đêm rộn ràng
Hà Nội đến mục Nam quan
Nối liền lòng thợ Bắc Nam chúng mình
Đường ta đường của hoà bình
Đường ta đường nghĩa, đường tình bền lâu
Bao nhiêu vực thẳm sông sâu
Đường ta ta lại bắc cầu ta sang
Bây giờ lên mục Nam quan
Ngày mai đường sẽ vào Nam với mình
Đường qua Thanh Nghệ đồng xanh
Đường vào Hà Tĩnh, Quảng Bình, Trị Thiên
Đường vào Bình Định, Phú Yên
Vượt đèo đường đến Thủ-Biên, Sài Gòn
Đường ta đường của nước non
Bụi cây đám cỏ mãi còn của ta
Bắc con đường sắt là nhà
Nam con đường sắt cũng là quê hương

2-55

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Nối Liền Bắc Nam” của tác giả Trần Tế Hanh. Thuộc tập Lòng Miền Nam (1956), danh mục Thơ Tế Hanh trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Top 5 Bài văn phân tích bài “Chó sói và Cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten” của Hi-pô-lít Ten

Hi-pô-lít Ten (1828-1893) là tác giả của công trình nghiên cứu La- phông- ten và thơ ngụ ngôn của ông (1853). Văn bản “Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La-phông-ten” trích từ chương II, phần thứ hai công trình nghiên cứu khoa học nổi tiếng đó. Bằng cách so sánh hình tượng con cừu và con chó sói trong thơ ngụ ngôn của La Phông- ten với những dòng viết về hai con vật ấy của nhà khoa học Buy- phông, tác giả làm nổi bật đặc trưng của sáng tác nghệ thuật. Mời các bạn tham khảo một số bài văn phân tích tác phẩm mà phongnguyet.info đã tổng hợp trong bài viết dưới đây.

Phân tích bài “Chó sói và Cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten” bài số 1

Văn bản “Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phong-ten” là của Hi-pô-lít Ten ( 1828 – 1893), viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp, nhà nghiên cứu văn học, vị triết gia, sử gia lỗi lạc của Pháp trong thế kỉ 19.

Qua văn bản này, tác giả đã chỉ ra sự khác nhau giữa Buy-phông (1707 – 178S) nhà vạn vật học và La Phông-ten (1621 – 1695), nhà thơ ngụ ngôn Pháp khi nói về con chó sói và con cừu.

1. Phần thứ nhất nói về con cừu

Buy-phông trong công trình khoa học của mình, ông đã mô tả và chỉ ra những đặc tính tự nhiên của con cừu như ngu ngốc và sợ sệt, hay tụ tập thành bầy, co cụm lại với nhau, sợ sệt và đần độn. Chỉ biết đứng nguyên trong mưa hay trên tuyết. Chỉ biết làm theo con đầu đàn; nếu không bị gã chăn cừu thôi thúc hay bị chó xua đi.

Còn La Phông-ten trong bài thơ ngụ ngôn của mình, ông đã chỉ ra đời sống tâm hồn của con cừu. Con cừu rất “thân thương và tốt bụng”. Nghe tiếng cừu con kêu thì cừu mẹ liền chạy tới, nó có thể nhận ra con mình trong đàn cừu, nó đứng yên trên miền đất lạnh và bùn lầy cho con bú xong, với vẻ nhẫn nhục, mắt nhìn lơ đãng. Có thể nói, hình tượng con cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten còn ngụ ý về tình mẫu tử và đức hy sinh của người mẹ trong cuộc đời. Đúng như Hi-pô-lít Ten đã nói: “La Phông-ten đã động lòng thương cảm với bao nỗi buồn rầu và tốt bụng như thế…”

2. Phần thứ hai nói về con sói

Chó Sói trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten là một tên trộm cướp nhưng khốn khổ và bất hạnh. Mắt thì lấm lét, cơ thể gầy gò, bị truy đuổi. Nó là “một gã vô lại, luôn luôn đói dài và luôn luôn bị ăn đòn”. Buy-phông đã nói lên bản năng của chó sói, một thú dữ, hoang dã. Chúng chỉ biết kết bầy lúc săn mồi, khi cuộc chinh chiến đã xong xuôi thì mỗi con một nơi, sống lặng lẽ và cô đơn. Bộ mặt lấm lét, dáng vẻ hoang dã, tiếng hú rùng rợn, mùi hôi gớm ghiếc… là đặc tính tự nhiên của loài sói.

Sói trong thơ La Phông-ten là một bạo chúa. Hắn vu khống đặt điều. Hắn gầm lên. Và cuối cùng “Sói nhai Chiên nhỏ, chẳng cần đôi co”. Nếu nhà bác học Buy-phông chỉ nhìn thấy sói là con vật có hại thì nhà thơ với đầu óc phóng khoáng và trí tưởng tượng đã phát hiện ra những khía cạnh khác: con sói độc ác mà khổ sở, thường bị mắc mưu, vụng về, bị đói meo, và vì đói mà hoá rồ!

Buy-phông “dựng một vở bi kịch về sự độc ác” (thú dữ hoang đã), còn La Phông-ten “dựng một vở hài kịch về sự ngu ngốc” (bị đói khát, mắc mưu và ăn đòn). Qua sự so sánh và khám phá, văn bản của Hi-pô-lít Ten đã chỉ ra sự khác biệt giữa hai loại văn hản khoa học và văn bản nghệ thuật. Văn bản khoa học đi sâu nghiên cứu những đặc điểm tự nhiên, rút ra những phán đoán về đặc tính, về tính chất của sự vật. Văn bản nghệ thuật xây dựng hình tượng, miêu tả đời sống tâm hồn, sự vật bằng tưởng tượng.

Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn là một văn bản nghệ thuật. Chó Sói là một bạo chúa, độc ác, quỷ quyệt. Cừu là một thần dân, một vật tế thần đau khổ, đáng thương. Học thơ văn, ta cần nắm rõ đặc trưng của văn bản nghệ thuật, đó là ngôn ngữ hình tượng và biểu cảm được tưởng tượng, hư cấu.

Phân tích bài “Chó sói và Cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten” bài số 2

Nghệ thuật trong văn học là nơi thăng hoa của hiện thực, nhìn thấu đời sống nội tâm của mỗi nhân vật. Khác với nó, văn bản khoa học lại đi sâu vào nghiên cứu tự nhiên rồi rút ra nhận định về sự vật. Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten là một công trình nghiên cứu nổi tiếng của Hi-pô-lít Ten, bằng cách so sánh và khám phá nhà văn đã chỉ ra sự khác nhau giữa hai loại văn bản khoa học và nghệ thuật. Dưới từng góc nhìn khác nhau chó sói và cừu lại bật lên một nét tính cách đối lập. Chó sói loài bạo chúa độc ác, quỷ quyệt nhưng có khi lại đáng thương vô cùng. Cừu một “thần dân”, hèn nhát yếu đuối nhưng ẩn sâu là một con vật thân thương, tốt bụng.

Hi-pô-lít Ten (1828-1893) là một nhà triết gia, sử gia và là nhà nghiên cứu văn học lừng danh của Pháp, viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. La-phông-ten và thơ ngụ ngôn của ông là một công trình nghiên cứu nổi tiếng của H.Ten viết năm 1853. Văn bản Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La-phông-ten được trích từ chương II, phần thứ hai của công trình trên. Đoạn trích so sánh hình tượng chó sói và cừu trong cách nhìn của hai tác giả La-phông-ten và Buy-phông, từ đó H.Ten đã làm nổi bật đặc trưng của nghệ thuật là in đậm dấu ấn cách nhìn, cách cảm nhận của người nghệ sĩ. H.Ten đã mượn lời bài thơ ngụ ngôn Chó sói và cừu của La-phông-ten để làm chủ đề nghiên cứu cho tác phẩm của mình. Nhân vật chó sói và cừu trong bài thơ đại diện cho hai thế lực đối lập. Một bên là tên bạo chúa, hung ác, tàn bạo, xảo quyệt. Một bên là cừu con yếu ớt, đáng thương, tội nghiệp.

Tác giả Buy-phông trong công trình nghiên cứu Vạn vật học nổi tiếng của mình, ông đã chỉ ra rõ những đặc tính tự nhiên của loài cừu là “ngu ngốc và sợ sệt”. Chính vì vậy mà loài cừu thường tập trung thành bầy, không bao giờ dám tách đàn, chỉ một tiếng động nhỏ xíu phát ra cũng làm cho bầy cừu co rúm lại với nhau. Ông nói loài cừu đã “sợ sệt như thế lại còn hết sức đần độn”, bởi vì thế “chúng không biết trốn tránh nỗi nguy hiểm”. Loài cừu với sự ngu ngốc của mình chúng dễ dàng trở thành con mồi ngon của kẻ thù, chẳng thể trốn thoát cũng không thể chống trả bởi sự yếu ớt, bản tính nhút nhát của bản thân. Chẳng những thế theo Buy-phông loài cừu còn là con vật chậm chạp và kém linh hoạt, chúng ở đâu cứ đứng yên một chỗ “ngay dưới trời mưa, ngay trong tuyết rơi” chúng dường như không cảm nhận được sự bất tiện của mình, chúng quá an toàn và không dám bước ra khỏi cái lối sống rập khuôn của mình. Cứ đứng lì ra và để chúng di chuyển phải có một con đầu đàn đi trước và cứ thế những con khác “bắt chước nhất nhất làm theo”. Có những khi cả con đầu đàn cũng ỳ ra cùng với bầy đàn của nó, phải có gã chăn cừu “thôi thúc” hoặc “chó xua đi”.

Khác với Buy-phông, nhà thơ La-phông-ten đã miêu tả loài cừu bằng đời sống tâm hồn của nó. Các con cừu trong thơ ông là con vật “thân thương và tốt bụng”, là con vật có tình mẫu tử thiêng liêng. Cừu mẹ có thể nhận ra con của nó trong đám đông chỉ cần nghe tiếng kêu nhẹ nó liền chạy đến ngay lập tức. Nó đứng yên trên mặt đất lạnh tanh hàng giờ đồng hồ để cho con bú, vẻ mặt cừu mẹ “nhẫn nhục, mắt nhìn lơ đãng về phía trước”, mặt dù rất lạnh và mệt mỏi con cừu ấy vẫn chịu đựng, vẫn làm tròn trách nhiệm của người mẹ. Có thể nói La-phông-ten với con mắt nghệ thuật của mình đã nhìn thấu nội tâm loài cừu, ông động lòng cảm mến và xót thương cho con vật tội nghiệp ấy.

Nhắc đến loài sói chắc hẳn ta đều biết đó là một loài thú hoang dã, độc ác và luôn thèm khát máu tanh. Nhưng với sự nhạy cảm và sâu sắc của mình La-phông-ten đã khám phá ra một khía cạnh khác của loài sói “khốn khổ và bất hạnh”. Tuy là một tên trộm cướp nhưng cũng đáng thương chẳng kém, luôn mang bộ mặt “lấm lét”, “lo lắng” chúng sợ hãi khi bị truy đuổi. Với ông loài sói hung ác chẳng qua cũng chỉ là “gã vô lại” luôn luôn bị đói khát và bị “ăn đòn”. Con sói của La-phông-ten xảo quyệt và gian manh nó dùng lời lẽ dối trá để đưa cừu con vào tròng nhưng “tính cách thì phức tạp”, dưới ngòi tâm hồn nhạy cảm và thấu hiểu của người nghệ sĩ loài sói đáng sợ nhưng cũng đángthương. Tuy độc ác đấy nhưng sói lại vụng về và chẳng có tài chí gì, chúng luôn bị mắc mưu, đói meo và hoá rồ.

La-phông-ten đã “dựng một vở hài kịch về sự ngu ngốc” thì Buy-phông lại dựng một “vở bi kịch về sự độc ác”. Chó sói sống đơn lẻ chúng không thích tụ tập bầy đàn, khi ta thấy chúng tụ tập thì chắc chắn là một cuộc chinh chiến ồn ào ầm ĩ, tiếng kêu hú vang trời, chúng tấn công con mồi lớn như: Con hươu, con bò, con nai,… Khi kết thúc cuộc rượt đuổi con mồi chúng quay về với cuộc sống “lặng lẽ và cô đơn”. Loài sói với bản tính lấm lét, hoang dã, rùng rợn, hôi hám, hư hỏng,… “cái gì cũng làm ta khó chịu”. Theo Buy-phông, chó sói quả là loài vật đáng ghét “lúc sống thì có hại, chết rồi thì vô dụng”.

Đoạn trích của H.Ten đã vận dụng thành công biện pháp so sánh hai hình tượng cừu và chó sói trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten cùng với những nghiên cứu của nhà khoa học Buy-phông về hai loài vật ấy đã làm nổi bật đặc trưng của sáng tác nghệ thuật chính là sáng tạo, là nhìn sự vật, hiện tượng dưới nhiều góc độ hiện thực và nhân văn. Đồng thời H.Ten đã chỉ ra sự khác biệt giữa hai văn bản khoa học và nghệ thuật. Trong khi văn bản khoa học tập trung nghiên cứu về đặc điểm, tính chất tự nhiên của sự vật thì văn bản nghệ thuật lại đào sâu khai thác tâm hồn của từng nhân vật, dưới cái nhìn phong phú, đa chiều của người viết.

Đoạn trích Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La-phông-ten của Hi-pô-lít Ten là một công trình nghiên cứu văn học xuất sắc. Bằng bố cục chặt chẽ, lời nghị luận sắt bén giàu sức thuyết phục tác giả đã chỉ ra cách nhìn khác nhau giữa nhà khoa học và nhà thơ về hai con vật là cừu và chó sói. Thông qua đó H.Ten muốn cho người đọc thấy được tài năng xây dựng hình tượng của La-phông-ten trong bài thơ ngụ ngôn Chó sói và cừu.

Phân tích bài “Chó sói và Cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten” bài số 3

Hi-pô-lít Ten (1828 – 1893) là triết gia, sử gia và nhà nghiên cứu văn học, viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp, tác giả công trình nghiên cứu văn học nổi tiếng: La Phông-ten và thơ ngụ ngôn của Ông, xuất bản lần đầu năm 1853 sau đó được tái bản rất nhiều lần. Công trình gồm 3 phần, mỗi phần lại chia thành nhiều chương. Bài Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten trích từ chương II, phần thứ hai của cuốn sách. Qua đoạn văn này, tác giả đã chỉ ra sự khác nhau giữa Buy-phông (1707- 1788), nhà vạn vật học và La Phông-ten (1621-1695), nhà thơ ngụ ngôn khi nói về con chó sói và con cừu.

Bằng cách so sánh hình tượng con cừu và con chó sói trong thơ ngụ ngôn La Phông-ten với những dòng nhận xét về hai con vật ấy của nhà khoa học Buy-phông, H. Ten đã nêu bật đặc trưng của sáng tác nghệ thuật là phải in đậm dấu ấn về cách nhìn, cách nghĩ riêng của nhà văn.

Bài văn nghị luận này gồm 2 đoạn:

Đoạn 1: Từ đầu đến… tốt bụng như thế: Hình tượng con cừu trong thơ La Phông-ten.

Đoạn 2: Phần còn lại: Hình tượng chó sói trong thơ La Phông-ten.

Với mục đích làm nổi bật hình tượng con cừu và con chó sói dưới ngòi bút nghệ thuật tài tình của nhà thơ ngụ ngôn, H. Ten đã dẫn ra những dòng viết về hai con vật ấy của nhà khoa học Buy-phông để so sánh và đối chiếu. Lập luận trong đoạn văn được trình bày theo thứ tự 2 bước: Chó sói và cừu dưới ngòi bút của La Phông-ten và dưới ngòi bút của Buy-phông. Ở bước thứ nhất, bằng cách lấy ngay đoạn trích từ bài thơ ngụ ngôn Chó sói và cừu , tác giả đã khéo léo nhờ La Phông-ten tham gia vào lập luận của mình, vì vậy mà giọng văn trở nên sinh động hơn, cuốn hút hơn.

Trước hết, chúng ta hãy xem xét hình ảnh con cừu và con chó sói dưới ngòi bút của nhà khoa học Buy-phông.Buy-phông viết về loài cừu và loài chó sói bằng ngòi bút chính xác của một nhà sinh vật học. Ông đã nêu lên những đặc tính cơ bản của từng loài, mô tả và chỉ ra những đặc tính ấy như cừu thì nhút nhát, hiền lành: Chỉ một tiếng động nhỏ bất thường đủ làm cho chúng nháo nhào co cụm lại với nhau, và đã sợ sệt như thế lại còn hết sức đần độn, vì chúng không biết trốn tránh nỗi nguy hiểm. Thậm chí dường như chúng không cảm thấy tình huống bạt tiện của chúng; chúng ở đâu là cứ đứng nguyền tại đấy, ngay dưới trời mưa, ngay trong tuyết rơi. Chúng cứ đứng lì ra, muốn bắt chúng di chuyển nơi khác và bước đi, cần phải có một con đầu đàn người ta bảo nó đi trước và thể là tất cả bắt chước nhất nhất làm theo. Ngay con đầu đàn ấy cũng cứ ỳ ra cùng với cả đàn nếu không bị gã chăn cừu thôi thúc hoặc bị chó xua đi.

Buy-phông cũng nhấn mạnh đến bản năng của chó sói, một loài thú dữ sống trong môi trường hoang dã: Chó sói thù ghét mọi sự kết bè kết bạn, thậm chí ngay cả với đồng loại chó sói của nó. Khi ta thấy nhiều con chó sói tụ hội với nhau, thì đấy không phải là một bầy chỏ sói hiền hòa mà là một bầy chó sói chinh chiến, ồn ào ầm ĩ với những tiếng la hú khủng khiếp và nhằm để tấn công một con vật to lớn, như con hươu con bò, hoặc để chống trả một con chó gộc nào đấy. Khi cuộc chinh chiến đã xong xuôi, chúng lại mỗi con một nơi và quay về với sự lặng lẽ cô đơn của chúng. Tóm lại, bộ mặt lấm lét, dáng vẻ hoang dã, tiếng hú rùng rợn, mùi hôi gớm ghiếc, bản tính hư hỏng, cái gì cũng làm ta khó chịu, nó thật đáng ghét, lúc sống thì có hại chết rồi thì vô dụng…

Nhà khoa học Buy-phông không nhắc đến “tình cảm mẫu tử thân thương” của loài cừu vì không phải chỉ ở loài cừu mới có. Ông cũng không nhắc đến “nỗi bất hạnh” của chó sói, vì đấy không phải là nét cơ bản của nó ở mọi nơi, mọi lúc. H.Ten nhận xét thêm: Mọi chuyện ấy đều đúng, nhưng các con vật đó còn thân thương và tốt bụng nữa. Thật cảm động thấy con cừu mẹ chạy tới khi nghe tiếng kêu rên của con nó, nhận ra con trong cả đám đông cừu kia, rồi đứng yên trên nền đất lạnh và bùn lầy, vẻ nhẫn nhục, mắt nhìn lơ đãng phía trước, cho đến khi con đã bú xong. La Phông-ten đã động lòng thương cảm với bao nỗi buồn rầu và tốt bụng như thế… Hình tượng con cừu trong thơ ngụ ngôn La Phông-ten vừa cụ thể vừa khái quát. Trong cách tả và kể, nhà thơ có dụng ý rõ ràng. Nhà thơ chọn một chú cừu non (còn gọi là con chiên) và đặt chú cừu non ấy vào hoàn cảnh đặc biệt, đối mặt với con chó sói già bên dòng suối.

La Phông-ten khắc họa tính cách của cừu non qua thái độ và lời nói. Nhà thơ không miêu tả tùy tiện mà căn cứ vào một số đặc điểm vốn có của loài cừu là bản tính hiền lành, nhút nhát và vô hại. Với trí tưởng tượng phong phú của một nhà thơ, La Phông-ten đã nhân cách hóa cừu non, để nó cũng suy nghĩ, nói năng và hành động như người:

– Xin bệ hạ hãy nguôi cơn giận

Xét lại cho tường tận kẻo mà…

Nơi tôi uống nước quả là

Hơn hai chục bước cách xa dưới này.

Chẳng lẽ kẻ hèn này có thể

Khuấy nước ngài uống phía nguồn trên.

…………………………..

– Nói xấu ngài, tôi nói xấu ai,

Khi tôi còn chửa ra đời?

Hiện tôi đang bú mẹ tôi rành rành.

Chú cừu non cũng “lí sự” đâu ra đó trước lão sói già nham hiểm và độc ác : Chú uống nước phía dưới, làm sao khuấy đục nước ở phía trên nguồn được? Chú còn đang bú tí mẹ, thì làm sao có thể nói xấu lão sói từ… năm ngoái? Điều đó cho ta thấy chú cừu non vừa thông minh lại vừa cứng cỏi trước kẻ thù. Con chó sói cũng được tác giả nhân cách hóa để bản chất gian ác và điêu trá hiện lên rõ nét:

– Sao mày dám cả gan vục mõm

Làm đục ngầu nước uống của ta ?

Tội mày phải trị không tha!

– Chính mày khuấy nước, ai quên đâu là

Mày còn nối xấu ta năm ngoái…

– Thế thì một mống nhà chiên

Quân bay có đứa nào kiềng sói đâu!

Chó sói vu khống cừu non đến mức trắng trợn và phi lí. Hễ cừu non “cãi” được điều này thì chó sói lại vu cho điều khác, khiến “tội” của cừu non càng ngày càng nặng. Qua “chân dung” của con sói già trong bài thơ, La Phông- ten muốn ám chỉ hạng người xấu xa, độc ác chuyên cậy thế, cậy quyền áp bức kẻ yếu đuối, luôn lấy câu chân lí thuộc kẻ mạnh làm phương châm sống ở đời. Nhà thơ chọn một con chó sói đói meo, gầy giơ xương lang thang đi kiếm mồi, bắt gặp chú cừu non đang uống nước phía dưới dòng suối. Nó muốn ăn thịt cừu non nhưng để che giấu tâm địa độc ác nên cố tình kiếm cớ bắt tội để có lí do “trừng phạt” chú cừu tội nghiệp và hợp thức hóa hành động tàn bạo của mình.

Hình tượng chó sói trong thơ ngụ ngôn La Phông-ten khác hẳn với con sói trong thế giới tự nhiên của Buy phông. H. Ten vừa phần tích vừa so sánh hình ảnh hai con chó sói để làm nổi bật sự khác nhau giữa nhà khoa học và nhà thơ. Ở nhà thơ, đó là trí tưởng tượng phong phú được vận dụng tối đa khi tả con vật và gán cho nó một vài đặc điểm tính cách của một hạng người trong xã hội: Con chó sói của La Phông-ten cũng là một bạo chúa khát máu, và khi nó nói với chú cừu non, ta nghe thấy giọng khàn khàn và tiếng gầm dữ dội của con thú điên. Nhưng một tính cách thì phức tạp. Nếu nhà bác học chỉ thấy con sói ấy là một con vật có hại, thì nhà thơ, với đầu óc phóng khoáng hơn, lại phát hiện ra những khía cạnh khác. Nhà thơ sẽ thấy con chó sói độc ác mà cũng khổ sở, tuy trộm cướp đấy nhưng thường bị mắc mưu nhiều hơn.

Nhà thơ hiểu rằng những tật xấu của chó sói là do nó vụng về, vì chẳng có tài trí gì, nên nó luôn đói meo, và vì đói nên nó hóa rồ. Ông để cho Buy- phông dựng một vờ kịch về sự độc ác, còn ông dựng một vở hài kịch về sự ngu ngốc. Bài nghị luận văn chương của H.Ten đã dùng biện pháp so sánh hai hình tượng con cừu và con chó sói trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten với những dòng nhận xét của nhà khoa học Buy-phông viết về hai loài vật ấy nhằm làm nổi bật đặc trưng của tác phẩm nghệ thuật là sự sáng tạo.

Rõ ràng, từ thế giới tự nhiên, chó sói và cừu non đã được nhà thơ La Phông-ten đưa vào thế giới văn chương với tính cách khái quát rõ nét, tiêu biểu cho những hạng người cụ thể trong xã hội. Vì vậy mà nhân vật ngụ ngôn của La Phông-ten được cả nhân loại thích thú và yêu mến. Hi-pô-lít Ten đã chỉ ra sự khác biệt giữa hai loại văn bản khoa học và văn bản nghệ thuật. Văn bản khoa học đi sâu nghiên cứu những đặc điểm tự nhiên, rút ra những nhận xét chính xác về đặc tính, về tính chất của sự vật. Văn bản nghệ thuật xây dựng hình tượng, miêu tả đời sống tâm hồn của sự vật bằng tưởng tượng của nhà văn, nhà thơ.

Bài thơ ngụ ngôn Chó sói và cừu là một văn bản nghệ thuật. La Phông- ten đã miêu tả chó sói là một bạo chúa độc ác, quỷ quyệt ; còn chú cừu non là một thần dân một vật tế thần khổ sở, đáng thương. Qua bài văn nghị luận của H.Ten, ta nhận thấy khi đọc các tác phẩm văn học, cần phải nắm vững đặc trưng của văn bản nghệ thuật, đó là hình tượng nhân vật được tác giả tưởng tượng, hư cấu xây đựng nên để trở thành những bức tranh sinh động về cuộc sống vừa có ý nghĩa cụ thể vừa có ý nghĩa khái quát trong xã hội.

Phân tích bài “Chó sói và Cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten” bài số 4

Hi-pô-lít Ten (1828 – 1893) là nhà nghiên cứu văn học, nhà họat động văn hoá nổi tiếng, viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp trong thế kỉ XIX. Năm 1853 khi mới 25 tuổi, Hi-pô-lít Ten đã cho ra đời công trình nghiên cứu văn học tầm cỡ, mang nhan đề “La Phông- ten và thơ ngụ ngôn của ông”.Bài “Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông – ten” trích từ công trình đó của Hi-pô-lít Ten.La Phông – ten

Jean De La Fontaine (Giăng đờ La Phông-ten) là nhà thơ ngụ ngôn nổi tiếng người Pháp, sinh tại Sa-tô Chi-e-ri trong gia đình một người quản lí rừng. Mẹ mất sớm, thừa hưởng sự giáo dục đầy tự do và sâu rộng của bố. Từ bé đã sống giữa thiên nhiên, yêu cảnh rừng núi và thú rừng hoang dã. Học xong ở Paris, ông trở về quê nối nghiệp cha quản lí khu rừng ở địa phương, sống với những người lao động nghèo khổ.Chính cuộc sống chan hòa với thiên nhiên, gần gũi với người dân thường đã khiến cho thơ văn ông giàu tính dân gian, giàu chất thơ của cuộc sống và thật sự tinh tế, sinh động khi ông miêu tả thiên nhiên hay khi viết về các loài thú, loài cây, về con cáo, chùm nho, con cừu, cây bắp cải cũng như lòng nhân ái bao la của ông đối với người nghèo. Ông có kiến thức uyên bác cả về thiên nhiên và xã hội.

La Phông-ten giao thiệp rộng rãi với giới trí thức tự do phóng túng, không thích gần gũi cung đình như nhiều nhà văn cổ điển khác vì vậy ông không được vua Louis XIV ưa thích. La Phông-ten sáng tác nhiều tác phẩm với những thể loại khác nhau: Truyện, thơ, tiểu thuyết, kịch… nhưng ông lại nổi tiếng thế giới với tập thơ “Ngụ ngôn” (1666 – 1694) gồm 12 quyển. Ông được bầu vào Viện Hàn làm Pháp năm 1863.

Văn phong của La Phông-ten giàu chất thơ, dí dỏm và hàm súc đa nghĩa. Truyện của ông gồm trên 60 truyện in thành 5 tập, nổi bật bởi tài kể chuyện. Thơ ngụ ngôn của La Phông-ten tiêu biểu cho bút pháp của ông: Nhẹ nhàng, linh họat, uyên bác, lúc hài hước, dí dỏm, có khi mơ mộng, phóng túng. Ngụ ngôn của ông kết hợp hết sức nhuần nhuyễn các thể thơ khác nhau, từ thể thơ 12 âm tiết đến 7, 8, 10 âm tiết, đôi khi có cả những câu thơ rất ngắn 2 hay 3 âm tiết diễn tả rất linh họat các tình huống khác nhau của cuộc sống. Thơ ngụ ngôn mang tính chất dân tộc sâu sắc của La Phông-ten là biểu tượng của nền văn học Pháp.

Rất nhiều bài nổi tiếng được truyền tụng từ đời này sang đời khác và trở thành điển hình cho các tính cách và các tình huống khác nhau của cuộc sống: Ve và kiến, Quạ và cáo, Chó sói và cừu non; Thần chết và lão tiều phu, Con cáo và chùm nho; Gà trống và cáo; ông già và các con; Gà mái đẻ trứng vàng; Thỏ và rùa; Chó thả mồi bắt bóng, Đám ma sư tử, Hội đồng chuột, v.v… La Phông- ten kế thừa truyền thống sáng tác của các nhà ngụ ngôn trước ông như Ê-dốp (Hi Lạp), Babriux (Syrie), Phedrô (La Mã) và sáng tạo lên nhiều hình tượng mới có tính chất thời đại. Mỗi bài ngụ ngôn của La Phông-ten gồm hai phần: Phần chính giống như một màn kịch nhỏ có thắt nút, cởi nút và phần rút ra bài học thường chỉ là một vài câu ngắn gọn.

Dưới ngòi bút của ông, các con vật như sư tử, hổ, báo, cáo, gà, mèo, chuột, ve,… được nhân cách hóa, cũng biết yêu, ghét, thiện và ác. Xã hội loài vật trong Ngụ ngôn tượng trưng cho xã hội Pháp thời đại La Phông- ten đang sống, với đủ mọi cung bậc, tầng lớp, với những mâu thuẫn bộc lộ bản chất của xã hội đó, từ những người thấp cổ bé họng đến những kẻ quyền cao chức trọng, và cao nữa là đức Vua – Sư tử. Ông ca ngợi trí thông minh, lòng nhân hậu của người lao động, phê phán thói kiêu căng của bọn quý tộc, thói đạo đức giả của giới tu sĩ, thái độ nịnh trên nạt dưới của bọn quan lại, tính hiếu danh, xu thời của tầng lớp tư sản.

Hình ảnh Vua – Sư tử trong “Ngụ ngôn” của ông tượng trưng cho sự tác oai, tác quái của giai cấp thống trị. Trong thơ La Phông-ten ngay cả những vật vô tri như cánh rừng, dòng suối cũng có tiếng nói và tâm tình như con người khiến thơ ông ngoài tính chất phê phán, chiến đấu còn mang tính trữ tình sâu sắc.

La Phông-ten trở thành nhà văn quen thuộc của mọi lứa tuổi và mọi thời đại, và ngày nay thơ ông vẫn giữ nguyên những giá trị thời sự sâu sắc.

Phân tích bài “Chó sói và Cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten” bài số 5

Ngụ ngôn vốn là một thể loại văn học dân gian, thường dựng chuyện về loài vật để nói về con người. Các câu chuyện ngụ ngôn có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc, chính vì vậy mà một số nhà văn cũng thường sáng tác theo thể loại này, tiêu biểu như E-dốp, La-phông-ten…

Hi-pô-lít Ten (1828-1893) là triết gia, sử gia đồng thời cũng là nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng của Pháp, Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về truyện ngụ ngôn của La-phông-ten. Đây là một bài nghị luận văn chương, trích từ chương II, phần II của công trình La-phông-ten và thơ ngụ ngôn của ông, in năm 1853.

Văn bản có bố cục hai phần:- Phần một (từ đầu đến “tốt bụng như thế”): hình tượng con cừu trong thơ La-phông-ten.- Phần hai (còn lại): hình tượng chó sói trong thơ La-phông-ten.Trong cả hai đoạn, nhằm làm nổi bật các hình tượng con cừu và con chó sói trong thơ La-phông-ten, tác giả đều dẫn ra những dòng viết về hai con vật ấy của nhà khoa học Buy-phông. Mạch nghị luận trong cả hai phần cũng tương đối giống nhau, đều theo trật tự ba phần: dưới ngòi bút của La-phông-ten – dưới ngòi bút của Buy-phông – dưới ngòi bút của La-phông-ten. Trong phần một, hình ảnh cừu trong thơ La-phông-ten được thể hiện qua một đoạn thơ cụ thể. Cách viết như vậy khiến cho bài văn trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

Buy-phông viết về loài cừu và loài chó sói từ quan điểm của một nhà khoa học, bởi vậy, các chi tiết đều giống như trong đời thực. Ông không nói đến “sự thân thương của loài cừu” cũng như “nỗi bất hạnh của loài sói” bởi vì đó không phải là đặc điểm tiêu biểu của chúng. Những đặc điểm đó do con người “gán” cho loài vật, không thể xuất hiện trong công trình nghiên cứu của một nhà khoa học.

Khi xây dựng hình tượng con cừu, trước hết, La-phông-ten đã đặt một chú cừu con trong một hoàn cảnh đặc biệt: đối mặt với chó sói bên dòng suối. Hoàn cảnh đó làm nổi bật lên tính chất hiền lành, nhút nhát – cũng là một đặc điểm tiêu biểu cho tính nết của loài cừu. Vì sáng tác theo thể loại ngụ ngôn nên La-phông-ten đã nhân cách hoá con cừu, miêu tả cả chó sói và cừu như những con người cụ thể.

Hình tượng chó sói trong truyện ngụ ngôn của La-phông-ten được xây dựng dựa trên đặc tính vốn có của loài sói, đó là săn mồi. Từ đó, tác giả nêu ra hai luận điểm:- Chó sói là kẻ đáng cười (vì không kiếm nổi miếng ăn nên đói meo).- Chó sói còn là một kẻ đáng ghét vì nó làm hại đến người khác.Để làm sáng tỏ hai luận điểm trên, có thể phân tích hình tượng chó sói trong thơ ngụ ngôn của La-phông-ten theo những gợi ý sau:+ Con chó sói được nói đến trong bài thơ là một con sói cụ thể, rất sinh động (gầy giơ xương, đi kiếm mồi, muốn ăn thịt cừu non…).+ Con chó sói được nhân cách hoá như hình tượng cừu dưới ngòi bút phóng khoáng của nhà thơ và đặc trưng của thể loại ngụ ngôn.

Cho đến nay đoạn trích Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La-phông-ten nói riêng và công trình “La Phông- ten và thơ ngụ ngôn” vẫn được đánh giá là công trình xuất sắc của Hi-po-lít- ten.

Hôn Nhau Lần Cuối

Hôn Nhau Lần Cuối (Nguyễn Bính)

Cầm tay, anh khẽ nói:
– Khóc lóc mà làm chi?
Hôn nhau một lần cuối,
Em về đi, anh đi.

Rồi một, hai, ba năm,
Danh thành anh trở lại.
Với em, anh chăn tằm,
Với em, anh dệt vải.

Ta sẽ là vợ chồng.
Sẽ yêu nhau mãi mãi.
Sẽ se sợi chỉ hồng,
Sẽ hát câu ân ái.

Anh và em sẽ sống,
Trong một mái nhà tranh.
Lấy trúc thưa làm cổng,
Lấy tơ liễu làm mành.

Nghe lời anh, em hỡi!
Khóc lóc mà làm chi?
Hôn nhau một lần cuối,
Em về đi, anh đi…

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Hôn Nhau Lần Cuối” của tác giả Nguyễn Trọng Bính. Thuộc tập Lỡ Bước Sang Ngang (1940), danh mục Thơ Nguyễn Bính trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!

Top 18 Bài thơ hay viết về các bà mẹ Liệt sĩ

Tuổi trẻ hôm nay có thể không biết đến đạn bom, không tận mắt chứng kiến những đau thương mất mát trong 2 cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, nhưng họ đều hiểu rằng cái giá của cuộc sống hôm nay là sự hy sinh của nhiều thế hệ lớp người đi trước đã anh dũng hy sinh, là những nỗi đau, sự mất mát lớn lao của những người mẹ liệt sĩ. Sẽ chẳng có sự đền đáp nào xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các mẹ cho Tổ quốc hôm nay. phongnguyet.info xin giới thiệu những bài thơ hay viết về các mẹ.

Bài thơ: MẸ NGỒI ĐƯA CHIẾC VÕNG KHÔNG – Đoàn Thịnh

MẸ NGỒI ĐƯA CHIẾC VÕNG KHÔNG

Đoàn Thịnh

Mẹ ngồi đưa chiếc võng không
Lời ru nén chặt trong lòng, hỡi con
Cơm phần trưa tối hãy còn
Ủ quây trong chiếc chăn sờn mọi khi

Mẹ gom nào những viên bi
Cái quần cộc với nón mê chăn bò
Sách nằm trên giá thơm tho
Cùng bao thứ thuở học trò còn đây

Giúp cha công nọ, việc này
Vẫn lưu dấu ấm bàn tay tỏ mờ
Rồi con những lúc dại khờ
Mấy lần roi dạy, bây giờ mẹ đau.

Hết giặc rồi, con ở đâu
Quả thơm để rụng, buồng cau để chờ
Dây trầu vươn ngả dậu thưa
Nhà bên cùng xót đến giờ chưa nguôi

Ngước trông khuôn ảnh rạng cười
Như con vẫn đứng vẫn ngồi đâu đây.
Mẹ chao cánh võng nhẹ lay
Mà bao gió lộng ngàn mây trưa hè

Chân người thậm thịch bờ đê
Ngỡ như tiếng bước con về đến nơi.
Trăng khuya vằng vặc đầy trời
Đêm nay mẹ lại ru hời võng không .
TG Đoàn Thịnh.

Bài thơ: HÃY YÊN LÒNG MẸ NHÉ – Hương Mrs Le

HÃY YÊN LÒNG MẸ NHÉ

Thơ Hương Mrs Le

Tháng bảy này mẹ thương nhớ lắm phải không ?

Thằng con trai yêu nhất đời của mẹ

Mẹ thắp nén nhang trước bàn thờ lặng lẽ

Nhang khói cuộn tròn trên khuôn mặt tuổi hai mươi

Hơn bốn chục năm rồi chẳng còn nước mắt để rơi

Tấm hình vẫn trẻ nguyên ngày nào con nhập ngũ

Mới bước vào đời sinh viên còn bao bỡ ngỡ

Bạn bè cùng lớp chưa kịp thân thương

Con bỗng vội chia tay để lại lên đường

Tổ quốc gọi đâu cần con có mặt

Mười tám tuổi -lúc đời con đẹp nhất

Chưa nắm tay ai chưa biết đến hẹn hò

Chưa biết nụ hôn đầu trong khao khát ước mơ

Chỉ biết cháy lên niềm khát khao đánh giặc

Rồi một ngày giữa chiến trường thảm khốc

Con ra đi không về nữa mẹ ơi

Đứa con trai mẹ yêu quí nhất đời

Chưa trả được ơn công cha nghĩa mẹ

Đất mẹ ôm con vào lòng lặng lẽ

Chúng con phải hy sinh cho đất nước trường tồn

Sáng nay trên nghĩa trang Trường sơn

Tổ quốc vẫn bên con dâng hương trầm tưởng niệm

Đồng đội chúng con vẫn bên nhau thương mến

Hát khúc quân hành sống mãi tuổi hai mươi

Trời Quảng trị sáng nay bỗng xanh tươi

Mẹ ơi !mẹ ơi xin mẹ đừng khóc nữa

Con vẫn về thăm mẹ ơi đừng khép cửa

Để ôm dáng mẹ gầy đang tựa ngóng trông con …

Sài gòn 25-7-2017

Bài thơ: CÓ NHỮNG NGƯỜI MẸ THẦM LẶNG – Vọng Thanh

CÓ NHỮNG NGƯỜI MẸ THẦM LẶNG

Vọng Thanh

Mẹ ngồi gầy guộc gieo neo
Mâm cơm tàn khói hương theo lệ nhoà
Gió lùa vãng cảnh phất phơ
Liêu xiêu dáng mẹ đục mờ tháng năm…

***

Có nỗi đau nào, hơn thế không Anh?
Ai thấu được nỗi lòng đau của Mẹ
Vì Đất Nước, Mẹ bầm gan ruột tím
Vì Quê hương, hai cuộc chiến trường kỳ

Có những Mẹ, thầm lặng tiễn con đi
Đất Nước lâm nguy hai Miền chia cắt
Miễn Trung ấy, có Mẹ BẦM Mẹ SUỐT
Thạch Hãn ơi! Máu nhuộm đỏ loang chiều

Có Mẹ THỨ, chín mươi triệu tin yêu
Tiễn chồng con, năm lần bảy lượt
Mỗi đứa con, Mẹ héo từng đoạn ruột
Nước mắt lăn tròn, đẫm ướt gối đêm

Khói lam chiều, mờ đục lẫn trong sương
Chín vành tang, trắng trời… mùa trái gió
Mẹ rưng rưng đợi cơm ngày hai bữa
Não nuột lòng… tựa cửa bóng xô nghiêng

Chín người con, một rể với cháu hiền
Hồn phách lạc chốn rừng hoang sông lạnh
Nơi Trường Sơn, hay dòng sông Thạch Hãn
Mà ráng chiều… nhuộm đỏ mắt sông quê?

Chín người con, vĩnh viễn không trở về
Vành tang trắng, Mẹ khóc mờ đôi mắt
Ôi bóng Mẹ, nghiêng chao hồn Đất Nước
Mãi xanh màu, khúc hát… Mẹ Việt Nam!…

Mẹ tên là: NGUYỄN THỊ THỨ – Quảng Nam!!!

Bài thơ: CON GIỜ NƠI ĐÂU – Phạm Hồng Soi

CON GIỜ NƠI ĐÂU
Tác giả: Phạm Hồng Soi

Tàn nhang phủ kín bàn thờ
Mẹ ngắm di ảnh con giờ nơi đâu?
Mộ gió lạnh lẽo đã lâu
Hồn cốt thất lạc nỗi đau tận cùng
Đêm về mắt mẹ rưng rưng
Lệ tuôn đẫm gối biết chừng nào thôi
Linh thiêng lên tiếng con ơi!
Để cho đồng đội đến nơi đưa về
Nghĩa trang liệt sĩ quê ta
Hương hoa đầy đủ nhà nhà đang mong
Con ơi! con có nghe không?
Mộ gió còn đó mẹ trông con về!
25.7.2019

Bài thơ

MẸ ĐỢI CON VỀ

Thơ: Vũ Thị Thúy Hồng

(Viết về mẹ VNAH Nguyễn Thị Thứ)

Mấy chục năm qua…
Mỗi bữa ăn mẹ vẫn sắp đủ đầy
Chín chén, đũa quây quần bên cạnh mẹ.
Các con nhớ về ăn, con nhé.
Đừng để mẹ một mình quạnh quẽ,
Nỗi thương nhớ mỗi ngày lại một dài thêm
Những buổi tương phùng giờ chỉ có trong đêm
Từng đứa một lại ào về thăm mẹ
Vẫn ba lô, súng trên vai như thế
Vẫn nụ cười rạng rỡ nở trên môi
Mấy chục năm trôi,
Các con tôi tươi trẻ giữa đất trời
Những đứa con lớn lên giữa thời chinh chiến
Vì tổ quốc cần tuổi xuân dâng hiến
Cho hoà bình, cho độc lập tự do.
Quê hương mình giờ đây đã ấm no
Bữa cơm cũng đủ đầy, mẹ càng thương các con nhiều lắm.
Cơm mẹ nấu xong rồi, ánh hoàng hôn sắp tắt
Mẹ đợi các con về ngồi bên mẹ cùng ăn…

Bài thơ: LÒNG MẸ! – Nguyễn Thị khánh Hà 

LÒNG MẸ!

Nguyễn Thị khánh Hà

Bao năm rồi anh nằm trong lòng đất
Rừng cây ru, lá rụng đã bao mùa?
Bao năm rồi, Mẹ cạn khô nước mắt
Bóng Mẹ gầy, tóc bạc trắng thời gian

Đếm bao nhiêu những vất vả gian nan
Như chiếc lá vàng lúc rơi về nguồn cội
Mẹ ra đi trong nỗi buồn vời vợi
Thương con nằm trơ trọi chốn rừng thưa

Chúng tôi tìm anh, đi trong nắng mưa
Đường Trường Sơn giăng đầy cỏ lá
Giữa mênh mông, rừng xanh và núi đá
Có một con đường nằm ở trong tim

Anh linh thiêng, báo mộng chúng tôi tìm
Nước mắt nhạt nhòa xé lòng đồng đội
Thắp nén hương thơm cho lòng nhẹ vợi
Trong khói hương, con đã thấy Mẹ cười!

Bài thơ: MẸ TIỄN ANH ĐI – Nghi Lâm

MẸ TIỄN ANH ĐI

Thơ: Nghi Lâm

Mẹ tiễn anh đi, lên đường nhập ngũ
Khi tuổi đời chưa quá ngưỡng hai mươi
Khẽ nén lòng nước mắt của mẹ rơi
Mong ngày toàn thắng, bình an trở lại

Rạch Ráng, U Minh chạy bằng vỏ lãi *
Đường hành quân xuyên qua lắm con sông
Giặc đi càn quét, lùng sục rất đông
Anh cùng đồng đội hiên ngang chống trả

Mẹ hằng đêm nhớ về người con cả
Đang đánh địch quân ở khắp chiến trường
Dẫu trong lòng có đôi lúc bi thương
Nhưng vẫn khấn điều lành cho anh đấy!

Một đêm mơ màng, mẹ hiền trông thấy
Nơi cánh rừng thưa con đã hy sinh
Bọn giặc điên cuồng bắn nát thân anh
Vì bọn chúng bị đánh cho tan tác

Lúc anh đi vào một ngày thu mát
Hoa tràm, bông đước phủ giấc ngủ yên
Vĩnh biệt người vì Tổ quốc thiêng liêng
Đau đớn lắm, nhưng mẹ đà mãn nguyện

Các đồng đội, cùng người thân đến tiễn
ANH LÊN ĐƯỜNG, .. MÀ MẮT MẸ MỜ CAY!

Bài thơ: CHUYỆN NHÀ – Trần Duy Hạnh

CHUYỆN NHÀ
Thơ Trần Duy Hạnh

Quê hương những chiều ven đê
Lúa vàng hương thơm ngào ngạt
Dòng sông ngập tràn gió mát
Trẻ thơ nâng cánh diều bay.

Mẹ già bận bịu suốt ngày
Nhà nông chạy việc đồng áng
Mờ sương cho đến chạng vạng
Nuôi con vất vả bao nhiêu!

Mẹ thương con mẹ rất nhiều
Sự nghiệp thống nhất Đất nước
Tham gia chống quân xâm lược
Mẹ động viên con lên đường.

Dồn nén tất cả tình thương
Mẹ dành hết cho công việc
Cuộc đời con mẹ … không tiếc
Nước mắt tuôn chảy trong lòng.

Bao năm Mẹ đã ngóng trông
Hòa bình thống nhất cả nước
Đợi chờ… lòng Mẹ mong ước
Được thấy con sớm trở về.

Gió chiều thổi hoài ven đê
Con Mẹ đã thành liệt sĩ
Giờ đây Mẹ chỉ còn nghĩ
Phải giữ Đất nước yên bình.
(23/7/2019)

Bài thơ: CHUYỆN VỀ MẸ THỨ - Hồng Ngoãn

CHUYỆN VỀ MẸ THỨ

Căn nhà nhỏ âm thầm lặng lẽ
Đã bao năm thấy mẹ đợi chờ
Mắt nhìn vào cõi hư vô
Ngồi bên di ảnh thẫn thờ từng đêm

Trong tâm trí mẹ quên sao được
Những năm dài đất nước chiến tranh
Mẹ đưa tiễn bước quân hành
Rồi luôn mong ngóng các anh trở về…

Chợt đau đớn tái tê quặn thắt
Nước mắt nào chôn chặt từng cơn
Bao nhiêu đau đớn căm hờn
In hằn trán mẹ nhăn hơn thuở nào

Con chín đứa ngày nao trông đợi
Chín bát cơm mẹ xới mẹ mong
Hôm nay rợp bóng cờ hồng
Sao con đi mãi mà không thấy về

Bao gánh nặng đâu hề quản ngại
Các con giờ nằm lại nơi đâu ?
Gió sương đã bạc mái đầu
Có người Mẹ vẫn canh thâu đợi chờ…

Bài thơ: GIỌT ĐÈN – Phan Huy Hùng

GIỌT ĐÈN
Thơ Phan Huy Hùng

Giọt đèn trên đầu ngọn bấc
Chập chờn bên bóng lắt lay
Rung rung bờ vai mẹ nấc
Giọt sầu rơi ướt đêm dày …

Thương ôi !
ngọn đèn sắp tắt
Loé lên tia sáng một đời
Cố vươn trong đêm thức trắng
Thương con mãi tít mù khơi !

Con ơi có về với mẹ ?
Chỉ cần nửa phút giây thôi
Nhìn con lớn khôn mạnh khỏe
Mẹ đi trọn vẹn nụ cười !

Mẹ ơi!
gắng chờ con nhé
Con đang vượt biển trùng khơi
Sóng lừng * dồi con lên xuống
Vẳng nghe mẹ gọi: con ơi !

Một đời giấu nghèo che khổ
Cho con rạng rỡ – Mẹ tôi
Sao nay đến giờ phút cuối
Giọt đèn đã vút lên trời

Chỉ còn lại tiếng
Con ơi !
Vọng vang đời tôi tiếp bước
Mênh mông biển trời sau trước
Giọt đèn … đã hoá mặt trời !

Bài thơ: NỖI ĐAU CHIẾN TRANH – Tony Bui

NỖI ĐAU CHIẾN TRANH
Thơ: Tony Bui

Thu đã về trời nhỏ lệ mưa ngâu
Nỗi lòng Mẹ dòng châu tuôn lã chã
Nhớ thương Cha tóc điểm màu muối ngả
Quặn thắt lòng mẹ gánh cả thương đau

Nghĩ về Cha, Mẹ lặng lẽ tủi sầu
Đêm suy tư in sâu nhiều kỷ nệm
Bóng hình cha trên vàng tang khấm liệm
Bao tháng năm Mẹ dấu diếm nỗi niềm.

Vẫn còn đây người vợ khóc từng đêm
Nơi nghĩa địa triền miên dòng nước mắt
Niềm hạnh phúc dở dang bờ môi khát
Vượt Trường Sơn chao chát gọi anh về

Đêm khua vắng cô quạnh chốn phòng the
Chị ngóng trông đợi anh về chung gối
Buổi tiễn anh nụ hôn ngọt bờ môi
Nắm chặt tay chẳng rời người yêu dấu.

Đêm từng đêm Mẹ ngóng đợi canh thâu
Gọi tên con nỗi đau trong giấc ngủ
Mẹ kìm nén trái tim luôn chế ngự
Rồi nguyện cầu lần lữa đếm mỗi ngày

Mừng thống nhất đất nước đẹp ban mai
Mẹ tựa cửa thở dài đêm vô vọng
Cất lời ru đu đưa theo cánh võng
Nhớ thương anh Mẹ vẫn ngóng con về

Hạ đã đi vằng lặng buổi trưa hè
Miền nghĩa địa im re mờ khói phủ
Tấm di ảnh khắc ghi màu tang rủ
Mộ Cha, anh nay phủ kín cờ hoa

Ngày hai bẩy, tri ân khắp nước nhà
Khói nhang thơm dâng hoa ơn liệt sỹ
Cha ghi danh tấm bảng vàng cao quý
Anh vinh quang chân lý mãi vang xa

Đẹp muôn đời đất nước Việt Nam ta
Tự hào lắm bài ca người phụ nữ

Warszawa
23/07/2019

Bài thơ: VỀ VỚI MẸ – Trịnh Thanh Hằng

VỀ VỚI MẸ

Trịnh Thanh Hằng

Đồng đội ơi một chiều đông nghiệt ngã
Bỗng chia lìa thuở con chấy cắn đôi
Điếu thuốc kia cháy dở giữa lưng đồi
Hoa sim tím loang một màu đắng ngắt

Đồng đội ơi tiếng súng xưa im bặt
Trận địa nào giờ hoang vắng tịnh liêu
Tiếng gọi ai xé nát cả trời chiều
Nuốt đau xót tìm dấu chân ngày ấy

Đồng đội ơi nằm nơi đâu hãy dậy
Đứng lên nào có đồng chí đến thăm
Ngày ra đi gửí đôi mắt trăng rằm
Cùng làn tóc hương bưởi thơm da diết

Đồng đội ơi bao âm dương cách biệt
Nơi rừng già sâu thẳm chốn hoang vu
Kẽo kẹt nghe tiếng dù võng đưa đò
Cùng trong trẻo nụ cười tươi vừa hé

Đồng đội ơi hãy trở về với mẹ
Lưng còng rồi mắt mờ lắm mình ơi
Nắm xương tan còn lại giữa đất trời
Mẹ đã đợi còng rạp đời bóng chiếc

Đồng đội ơi ngả mũ chào thương tiếc
Đón anh về trong vinh hạnh xót xa
Bóng liêu xiêu mẹ run rẩy vỡ òa
Con của mẹ …giờ mới về …. với mẹ ? !

Bài thơ: LƯNG CÒNG – Phạm Tân Dân

LƯNG CÒNG
Phạm Tân Dân

Mẹ gồng sương giáng trên vai
Nhăn nheo gò má lệ dài khuất sâu
Bây giờ con mẹ ở đâu
Mỏi mòn con mắt gánh sầu đựng đong

Trời mây nhè nhẹ mảnh mong
Nhà nhà cao vút tầng không mây vờn
Ngước nhìn mẹ thoảng nét buôn
Lâu đài biệt thự tay vươn như chào

Con mẹ năm tít đồi cao
Cái tên chưa có làm sao mẹ này
Trên đài liệt sỹ hôm nay
Lần theo bóng mẹ nắng say lưng còng.

Bài thơ: MẸ THỨ - Nguyễn Ruyến 

MẸ THỨ

Nguyễn Ruyến

Chín lần dứt ruột đẻ con ra
Chín đợt tiễn con cứu nước nhà
Chín bận nghe tin con ngã xuống
Chín chiều Mẹ nén giọt châu sa

Anh hùng Danh hiệu mẹ quý trân
Nhưng vẫn quý hơn gấp vạn lần
Nếu mỗi cuộc đời con mẹ sống
Song hành với mẹ những mùa xuân

Bây giờ Mẹ Thứ đã đi xa
Bức tượng ngời dâng nét mặn mà
Dáng Mẹ Âu Cơ hồn Nước Việt
Anh hùng nhân hậu sáng ngàn hoa.

Ninh Bình, 2018
NGUYỄN RUYẾN.

Bài thơ: MẸ LIỆT SĨ – Phan Huy Hùng

MẸ LIỆT SĨ
Thơ Phan Huy Hùng

Khói hương trầm thơm mát
Xoay quanh tấm ảnh con
Tiếng con mẹ quen lắm
Sao gọi mãi không thưa?

Bốn mươi mùa phượng đỏ
Năm đó con lên đường
Trang sách còn bỏ dở
Nét chữ buồn ngẩn ngơ

Mẹ ngóng con từng giờ
Bát đũa chờ đều đặn
Con chỉ nhìn im lặng
Lòng mẹ thêm héo mòn

Dù cỗ ngọc mâm son
Sao bờ môi đắng chát
Nhìn ảnh con trước mặt
Mẹ gọi con chẳng thưa ???

Bài thơ: BÀ TÔI – Đinh Thị Hiển

BÀ TÔI

Thơ: Đinh Thị Hiển

Năm nào vào tháng bẩy
Bà nội tôi buồn nhiều
Bà nhớ người con yêu
Đã xa bà mãi mãi

Cán bộ xã mời bà
Đi dự lễ kỷ niệm
Nét buồn rơi mắt bà

Nếp nhăn chứa giọt lệ

Thế rồi bà kể chuyện
Những kỷ niệm ngày xưa
Của chú tôi ở nhà
Mắt bà lại sáng ra

Thi thoảng bà vẫn kế
Tôi nghe như thuộc lầu
Câu chuyện đã thấm sâu
Vẫn những chuyện giống nhau

Chiến tranh đã qua mau
Đất nước đã mạnh giàu
Nỗi đau vẫn còn đó
Có bao giờ nguôi đâu

Mất mát là như thế
Xong bà luôn tự hào
Mình là mẹ liệt sĩ
Người con xứng anh hào.

Bài thơ: NHỚ CON! – Dương Quốc Nam

NHỚ CON!

Dương Quốc Nam

Hoà bình đã đến con ơi!

Mà sao con chẳng về chơi một lần.

Mẹ ơi! Tổ quốc đang cần,

Đánh cho Mỹ cút, Nhân dân sum vầy,

Con hy sinh để có ngày:

Quốc gia thống nhất, dựng xây nước nhà.

Sao con về được quê ta?

Con nằm đây với hương hoa đủ đầy

Mẹ ơi! con ước thế này:

Quan tham, phá hoại loại ngay Dân cần,

Mọi miền Tổ quốc xa gần,

Đổi thay khởi sắc bởi Dân nước mình.

Con ơi! Cha mẹ gia đình,

Những điều con nhắc thắm tình quê hương.

Con mẹ là một tấm gương,

Thủy chung hiểu nghĩa yêu thương con người.

Nhang thơm mẹ gửi đôi lời,

Chiến tranh mất mát cuộc đời chia xa.

Thương con da diết lệ nhoà,

Mong con an giấc, cả nhà nhớ con.

Nhớ con cha mẹ mỏi mòn,

Ngày ngày trông ngóng đợi con trở về.

Vắng con mẹ nhớ chẳng nề

Chu toàn công việc ở quê ở nhà.

Nhớ con mẹ chẳng kêu ca,

Gắng công xây dựng quê ta rạng ngời.

Bài thơ: ĐÊM RU HỒN LIỆT SĨ – Phan Huy Hùng 

ĐÊM RU HỒN LIỆT SĨ
Phan Huy Hùng

Mẹ Việt Nam ru hồn liệt sĩ
Bình minh đêm
ánh sáng mở đường Võ Thị Sáu
Giặc chạy cùng đường không nơi ẩn náu
Mẹ ru con trong nước mắt khóc cười …

Tuổi đôi mươi bất tử
cờ đỏ sao vàng chói sáng vành môi
Viên đạn tử hình
viên đạn chết
Liệt sĩ
muôn đời
sống mãi
Lời ru !
Mẹ Việt Nam
sinh ra những đứa con
hiền như củ khoai củ sắn
Đôi mắt bẻ cong họng súng
Nụ cười tươi rói niềm tin
Hồn liệt sĩ bay theo hình Tổ Quốc
Kéo cuộc đời về với hạnh phúc ấm no …

Đêm
đọng ngọt lời ru
Mẹ ôm con tròn vòng tay nỗi nhớ
Những đứa con hiếu thảo
Vẫn chăm bón ruộng đồng
Vẫn mở đường dài rộng tương lai!

Đêm
lời ru chôn vùi tháng năm đen tối
thắp sáng ước mơ
Mẹ liệt sĩ không bao giờ cũ xưa

Như đất trời Việt Nam riêng bờ cõi …

Lời ru mẹ liệt sĩ vọng vang
như sóng biển Đông
như núi rừng điệp khúc
Như Võ Thị Sáu hiên ngang trước họng súng
như dáng đứng Việt Nam
Lời ru vọng mãi ngàn năm !

Các mẹ đã dâng hiến những người con yêu quý nhất, là một phần máu thịt của mình, cho Tổ quốc. Hàng ngàn, hàng vạn những bà mẹ đã nén chặt nỗi đau trong lòng để đưa tiễn những người con lên đường giết giặc, cứu nước.

Vì Tiền

Vì Tiền (Tú Xương)

Vì chưng chẳng có, hoá thân hèn,
Hổ với anh em, chúng bạn quen.
Thuở trước chơi bời còn quyến luyến,
Bây giờ đi lại dám mon men!
Giàu sang, âu yếm, tình quen thuộc,
Bần tiện, thờ ơ, dạ bạc đen.
Ví khiến trong tay tiền bạc có
Nói dơi nói chuột, chán người khen.

Tiêu đề có bản chép là “Thói đời”.

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Vì Tiền” của tác giả Trần Tế Xương. Thuộc danh mục Thơ Tú Xương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn!